Monday, January 4, 2016

triều tự đức.


Phương pháp xử án có một không hai của Vua Tự Đức
shared http://anninhthudo.vn/kham-pha/phuong-phap-xu-an-co-mot-khong-hai-cua-vua-tu-duc/592726.antd

HUY HOÀNG

EmailPrint
ANTĐ - Vua Tự Đức là vị vua nổi tiếng về vốn kiến thức văn hóa lẫn kinh tế. Ông cũng là người trực tiếp xử nhiều vụ án. Những phương pháp xử của ông độc đáo khiến nhiều người ngỡ ngàng. Kẻ phạm tội cũng tâm phục khẩu phục nhưng nhiều quan lớn trong triều đình cũng mang lòng ấm ức. Dù còn nhiều những thị phi, xong không thể phủ nhận ông đã đóng góp một phần công sức không nhỏ cho một giai đoạn nhất định của lịch sử triều đại phong kiến Việt Nam.
    Vua Tự Đức (ngồi) trong một phiên xử quan đại thần

    Cảm hóa bằng thơ không được thì quyết liệt xử nghiêm
    Vua Tự Đức có thời gian trị vì từ năm 1847 đến 1883. Trong quãng thời gian đó, có không ít biến cố lịch sử cũng như những dấu mốc đáng ghi tạc đã xảy ra. Triều đại của ông đánh dấu nhiều biến đổi với vận mệnh Đại Nam. Trong tài liệu chính sử về thời kỳ triều đại vua Tự Đức có đoạn chép lại dòng tâm sự của vua Tự Đức rằng: “Bao nhiêu trận chiến, bao nhiêu kế sách, bao buổi thiết triều đều có thể nhẹ nhàng qua đi nhưng nỗi niềm làm ta phải trằn trọc nhiều đêm không yên giấc đó là vụ án Hồng Bảo. Đường đường là vua một nước mà có lúc cũng phải yếu mềm trước một tội đồ, khi không muốn sự bất an để lại trong lòng muôn dân”. Sau khi xử xong vụ án Hồng Bảo này, từ nỗi niềm đó, vua Tự Đức còn trút ra nhiều câu thơ đầy tính thế sự.

     Nguyễn Hồng Bảo (còn có sách chép là Nguyễn Phước Hồng Bảo) là con trai trưởng của vua Thiệu Trị và quý phi Đinh Thị Hạnh. Nguyễn Phúc Hồng Nhậm-tức vua Tự Đức là con thứ hai. Theo lệ thường thì Hồng Bảo sẽ được lập ngôi thái tử và nối dõi ngai vàng. Nhưng từ nhỏ, Hồng Bảo chỉ thích ham chơi, không tu rèn kinh sử. Trong khi đó người em trai của mình là Hồng Nhậm lại cần mẫn và có trí mưu cầu việc lớn. Thế nên trước khi băng hà, vua Thiệu Trị âm thầm lập di chúc truyền ngôi báu cho Hồng Nhậm. Quá bất mãn trước bản di chúc của vua cha, Hồng Bảo đã lập mưu đồ lật đổ em trai của mình là vua Tự Đức. Sau khi lôi kéo nhiều bè phái, Hồng Bảo âm mưu sang phương Tây để cầu cứu thêm sự trợ giúp.

    Điều tra chính xác điều này, vua Tự Đức đã “xử” Hồng Bảo bằng cách dùng 106 câu thơ nói về tính nhân nghĩa của vua-tôi, của tình máu mủ để cảm hóa. 3 tên phản nghịch theo Hồng Bảo khi ấy là Trần Phúc, Lê Trùng, Nguyễn Lực cũng được vua Tự Đức cảm hóa bằng lòng nhân từ. Suốt buổi xử tội, ông đều dùng ngôn ngữ để khuyên răn. Không những thế, vua Tự Đức còn ban cho những người mắc sai lầm này vàng bạc châu báu để cuộc sống ổn định và quay lại phục vụ triều đình.

    Đã được ân chuẩn, tha cho tội phản nghịch và ban cho bổng lộc nhưng vài năm sau đó, Hồng Bảo lại tiếp tục cũng các bè phái của mình lật đổ vua Tự Đức. Tiếp tục dùng thơ để cảm hóa. Nhưng xét thấy, khó có thể cải tà quy chính được những phần tử này nên vua Tự Đức đã quyết định tru di tam tộc với các đại thần phản nghịch lần thứ hai. Riêng với Hồng Bảo thì không cho mang họ Nguyễn nữa, xem như không còn dòng dõi. Sau đó ông cho xây riêng một ngục thất để nhốt Hồng Bảo suốt đời. Về cách xử vụ án này, trong sách Đại nam thập lục có ghi: Các quan trong triều đều muốn xử chém ngay nhưng vua Tự Đức vẫn dùng thơ để cảm hóa trước, không được mới quyết liệt xử sau. Đó là vào năm Giáp Dần 1854. Hồng Bảo không sửa chữa mà còn mưu phản nghịch. Khi bị giam vào ngục đã thắt cổ tự vẫn. Còn trai, con gái của Hồng Bảo đều bị tước hết bổng lộc, chức tước. Những kẻ dự mưu cùng Hồng Bảo như Tôn Thất Bật, Đào Trí Phú… không hối cải, vua đã cho ngồi đối thoại để nhận ra lỗi lầm nhưng vẫn lao vào bụi tối nên bị lăng trì xử tử, tịch thu mọi gia sản, nô tì…”

    Tiếp tục sau đó, Tôn Hải là một võ tướng cũng phạm tội phản nghịch. Nhưng không như các ông vua khác mang ra chém ngay mà vua Tự Đức gọi Tôn Hải đến dùng cơm cùng nhà vua sau đó bắt Tôn Hải phân tích rõ lí do phạm tội rồi mới xử. Trong các vụ xử này, có lẽ với Hồng Bảo là vua Tự Đức nhói buốt tâm can nhất vì đó chính là anh em ruột của mình. Trong lúc cho an táng Hồng Bảo ông có ngâm hai câu thơ rằng: Ngọt bùi sao chẳng cùng san sẻ/ Mà nỡ đau thương cốt nhục này… Sau này hậu thế và nhiều người chép sử cũng đánh giá rất sâu sắc và ấn tượng về cách xử án thấu tình này của vua Tự Đức.

