Saturday, February 28, 2015

http://www.saungon.net/tbl/

 Tại sao lại có hiện tượng tái sanh?            > Hazel Denning: Khi đưa một người trở về kiếp trước và tìm hiểu tại sao đương sự chọn tái sanh vào gia dình này, và mục đích của họ trở lại thế gian để làm gì thì ai cũng có câu trả lời tương tự: "Quả thật tôi không muốn trở lại thế gian chút nào. Ép mình vào cái xác phàm như đi vào tù, ngột ngạt lắm".  Khi tôi hỏi lại: "Vậy tại sao ông/bà lại trở về, có ai bắt mình ở lại đâu?" thì câu trả lời luôn luôn là: "Vì thế gian là một trường học để rèn luyện nhân phẩm của mình. Muốn trau dồi tâm linh, muốn hướng thượng thì phải trở lại thế gian. Mà thật tình tôi muốn tu tâm nên tôi phải trở lại thế gian này". Đó là câu trả lời tôi ghi lại.  - See more at: http://www.saungon.net/tbl/category_4/item_2248.html#more

Có người thật sự không muốn thay đổi hoàn cảnh không mấy tốt đẹp của mình như chuyện một bà nọ sinh ra với hai con mắt gần như mù. Bà phải đeo mắt kiếng dầy cộm. Sau khi soi căn, bà biết rằng chính bà muốn mắt mình như thế để ít thấy những phù du vật chất, để quên cái ngã của mình, để quay nhìn vào bên trong. Từ đó, bà vui vẻ với cặp mắt gần như mù của mình và không chịu tìm cách làm cho mắt sáng hơn. - See more at: http://www.saungon.net/tbl/category_4/item_2248.html#more

"Nếu chị thật tình thương yêu và muốn cải hóa chồng thì chị không nên dùng giọng lời gay gắt với chồng mà nên bộc lộ tình thương, ăn nói dịu dàng thì ông sẽ thay đổi". Có nhiều bà nghe lời và đã thành công. - See more at: http://www.saungon.net/tbl/category_4/item_2248.html#more

Vicki Mackenzie: Có khi nào bà đã gặp những người đã từng sống ở hành tinh khác hay cõi giới khác không? >             Hazel Denning: Thỉnh thoảng cũng có. Rất nhiều người cho rằng hạ giới là hành tinh thấp nhất trên cột luân hồi (the totem pole). Có mấy người nói rằng trước kia họ sống trên một hành tinh khác. Có một ông viết một thứ chữ lạ hoắc rồi dịch lại tiếng Anh. Ông nói hành tinh ấy có một văn hóa khác hẳn. Ông còn nói khi ấy ông hiểu được "nguyên lý đồng thời" - hiện tại, quá khứ và vị lai đều đang thể hiện ở giây phút này. Thật là khó hiểu. > >             Vicki Mackenzie: Bà có biết những kiếp trước của bà không? > >             Hazel Denning: Có chứ. Đời trước kiếp này của tôi rất lạnh lẽo. Tôi là một phụ nữ sinh ra ở nước Anh, lấy chồng là một người làm ngoại giao giàu có, nhà cao cửa lớn, có nhiều gia nhân hầu hạ, tiệc tùng liên miên nhưng tôi rất cô đơn, sống không có tình thương. Khi gần chết, tôi còn nhớ gia nhân rón rén bước không dám gây tiếng động, tôi đã nắm tay em gái tôi và nói rằng, "Nếu chị được sống lại từ đầu, chị sẽ thương yêu nhiều hơn". >             Và trong đời này, một em gái tôi chết lúc chín tuổi, tôi mới mười một tuổi. Tôi đã thương khóc em trong hai năm. Tôi cần có kinh nghiệm xuyên qua sự đau khổ như vậy mới lấy lại được cảm xúc bình thường. >             Nhưng kỷ niệm khó quên nhất xảy ra lúc tôi đang ở trong phòng tắm. Tôi bị đau gan từ lúc học lớp tám. Tôi hay bị những cơn đau túi mật hành hạ, đau đầu đến buồn nôn làm tôi khổ sở lắm. Hồi trước tôi cũng hay nóng nảy. Có hôm cơn giận nổi lên khiến hai mạch máu nhỏ ở cổ bị đứt. >             Có nhiều lúc tôi có cảm tưởng như cơn giận làm chóp đầu của tôi có thể bay đi mất. Nhưng không ai biết vì tôi không để lộ ra ngoài. Cách đây chừng mười năm, một hôm tôi đang tắm dưới một vòi sen thì cơn nhức đầu kéo tới. Tôi dằn giọng nói lớn, "Chúa ơi, tôi muốn biết tại sao tôi bị bệnh gan hành hạ, tại sao tôi phải chịu đau khổ như thế này?" Vừa dứt lời bỗng nhiên tôi thấy mình là một người lính theo Thập Tự Chinh thời Trung Cổ, vừa bị một giáo xuyên qua gan. Tôi tức giận sắp phải chết vì một "chính nghĩa" mà tôi không còn tin tưởng nữa. >             Tôi chán ghét những việc chúng tôi đang làm - đốt phá những đền đài đẹp đẽ - nhưng tôi không làm gì được hơn. Tôi biết tôi sắp chết và sẽ không bao giờ thấy lại được người vợ và hai đứa con trai. Tôi chết trong giận dữ, và chứng đau gan bây giờ là sự biểu lộ của cơn giận xa xưa ấy. Giây phút ấy trong phòng tắm, tôi nghe một giọng thì thầm: "Nguyên do của tính nóng giận của ngươi bắt nguồn ở đây". Từ ngày đó, tôi không bị cơn đau túi mật hành hạ nữa. - See more at: http://www.saungon.net/tbl/category_4/item_2248.html#more

   Khi người thân qua đời thì đau buồn là chuyện thường tình, nhưng tôi không chịu được cảnh người ta tỏ ra bi thương thái quá, vì như vậy chứng tỏ họ có mặc cảm tội lỗi gì với người chết. - See more at: http://www.saungon.net/tbl/category_4/item_2248.html#more

...................................................................................................................................................

Nỗi lòng Tu Đi
Nguồn:TN Quảng Đức-15/08/2013
NỖI LÒNG TU ĐI
Thích Nữ Trí Hải
Sư thượng đường kể: Ngày xưa, có một con chó bị bệnh ghẻ lác, nên bị chủ quăng bỏ ra ngoài bờ sông. Cạnh bờ sông có một vị sư già sống trong một am cốc nghèo nàn, ngày ngày đi khất thực để sống. Trông thấy con chó đói bệnh, vị sư động lòng từ mẫn, đem về săn sóc, chia sớt cho nó phần ăn hàng ngày sư xin được, tắm rửa, xức thuốc cho nó. Chẳng bao lâu nhờ sự tấn tâm của sư mà con chó khỏi bệnh, lông lá mọc lại trên thân, trở thành một anh chó bảnh bao, dễ nhìn. Nhà sư đặt tên nó là "Tu Ði", có ý muốn thọ ký nó phát tâm tu hành để chuyển nghiệp chó.
Nhưng từ khi khỏi bệnh, Tu Ði đâm ra ưa lêu lổng