    Lăng Tự Đức tráng lệ như một công viên

    Không phân biệt hèn-sang khi định tội
    Nhiều dấu ấn của vua Tự Đức để lại trong việc xử án nữa là tuyệt đối không phân biệt sang-hèn khi luận tội. Một trong những vụ án nổi tiếng là “Dân phá cửa quan”. Cậy là quan to trong triều, Nguyễn Lương Thành ra sức ức hiếp dân và còn phá nhiều hoa viên của các thương gia ven kinh thành. Kiện mãi không được, những người dân này bèn dùng đến kế phá lại nhà quan. Khi Nguyễn Lương Thành tính cấp tốc mang quân đến để trừng trị các vị dân sơ, vua Tự Đức biết chuyện đã hạ chỉ cho Bộ hình xử lí cho hai bên hòa nhau và ra cáo thị, không được quấy nhiễu lẫn nhau nữa.

    Một vụ án khác nữa là vụ “Chó cắn hạc vua”. Trong tiệc sinh nhật của mình, vua Tự Đức được hoàng đế nhà Thanh (Trung Quốc) tặng cho một con hạc quý, biết nghe mọi lời nói của người nuôi. Nhà vua rất thích và còn phong tước “Hạc hoàng tử”. Một ngày, hạc quý đi lạc khỏi cung cấm bị chó nhà dân cắn chết. Ban đầu nghe sàm tấu của các quan rằng; phải xử chết người chủ nuôi chó. Quan nhị phẩm Phạm Đan Quế vốn là người chính trực khi biết chuyện oái oăm đã cản lại và dâng lên vua Tự Đức một bản tấu rằng; Hạc chăng biết nói/ Chó không biết chữ thánh hiền/ Hạc vào nhà dân/ Chó ở chung với chủ/ Nên ắt phải canh nhà cho chủ/ Chim, thú đánh nhau/ Tối sáng không rõ/ Chó cắn chết hạc/ Sao tội lại quy cho chủ/ Nếu hạc mổ chết chó/ Tội xử làm sao/ Sang - hèn cũng cần thấu lí… Nghe xong bản tấu, như thấy lòng mình sáng ra, lập tức vua không xử tội gia đình người chủ có chó cắn chết hạc quý nữa.
    Năm 1871, trong cuộc chiến chống lại quân Pháp xâm lăng bờ cõi, nhiều hoàng thân được cử ra trận thất bại đều được vua Tự Đức luận tội và xử một cách công minh. Quan án sát Ninh Bình là Phạm Đăng Tuấn cũng liên tục thất trận. Có 21 bản sớ tâu lên vua hãy chém đầu Phạm Đăng Tuấn. Trước sức ép của các quan quân, vua Tự Đức vẫn cho lệnh triệu Phạm Đăng Tuấn về cung. Khi về đến cung Phạm Đăng Tuấn dẫn thêm đứa con gái của mình. Đứa con gái này một mực xin tha cho cha. Để làm yên lòng các quan đại thần khác, vua Tự Đức đã mở cuộc xử tội công khai. Nhưng ông lại thiên về phân tích thế trận của kẻ địch mạnh hơn, Phạm Đặng Tuấn từng có nhiều công trạng. Cuối cùng ông quyết định tha tội chết và đày Phạm Đăng Tuấn lên biên ải phía Bắc.

    Điều đặc biệt nữa là trong nhiều vụ xử án của mình, chính những bản tấu can dán kịp thời và chí lí của các viên quan được vua Tự Đức xem đó là một tiêu chí để đánh giá nhân tài. Trong vụ án “hải tặc” nhiều tên phản nghịch câu kết với kẻ gian ngoài nước phá vùng Quảng Nam-Quảng Ngãi. Quan quân triều đình, ai cũng hèn nhát không muốn bày tỏ kế sách để quân sư cho vua. Lúc này, viên quan Trần Duy Nhượng đã dâng lên một bản tấu dài gần một vạn chữ khuyên nhà vua nên xử mềm mỏng để giữ lấy tình hòa hảo bang giao. Thấy có lí, vua liền ban cho Trần Duy Nhượng được thăng chức. Trong bản chiếu của mình, vua Tự Đức nói: “Ta nghĩ rằng: Chọn người phục vụ chính quyền, hãy tra sổ sách chép công cán. Cân nhắc tài năng̣ để đặt vào địa vị, nên xét cái năng lực xử việc. Xét ngươi Trần Hưng Nhượng: Văn học xem đủ; Tài khí đáng dùng; Vốn có mưu cơ, biết làm, biết giữ, thuật quyền chính nắm đà thật hợp. Thêm nết thanh liêm, cẩn thận, chăm chỉ, kẻ làm quan gương đáng nên soi. Làm việc mẫn cán, bao nhiêu công lao tích đọng. Thẻ bài xứng đáng giơ cao chốn sân đình. Vậy cho đặc thụ chức Phụng nghị đại phu Hộ bộ thưởng lộc Thanh lại ty, Viên ngoại lang”.

    shared https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_tri%E1%BB%81u_khoa_b%E1%BA%A3ng_l%E1%BB%A5c#Th.E1.BB.9Di_T.E1.BB.B1_.C4.90.E1.BB.A9c

    Thời Tự Đức[sửa | sửa mã nguồn]



    Mậu Thân - 1848Kỷ Dậu - 1849Tân Hợi - 1851Chế Khoa - 1851Quý Sửu - 1853Bính Thìn - 1856
    II
    1. Nguyễn Khắc Cần
    2. Bùi Thức Kiên
    III
    1. Nguyễn Đăng Hành
    2. Nguyễn Hinh
    3. Đặng Trần Chuyên
    4. Đỗ Thúc Tĩnh
    5. Lê Hữu Lệ
    6. Vũ Xuân Xán
    PB
    1. Lê Bá Thận
    2. Nguyễn Đức Tân
    3. Trần Nguyên Hy
    4. Trần Ngọc Diêu
    5. Lê Đình Thức
    6. Bùi Sĩ Tuyến
    7. Hồ Sĩ Đình
    8. Đặng Ngọc Cầu
    9. Đoàn Văn Bình
    10. Đặng Kim Toàn
    11. Lê Huy Thái
    12. Đinh Gia Hội
    13. Lê Văn Vịnh
    14. Phạm Quý Đức
    II
    1. Đỗ Duy Đệ
    2. Lê Đình Diên
    III
    1. Trần Huy Côn
    2. Nguyễn Thái Đễ
    3. Phan Sĩ Thục
    4. Phạm Quang Mãn
    5. Nguyễn Thành Doãn
    6. Hoàng Đình Chuyên
    7. Ngô Tùng Nho
    8. Phạm Văn Khuê
    9. Nguyễn Phùng Dực
    10. Chu Duy Tân
    PB
    1. Nguyễn Văn Hội
    2. Lê Đức Hợp
    3. Đỗ Khải
    4. Trịnh Huy Quỳnh
    5. Phạm Tuyển
    6. Nguyễn Ngạn
    7. Ngô Quang Diệu
    8. Vũ Đăng Xuân
    9. Lê Đức Nhuận
    10. Đặng Đức Địch
    11. Bùi Thố
    I Bảng nhãn
    1. Phạm Thanh
    2. Hoàng Xuân Hợp
    II
    1. Lê Hữu Thanh
    III
    1. Nguyễn Nguyên Thành
    2. Thân Trọng Tiết
    3. Nguyễn Thế Trâm
    4. Nguyễn Quốc Thành
    5. Hoàng Văn Tuyển
    6. Phạm Nhật Tân[8]
    7. Trần Văn Huệ (Trần Văn Hệ)[9]
    PB
    1. Lê Đình Đao
    2. Lê Đức Vĩnh
    3. Vũ Tử Văn
    4. Nguyễn Trung Thành
    5. Phạm Thanh Nhã
    6. Nguyễn Đình Tuân
    7. Nguyễn Thái
    8. Phan Đình Thực
    9. Vũ Duy Thanh
    10. Đào Thế Trinh
    I Bảng nhãn
    1. Vũ Duy Thanh
    I Thám hoa
    1. Vũ Huy Dực
    II Hoàng giáp
    1. Phạm Huy
    2. Nguyễn Thái
    III
    1. Nguyễn Bá Đôn
    2. Trần Hữu Dực
    3. Trần Huy Tích
    I Thám hoa
    1. Nguyễn Đức Đạt
    2. Nguyễn Văn Giao
    II
    1. Lê Tuấn
    III
    1. Đặng Văn Bảng
    2. Nguyễn Hữu Điển
    3. Mai Thế Quý
    4. Nguyễn Trung Ái
    PB
    1. Vũ Khắc Bí
    2. Phạm Đình Trác
    3. Hoàng Kim Tích
    4. Lưu Văn Bình
    5. Trần Ký
    6. Trần Doãn Thanh
    I Thám hoa
    1. Ngụy Khắc Đản
    III
    1. Đặng Xuân Bảng
    2. Trần Huy San
    3. Ngô Văn Độ
    4. Phan Hiển Đạo
    5. Phan Đình Bình
    PB
    1. Trần Thế Mỹ
    Nhâm Tuất - 1862Ất Sửu - 1865Nhã Sĩ - 1865Mậu Thìn - 1868Kỷ Tỵ - 1869
    II
    1. Nguyễn Hữu Lập
    2. Lê Khắc Cẩn
    III
    1. Trần Văn Chuẩn[10]
    2. Nguyễn Chánh
    3. Kiều Lâm
    4. Vũ Huy Huyến
    PB
    1. Phạm Xuân Trạch
    2. Nguyễn Duy Tân
    3. Trần Doãn Đạt
    4. Phạm Hy Lượng
    5. Hoàng Hữu Tài
    II
    1. Trần Bích San
    III
    1. Nguyễn Tuyên
    2. Hoàng Tướng Hiệp
    PB
    1. Thành Ngọc Uẩn
    2. Lã Xuân Uy
    3. Dương Danh Lập
    4. Trần Vĩ
    5. Phạm Đăng Giảng
    6. Nguyễn Đức Kỳ
    7. Bùi văn Quế
    8. Vũ Trù
    9. Bùi Văn Dị
    10. Hà Văn Quan
    11. Trần Văn Hoán
    12. Nguyễn Tích
    13. Lê Lượng
    I Thám hoa
    1. Đặng Văn Kiều
    2. Đoàn Đình Niêu
    II
    1. Nguyễn Phiên
    2. Nguyễn văn Trang
    3. Phạm Huy Đôn
    4. Ngô Đức Bình
    II
    1. Vũ Nhự
    III
    1. Bùi Ước
    2. Dương Khuê
    3. Nguyễn Tái
    PB
    1. Vũ Duy Tân
    2. Nguyễn Hoan
    3. Nguyễn Thuật
    4. Vũ Văn Báo
    5. Khuất Duy Tài
    6. Hoàng Dụng Tân
    7. Tô Huân
    8. Phan Đình Vận
    9. Lê Khánh Thiện
    10. Lê Doãn Thành
    11. Lâm Chuẩn
    12. Nguyễn Đình Tựu
    II
    1. Nguyễn Quang Bích
    III
    1. Nguyễn Văn Ái
    2. Nguyễn Sĩ Phẩm
    3. Hoàng Văn Đoài
    4. Lê Đại
    PB
    1. Trần Đức Lập
    2. Đặng Huy Xuân
    3. Nguyễn Văn Vỉ
    4. Vũ Duy Vĩ
    Tân Mùi - 1871Ất Hợi - 1875Đinh Sửu - 1877Kỷ Mão - 1879Canh Thìn - 1880
    II
    1. Nguyễn Khuyến
    III
    1. Nguyễn Kham
    2. Nguyễn Xuân Ôn
    PB
    1. Trần Khánh Tiến
    2. Nguyễn Xuân
    3. Nguyễn Đức
    4. Lê Doãn Nhã
    5. Trần Viết Thọ
    II
    1. Phạm Như Xương
    2. Nguyễn Hữu Chính (Chánh)
    III
    1. Đinh Nho Điển
    2. Đinh Văn Chất
    3. Phan Du
    4. Hoàng Hữu Thường
    5. Tống Duy Tân
    6. Lê Thụy
    7. Vũ Hữu Lợi
    8. Trần Văn Dữ
    9. Cao Đảng Đệ
    PB
    1. Lê Đăng Trinh
    2. Hồ Bá Ôn
    3. Đỗ Thiện Kế
    4. Phạm Xuân
    5. Đỗ Huy Điển
    6. Tạ Thúc Đĩnh
    III
    1. Phan Đình Phùng
    2. Trần Hữu Khác
    3. Trần Phát
    4. Nguyễn Tài Tuyển
    PB
    1. Nguyễn Quang
    2. Phạm Văn Hành
    3. Hoàng Côn
    II
    1. Đỗ Huy Liêu
    III
    1. Phan Trọng Mưu
    2. Vũ Tuấn
    3. Nguyễn Dự
    4. Phan Huy Nhuận
    5. Trần Đình Phong
    PB
    1. Ngô Trạch
    2. Trần Huy Liễn
    3. Trần Xuân Sắc
    4. Tôn Thất Thiểm
    5. Nguyễn Lê Kháng
    6. Nguyễn Đôn Tiết
    7. Cao Huy Tân
    8. Nguyễn Duy Hiệu
    II
    1. Nguyễn Đình Dương
    III
    1. Đỗ Văn Ái
    2. Khiếu Năng Tĩnh
    3. Nguyễn Văn Trung
    4. Hoàng Văn Hòe
    PB
    1. Phan Văn Ái
    2. Nguyễn Thái Tuân
    3. Kiều Dực
    4. Trần Kỷ
    5. Phạm Hữu Dụng
    shared https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_tri%E1%BB%81u_khoa_b%E1%BA%A3ng_l%E1%BB%A5c#Th.E1.BB.9Di_T.E1.BB.B1_.C4.90.E1.BB.A9c


    thiền viện trúc lâm tây thiên

    gia đình phật tử (hòai nhơn - bồng sơn) ông Phan No.


    BAN HƯỚNG DẨN GIA ĐÌNH PHẬT TỬ TỈNH BÌNH ĐỊNH
    QUA CÁC THỜI KỲ THÀNH LẬP
    I/ THỜI KỲ SƠ KHAI: 1942 – 1954
    - Thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục và Đoàn Đồng Ấu Phật Tử. Do Cụ Nguyễn Xuân Thịnh và Giáo Sư Ngô Thừa hướng dẫn.
    II/ THỜI KỲ HÌNH THÀNH: 1955 – 1956
    - Ngày 04/07/1955 Anh Nguyễn Tắc và Chị Nguyễn Thị Khánh Tuấn thành lập Gia Đình Phật Tử Quy Sơn sau đó đổi tên thành Gia Đình Phật Tử Lâm Tỳ Ni (1956) và bộ đồng phục MÀU LAM chính thức xuất hiện trên đất Quy Nhơn. Thành phần Ban Huynh Trưởng gồm có:
    Liên Đoàn Trưởng: NGUYỄN TẮC
    Liên Đoàn Phó Nam: LÊ HỒNG TUẤN
    Liên Đoàn Phó Nữ: DƯƠNG THỊ XUÂN HÒA
    Thư Ký Gia Đình: Nguyên Tín BÙI VIẾT BẢO
    Thủ Quỹ Gia Đình: VÕ THỊ NGỌC LOAN
    Đoàn Trưởng Thiếu Nam: TRẦN VĂN ĐOÀN
    Đoàn Trưởng Thiếu Nữ: TRẦN THỊ PHƯỢNG
    Đoàn Trưởng Thanh Nam: BÙI VIẾT BẢO (Kiêm)
    Đoàn Trưởng Thanh Nữ: PHAN THỊ MỘNG LÝ
    - Năm 1956 tại Bồng Sơn có GĐPT Bồng Sơn do Anh Huỳnh Ngọc Trân làm Liên Đoàn Trưởng. Sau đó các Huyện lần lượt ra mắt như GĐPT Huyện Tây Sơn do Anh Huỳnh Ngọc Trinh làm Liên Đoàn Trưởng, GĐPT Mỹ Quang Huyện Phù Mỹ do Anh Nguyễn Văn Minh làm Liên Đoàn Trưởng, GĐPT Đập Đá Huyện An Nhơn do Anh Nguyễn Đình Lang làm Liên Đoàn Trưởng, GĐPT Cát Trinh Huyện Phù Cát do Anh Phùng Văn Sơn làm Liên Đoàn Trưởng…
    III/ THỜI KỲ PHÁT TRIỂN: Tháng 06/1957 – 2012
    • Ban Hướng Dẫn nhiệm kỳ đầu tiên: 06/1957 – 1959
    o Trưởng Ban: NGUYỄN ĐỨC GIANG
    o Phó Trưởng Ban Nam: TRẦN HIỀN NHƠN
    o Phó Trưởng Ban Nữ: NGUYỄN THỊ NGỌC BÌNH
    o Thư Ký: NGUYỄN VĂN TẠI
    o Thủ Quỹ: VÕ THỊ HƯƠNG BÌNH
    • Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ II : 1959 – 1960
    o Trưởng Ban: NGUYỄN QUANG BÍCH
    o Phó Trưởng Ban Nam: TRẦN HỮU SANG
    o Phó Trưởng Ban Nữ: LÊ THỊ MINH CHÂU
    o Thư Ký: NGUYỄN CÔNG MINH
    • Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ III : 1960 – 1961
    o Trưởng Ban: NGUYỄN QUANG BÍCH
    o Phó Trưởng Ban Nam: NGUYỄN CÔNG MINH
    o Phó Trưởng Ban Nữ: LÊ THỊ MINH CHÂU
    o Thư Ký: NGUYỄN ĐĂNG TAO
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ IV : 1962 – 1963
    o Trưởng Ban: NGUYỄN CÔNG MINH
    o Trưởng Ban Nam: NGUYỄN QUANG BÍCH
    o Phó Trưởng Ban Nữ: NGUYỄN THỊ MỘNG AN
    o Thư Ký: NGUYỄN ĐĂNG TAO
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ V: 1964 – 1966(Họp ngày 16/07/1964 tại Nguyên Thiều)
    o Trưởng Ban: NGUYỄN VĂN CHÂU
    o Phó Trưởng Ban Nam: NGUYỄN ĐĂNG TAO
    o Phó Trưởng Ban Nữ: NGUYỄN THỊ THANH PHÚ
    o Thư Ký: NGUYỄN VĂN XỨNG
    o Phó Thư Ký: HÀ THÚC HOAN
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ VI: 1967 – 1969 (Họp ngày 23/03/1967)
    o Trưởng Ban: NGUYỄN VĂN CHÂU
    o Phó Trưởng Ban Nam: NGUYỄN CÔNG MINH
    o Phó Trưởng Ban Nữ: HÀ THỊ THANH PHƯỢNG
    o Thư Ký: BÙI VIẾT BẢO
    o Thủ Quỹ: ĐẶNG KIM QUY
    o Ủy Viên Nội Vụ: LÊ QUANG DẬT
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ VI: 1969 – 1971
    o Trưởng Ban: NGUYỄN CÔNG MINH
    o Phó Trưởng Ban Nam: NGUYỄN VĂN CHÂU
    o Phó Trưởng Ban Nữ: VƯƠNG THÚY NGA
    o Tổng Thư Ký: TRƯƠNG ĐĂNG TRUNG
    o Phó Tổng Thư Ký: NGUYỄN VĂN MUÔN
    o Thủ Quỹ: TRẦN TƯ TÍN
    o Ủy Viên Nội Vụ: LÊ QUANG DẬT
    o Ủy Viên Tổ Kiểm: LÊ VĂN THI
    o Ủy Viên Thiếu Nữ: HUỲNH THỊ LỆ CHI
    o Ủy Viên Thiếu Nam: Thiền Phong NGUYỄN ĐỨC MẸO
    o Ủy Viên Nghiên Huấn: Nguyên Tín BÙI VIẾT BẢO
    o UV Thanh Niên Xã Hội: NGUYỄN QUANG BÍCH
    o Ủy Viên Tu Thư: NGÔ THẢO
    o Ủy Viên Oanh Vũ Nam: TRẦN LỢI
    o Ủy Viên Oanh Vũ Nữ: Đồng Ngọc NGUYỄN THỊ EM
    o Ủy Viên Nam Phật Tử: NGUYỄN VĂN CHÂU (kiêm)
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ VII: 1971 – 1973
    o Trưởng Ban: NGUYỄN VĂN CHÂU
    o Phó Trưởng Ban Nam: NGUYỄN CÔNG MINH
    o Phó Trưởng Ban Nữ: VƯƠNG THÚY NGA
    o Tổng Thư Ký: TRẦN TƯ TÍN
    o Phó Tổng Thư Ký: PHẠM VĂN NĂM
    o Thủ Quỹ: TRẦN THỊ LIÊN
    o Ủy Viên Nội Vụ: BÙI VIẾT BẢO
    o Ủy Viên Tổ Kiểm: LÊ VĂN THI
    o Ủy Viên Thiếu Nữ: HUỲNH THỊ LỆ CHI
    o Ủy Viên Thiếu Nam: Tâm Thọ TRẦN VIẾT MƯỜI
    o Ủy Viên Nghiên Huấn: Nguyên Hòa HUỲNH ĐÌNH PHƯƠNG
    o UV Thanh Niên Xã Hội: LÊ QUANG DẬT
    o Ủy Viên Tu Thư: NGÔ THẢO
    o Ủy Viên Oanh Vũ Nam: Như Vinh NGUYỄN VĂN XỨNG
    o Ủy Viên Oanh Vũ Nữ: Đồng Ngọc NGUYỄN THỊ EM
    o Ủy Viên Nam Phật Tử: NGUYỄN BÁ
    o Ủy Viên Văn Nghệ: HÀ VĂN HƯNG
    o Phụ Tá Thiếu Nam: NGUYỄN VĂN TẤN – LÊ DŨNG TÝ
    o Phụ Tá Oanh Vũ Nam: Như Thông PHAN DUY THANH
    o Phụ Tá Tổ Kiểm: Thị Định PHẠM VĂN ĐỆ
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ VIII: 1973 – 1975
    o Trưởng Ban: NGUYỄN VĂN THI
    o Phó Trưởng Ban Nam: TRẦN TƯ TÍN
    o Phó Trưởng Ban Nữ: VƯƠNG THÚY NGA
    o Tổng Thư Ký: NGUYỄN ĐỨC KẾ
    o Phó Tổng Thư Ký: TRẦN BÁ TUYỂN
    o Thủ Quỹ: ĐẶNG THỊ KIM QUY
    o Ủy Viên Nội Vụ: LÊ QUANG DẬT
    o Ủy Viên Tổ Kiểm: PHẠM VĂN ĐỆ
    o Ủy Viên Thiếu Nữ: VƯƠNG THÚY NGA (KIÊM)
    o Ủy Viên Thiếu Nam: NGUYỄN ĐỨC MẸO
    o Ủy Viên Nghiên Huấn: BÙI VIẾT BẢO
    o UV Thanh Niên Xã Hội: LÊ QUANG DẬT
    o Ủy Viên Tu Thư: TÂM THỌ TRẦN VIẾT MƯỜI
    o Ủy Viên Oanh Vũ Nam: PHAN SỰ
    o Ủy Viên Oanh Vũ Nữ: HUỲNH THỊ LỆ CHI
    o Ủy Viên Nam Phật Tử: NGUYỄN BÁ
    o Ủy Viên Văn Nghệ: NGUYỄN VĂN XỨNG
    o Ủy Viên Doanh Tế: NGUYỄN ĐĂNG TAO
    IV/ THỜI KỲ SAU NĂM 1975:
    Mùa Xuân năm 1975 Tổ quốc được thống nhất. Tất cả mọi công dân lo hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định kinh tế xây dựng đất nước.Phong trào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử tạm ngưng. Đến năm 1980 đời sống kinh tế tương đối ổn định, các Huynh Trưởng và Đoàn sinh lần lượt đến Chùa lễ Phật vào các ngày Vía, mùng 1, rằm…Sự sinh hoạt tu học nhờ vào các Thầy Trú trì ở trong Chùa,Tự Viện tại địa phương che chở, giáo dục…nhưng chưa đi vào nề nếp có hệ thống quy cũ. Cho đến năm 1990, Giáo hội Phật giáo Bình Định mời các Huynh trưởng Cấp Tín hình thành Ban Hướng Dẩn GĐPT Bình Định để làm gạch nối giữa Giáo Hội và các đơn vị GĐPT cơ sở .
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ Lâm thời: 1990 – 1993
    o Trưởng Ban: PHẠM VĂN ĐỆ
    o Phó Trưởng Ban Nam: BÙI VIẾT BẢO
    o Phó Trưởng Ban Nữ: TRẦN THỊ LIÊN
    o Tổng Thư Ký: PHẠM VĂN BÌNH
    o Phó Tổng Thư Ký: Quảng Phụng ĐOÀN NGỌC LONG
    o Thủ Quỹ: HUỲNH THỊ LỆ CHI
    o Ủy Viên Nội Vụ: TRẦN BÁ TUYỂN
    o Ủy Viên Tổ Kiểm: PHẠM VĂN NĂM
    o Ủy Viên Văn Nghệ: NGUYỄN VĂN XỨNG
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ I: 1993 – 1997
    o Trưởng Ban: PHẠM VĂN ĐỆ (từ trần ngày 12/08/1995)
    o Phó Trưởng Ban Nam: BÙI VIẾT BẢO
    o Phó Trưởng Ban Nữ: TRẦN THỊ LIÊN
    o Tổng Thư Ký: PHẠM VĂN BÌNH
    o Phó Tổng Thư Ký: Quảng Phụng ĐOÀN NGỌC LONG
    o Thủ Quỹ: HUỲNH THỊ LỆ CHI
    o Ủy Viên Nội Vụ: NGUYỄN ĐÀO LONG
    o Ủy Viên Tổ Kiểm: NGUYỄN VĂN MINH
    o Ủy Viên Văn Nghệ: NGUYỄN VĂN XỨNG
    o Ủy viên Tu Thư: PHẠM VĂN NĂM
    o Ủy viên Thiếu Nam: NGUYỄN ĐỨC MẸO
    o Ủy viên Thiếu Nữ: TRẦN THỊ LIỄU
    o Ủy viên Oanh Vũ Nam: HỒ DỐC
    o Ủy viên Oanh Vũ Nữ: ĐỖ HUỲNH HAI
    o UV Thanh Niên Xã Hội: NGUYỄN HOÀN
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ II: 1998 – 2002
    o Trưởng Ban: BÙI VIẾT BẢO
    o Phó Trưởng Ban Nam: NGUYỄN ĐÀO LONG
    o Phó Trưởng Ban Nữ: TRẦN THỊ LIÊN
    o Tổng Thư Ký: Quảng Phụng ĐOÀN NGỌC LONG
    o Phó Tổng Thư Ký: NGUYỄN VĂN ĐỆ
    o Thủ Quỹ: HUỲNH THỊ LỆ CHI
    o Ủy Viên Nội Vụ: NGUYỄN ĐÀO LONG (KIÊM)
    o Ủy Viên Tổ Kiểm: PHẠM VĂN NĂM
    o Ủy viên Nghiên Huấn: NGUYỄN TÙNG
    o Ủy Viên Văn Nghệ: NGUYỄN VĂN XỨNG
    o Ủy viên Tu Thư: NGUYỄN TRỌNG
    o Ủy viên Thiếu Nam: NGUYỄN ĐỨC MẸO
    o Ủy viên Thiếu Nữ: TRẦN THỊ LIỄU
    o Ủy viên Oanh Vũ Nam: HỒ DỐC
    o Ủy viên Oanh Vũ Nữ: ĐỖ HUỲNH HAI
    o UV Thanh Niên Xã Hội: NGUYỄN HOÀN
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ III: 2002 – 2007 (QĐ số 74 Ngày 20/10/2004)
    o Trưởng Ban: NGUYỄN ĐÀO LONG
    o Phó Trưởng Ban Nam: NGUYỄN VĂN XỨNG
    o Phó Trưởng Ban Nữ: TRẦN THỊ LIÊN
    o Chánh Thư Ký: NGUYỄN VĂN ĐỆ
    o Phó Thư Ký: NGUYỄN TÙNG
    o Thủ Quỹ: HUỲNH THỊ LỆ CHI
    o Ủy Viên Nội Vụ: TRẦN BÁ TUYỂN
    o Ủy Viên Tổ Kiểm: PHAN VĂN MƯU
    o Ủy viên Nghiên Huấn: NGUYỄN TRỌNG
    o Ủy Viên Văn Nghệ: NGUYỄN VĂN XỨNG (kiêm)
    o Ủy viên Tu Thư: HUỲNH ĐÌNH PHƯƠNG
    o Ủy viên Thiếu Nam: VÕ ĐÌNH DUNG
    o Ủy viên Thiếu Nữ: TRẦN THỊ LIỄU
    o Ủy viên Oanh Vũ Nữ: NGUYỄN THỊ THƯƠNG
    o Ủy viên Oanh Vũ Nam: PHÙNG VĂN NAM
    o Ủy viên Nan Phật Tử: NGUYỄN VĂN HƯNG
    o UV Hoạt Động Thanh Niên: NGUYỄN VĂN HOAN
    Ban Hướng Dẫn Nhiệm kỳ IV: 2007 – 2012 (QĐ số 05 ngày 17/01/2008)
    o Trưởng Ban: NGUYỄN ĐÀO LONG
    o Phó Trưởng Ban Nam: NGUYỄN VĂN XỨNG
    o Phó Trưởng Ban Thường trực: NGUYỄN VĂN ĐỆ
    o Phó Trưởng Ban Nữ: TRẦN THỊ LIÊN
    o Chánh Thư Ký: TRẦN CAN
    o Phó Thư Ký: HUỲNH ĐÌNH PHƯƠNG (KIÊM)
    o Thủ Quỹ: HOÀNG THỊ THU THƯƠNG
    o Ủy Viên Nội Vụ: NGUYỄN TÙNG
    o Ủy Viên Tổ Kiểm: PHAN VĂN MƯU + TRẦN BÊ
    o Ủy viên Nghiên Huấn: NGUYỄN TRỌNG
    o Ủy viên Tu Thư: HUỲNH ĐÌNH PHƯƠNG
    o Ủy viên Thiếu Nam: VÕ ĐÌNH DUNG
    o Ủy viên Thiếu Nữ: TRẦN THỊ LIỄU
    o Ủy viên Oanh Vũ Nữ: ĐỖ HUỲNH HAI
    o Ủy viên Oanh Vũ Nam: PHÙNG VĂN NAM
    o Ủy viên Nam Phật tử: PHẠM TẤN LỘC
    o UV Hoạt Động Xã Hội: LÊ DŨNG TÝ
    o Ủy viên Doanh Tế: TÀO QUẾ SINH
    Ban Hướng Dẩn nhiệm kỳ IV (2007-2012) hoạt động đến giữa năm 2008 phải tạm ngưng vì nội bộ BHD-GĐPT Bình Định mất đoàn kết, thiếu thống nhất ý chí…Ban Thường Trực Giáo hội Phật giáo Bình Định tổ chức nhiều cuộc họp hòa giải không thành. Cuối cùng chỉ định Hòa thượng Trưởng Ban Hướng Dẩn Phật Tử tạm thời kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Phân Ban GĐPT Bình Định. Kể từ đây GĐPT Bình Định chia hai hướng đi. Trong khi chờ công cử nhiệm kỳ mới 2012-2017, Hòa thượng Trưởng Ban chỉ định các anh chị có tên sau đây được bổ sung vào BHD Phân Ban GĐPT Bình Định (ngoài các anh chị đã có tên trong QĐ số 05 ngày 17/01/2008):
    - Nguyên Thọ TRẦN VĂN NHƠN - Như Trang TRẦN BÁ NHÃ
    - Quảng Thiên TRẦN HỮU THUẬN - Nguyên Bình TRẦN VĂN HÙNG
    -Quảng Bạn NGUYỄN THỊ THƯƠNG - Nguyên Nguyện NGUYỄN T.HG HẠNH
    - Nguyên Diệp HỒ THỊ LIÊN - Thị Đông HUỲNH TRỌNG THU
    Đến thời điểm nầy (01/04/2013) anh chị em Áo Lam Bình Định đang chờ mong một sự đổi mới trong Hội nghị công cử BHD Phân Ban GĐPT Bình Định nhiệm kỳ 2013-2017.
    Chúng ta hy vọng rằng BHD Phân Ban GĐPT Bình Định trong nhiệm kỳ mới sẽ đoàn kết và hoạt động có hiệu quả ./.
    NGUYÊN THỌ

    chùa thiên đức thầy tinh minh (tây sơn phú phong)

    chùa thiên tôn tây sơn phú phong


    Thứ Bảy, ngày 11 tháng 12 năm 2010


    CHÙA THIÊN TÔN



    Thiên Tôn Tự - Tây Sơn
    Chùa Thiên Tôn nằm ở lưng chừng núi Ông Đốc thuộc thôn Hòa Lạc, xã Bình Tường, Huyện Tây sơn, Bình Định. Từ Thị trấn Phú Phong theo đường 19 hướng về Pleiku đến chùa chỉ hơn 3km. Chùa có tên chữ Thiên Thai Tự, là một trong những danh lam đất Tây Sơn – Bình Khê thu hút nhiều thăm viếng của khách thập phương.
    Thiên Thai Tự - Chùa Thiên Tôn của Bình Khê là Tổ đình của nhiều chùa trong Nam bộ, Thiên Thai Tự ở xã Tam An, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là do Khai Tổ Huệ Đăng của Chùa Thiên Tôn – Bình Khê kiến lập năm 1922.
    Chùa Thiên Tôn – Bình Khê cổ kính, đẹp và nhiều dật sự. Một trong những dật sự lớn lại liên quan đến lai lịch của chùa. Đặng Quý Địch hiện ở Bồng Sơn, người có nhiều biên khảo về địa dư, lịch sử, nhân vật Bình Định đã có bài viết về sự kiện nầy. (Chắc là chú Lộc Xuyên cho phép đăng bài viết trên trang blog nầy, thành thật xin lỗi đã không liên hệ chú trước).

    VỀ THIÊN THAI TỰ Ở TÂY SƠN

    Bồng Sơn 04.06.2010
    Lộc Xuyên Đặng Quí Địch

    Trong những năm 80 của thế kỷ trước, lần nào về Quy Nhơn tôi cũng nghỉ đêm tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định, trong một phòng làm việc của Hội. Phòng không có giường, tôi phải nằm trên bàn làm việc của Từ Quốc Hoài mà ngủ. Ký giả Nhật Nam treo võng nằm cạnh tôi. Nhờ vậy mà tôi được nghe anh kể lai lịch chùa Thiên Thai ở Tây Sơn. Anh cho biết trước đây anh đã có nhiều năm xuất gia làm Sa di tại chùa Thiên Tôn, hậu thân của Thiên Thai tự. Anh kể rằng:
    Sau khi Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho Trần Cảnh thì Thái sư Trần Thủ Độ tìm cách giết hại tôn thất nhà Lý. Một hoàng thân của nhà Lý là Lý Quốc Hoài cùng thâm quyến bí mật trốn vào Đồ Bàn, được vua Chàm cho lên ở phía Tây Nam Đồ Bàn chừng mấy mươi dặm. Lý Quốc Hoài cùng mọi người khai phá rừng hoang làm ruộng vườn, qui dân lập ấp, lập một cảnh chùa trên hòn Dũng ( Hội Sơn) để tu, đặt tên là Thiên Thai tự.
    Lý Quốc Hoài giỏi võ, dạy cho đệ tử, đời nọ nối đời kia, làm nên một phái võ nổi tiếng trong vùng. Đến mạt diệp chúa Nguyễn, ba anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cùng những người sau làm tướng cho nhà Tây Sơn đều xuất từ lò võ Thiên Thai tự.
    Trong chiến tranh Việt Pháp ( 1945- 1954), chùa bị máy bay Pháp đánh sập, Hòa thượng trụ trì phải dời chùa xuống mỏm núi ông Đốc, đổi tên là Thiên Tôn tự, nay thuộc thôn Hòa Lạc xã Bình Tường huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định.
    Nếu đúng như thế thì Thiên Thai tự ở Tây Sơn có cách nay 785 năm (1225- 2010).Bấy giờ tôi sinh ngờ vực bèn hỏi Nhật Nam nghe chuyện này ở đâu thì được anh cho biết là nghe các thầy Thiên Tôn kể nhưng khi tôi hỏi cụ thể là thầy nào thì anh không nói.
    Sau đó, tôi gặp Hòa thượng Kế Châu đương chức Trưởng ban Trị sự Phật giáo Bình Định kể lại việc này, thầy vô cùng ngạc nhiên vì không thấy sách sử nào chép và cũng không nghe ai kể.
    Sau đó không lâu, tôi đọc thấy trên một tạp chí tỉnh ta, Đặng Duy Chuyên viết lai lịch chùa Thiên Thai - Tây Sơn như lời Nhật Nam đã kể. Duy Chuyên viết không đủ tin vì không trưng bày được bằng cứ. Vả lại trước đó anh ta đào đâu ra giờ, ngày, tháng sinh của vua Quang trung rồi chấm cho ngài một lá số tử vi rất tốt vì có chân mạng đế vương. Bài đó đăng ở một tờ báo do Hà Giao chủ biên, đã làm tôi không nhịn đươc cười!
    Cuối năm 2001, tôi đọc quyển " Các ngôi sao Tây Sơn" của Nguyễn Xuân Nhân do Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh xuất bản, bài Thiên Thai tự từ trang 14 đến hết trang 22 thấy ông viết lai lịch chùa Thiên Thai- Tây Sơn về cơ bản như lời Nhật Nam đã kể. Xem tấm ảnh bàn tổ chùa Thiên Tôn với lời chú của Xuân Nhân. Tôi đối chiếu với bài tôi viết về chùa Thiên Tôn trong bộ sách " Những ngôi chùa trong tỉnh Bình Định" hoàn thành năm 2000. Tôi thấy cả ba người là Nhật Nam, Duy Chuyên và Xuân Nhân đã lầm.
    1. Người lập chùa Thiên Thai không phải Lý Quốc Hoài nào đó sống cuối Lý đầu Trần mà là Lê Quang Hòa pháp danh Thanh Kế sinh 1873 tịch 1953. Chùa được lập không phải đầu đời Trần (1225) mà mới lập vào năm 1941. Mời đọc bài văn bia tại tháp tổ ở trên núi sau chùa Thiên Tôn thì rõ.
    Bài văn bia bằng chữ Hán, tôi dịch như sau:
    Tiểu sử sơ lược
    Tổ Thiên Thai thuộc phái Thiền Liễu Quán, đời thứ 41, Pháp danh Thanh Kế, Pháp tự Huệ Đăng, thế danh Lê Quang Hòa. Sinh năm Quý Dậu (1873) tại tỉnh Bình Định huyện Bình Khê, xã Bình Thành, thôn An Dũng.
    Năm Ất Dậu (1885) tham gia Phong trào Cần Vương mà thất bại, nên có tư tưởng thắng thì làm quan, lui về thì làm sư, bèn vào Nam Kỳ siêu cầu Tổ sư Hải Hội ở chùa xưa Long Hòa, xuống tóc xuất gia. Sau đó tổ kiến tạo chùa tổ Thiên Thai tại tỉnh Bình Định làm cơ sở hoằng dương hóa độ toàn sáu tỉnh Nam Kỳ.
    Năm Tân Tị (1941), Tri huyện Bình Khê cung thỉnh tổ về quê, đứng lập chùa Thiên Tôn làm trụ xứ. Hơn 10 năm, cơ duyên đã mãn bèn thị tịch. Trụ thế được 80 năm.
    Được biết bảo tháp Khai tổ Thanh Kế Huệ Đăng do đệ tử là Hòa thượng Thích Thiện Hào mới lập sau năm 1975. Bài văn bia này do thầy Thiện Hào đặt hay nhờ ai soạn thì tôi chưa rõ. Nếu có nhờ ai soạn thì lẽ đương nhiên thầy có duyệt qua trước khi khắc lên đá. Nói cách khác, thầy chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung bài văn bia.
    2. Bức ảnh chụp bàn tổ chùa Thiên Tôn được in tiếp theo bài" Chùa Thiên Thai" trong sách dẫn trên. Cuối bức ảnh, ông Nguyễn Xuân Nhân chú: Nơi thờ các vị sư tổ của Thiên Thai tự ngày xưa. Các vị này đã dạy võ nghệ cho một số tướng Tây Sơn.
    Trong ảnh có chân dung Khai tổ Thanh Kế Huệ Đăng. Có 3 long vị: cái lớn và cao nhất là của Khai tổ Thanh Kế Huệ Đăng. Hai cái nhỏ hơn là của đệ tử tổ: Đại sư Trừng Mẫn Bửu Niệm và Hòa thượng Trừng Thanh Thiện Hào. Không có vị nào là " sư tổ Thiên Thai tự ngày xưa, từng dạy võ nghệ cho các tướng Tây Sơn" như ông Nhân đã chú, bởi lẽ họ sống sau Phong trào Tây Sơn 200 năm.
    Như thế, lai lịch của Thiên Thai tự ở Tây Sơn qua lời kể của Nhật Nam, qua bài báo của Đặng Duy Chuyên, qua tập sách " Những ngôi sao Tây Sơn" của Nguyễn Xuân Nhân chỉ là ngoa truyền, không nên tin và cũng đừng tiếp tục truyền nữa. Mong vậy thay!




    3 nhận xét:

    1. 1./ Chùa Thiên Tôn, cách trung tâm thị trấn Phú Phong (cũ) chưa đầy 2km đâu (còn TT Phú Phong - mới- thì sát cạnh thôi)
      2./ Bài trên của t/g Lộc Xuyên mình đã thấy được trên net khoảng 2 năm nay, định gặp anh Chuyên (anh Chuyên là một người quen của mình, anh là t/g của tiểu thuyết "Thần Điêu phá ngũ quan") để hỏi lại cho rõ hơn, nhưng mấy lần gặp nhau, nói chuyện "trên trời, dưới đất" nhiều quá nên quên mất!
      3./ Nhân đây giới thiệu với Nghị bác Trần Minh Can (bào huynh của ông Trần Minh Nhựt, hội đồng tỉnh cũ), người biết khá nhiều về lịch sử chùa Thiên Tôn, nói riêng và "địa phương chí" huyện Bình Khê, nói chung. Nay bác Can đã 90 tuổi nhưng rất minh mẫn và khá khỏe mạnh (còn đạp xe đạp đi 3, 4 km). Cách đây 4 tháng mình có hỏi chuyện bác, được bác kể nhiều chi tiết về lịch sử "rất thú vị".
      Có dịp Nghị gặp bác, có lẽ sẽ giúp ích cho Nghị nhiều đấy! Nếu chưa quen với bác và thấy cần, mình sẽ giới thiệu cho Nghị làm quen và gặp gỡ với bác. Những nhân vật cao niên mà còn minh mẫn như bác Can, có lẽ nay còn khá hiếm đấy!
      Bác can trước đây là nhân viên của Chi Bưu điện Bình Khê.
      Trả lời
    2. Bác Can có thể còn nhớ được mình. Anh Chuyên cũng là người quen cũ có nhiều kỷ niệm. Ngày trước mình cũng từng nghe anh kể chuyện chùa Thiên Thai. Mình đang cần tư liệu Chùa Thiên Sơn (Phú Phong) để có ý kiến tiếp về tiền thân của chùa Thiên Tôn. Đây là vấn đề mà chú Đặng Quý Địch chưa quan tâm đến.
      Lúc nào về Phú Phong, mong được Bửu đi cùng
      Thân
      Trả lời
    3. Hình như Nghị chép lại bài dịch văn bia của Cụ LỘC XUYÊN bị sai hay Cụ LỘC XUYÊN nhầm "...kiến tạo chùa thiên Thai ở Bình Định để làm cơ sở hoằng dương hoá độ toàn chúng sáu Tỉnh Nam Kỳ". Nói cho đúng là khoảng năm 1925 Ngài Huệ Đăng cho xây dựng THIÊN THAI TỰ ở núi DINH CỐ, Bà Rịa, đến năm 1929 thì hoàn thành.
      Còn về Chùa Thiên Tôn thì chinh xác là vào năm 1941, nhân chuyến về quê nhà để thăm mẫu thân. Sau đó quan quận Bình khê và nhân sĩ Bình Định rất ngưỡng mộ Hoà thượng Huệ Đăng nên khẩn cầu Hoà thượng ở lại quê nhà hoằng truyền Phật pháp, phổ độ bá tánh tỉnh nhà. Hoà thượng đã cho xây dựng chùa Thiên Tôn ở núi Ông Đốc xã Trinh Tường,quận Bình Khê để giáo hoá đồ chúng miền Trung.
      Còn về chùa " Hòn Dũng": Cách Mạng Tháng 8 và cuộc chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ, chiến tranh xảy ra ác liệt ở Bình Định, chùa Thiên Tôn bị thiêu huỷ, Hoà thượng lên núi Hòn Dũng lập chùa Lê Sơn tránh nạn. Ngày mùng 4 tháng7 năm quý Tỵ (1953)tình hình ở quận Bình Khê tạm yên, đệ tử rước ngài về thảo am ở nền chùa Thiên Tôn an dưỡng. 18 giờ ngày 11 tháng 7 năm Quý Tỵ ngài viên tịch.
      Những nội dung này Thiiasao lấy từ quyển Tiểu sử Tổ đình Thiên Thai và Tiểu sử Đại lão Hoà thượng Huệ Đăng do Nguyễn Hiền Đức biên soạn và Hoà Thượng Thích Thiện Hào viết lời giới thiệu xuất bản năm 1994. Xin nêu ra đây để góp thêm vào việc tìm hiểu về chùa Thiên Tôn và chùa Hòn Dũng.
      Trả lời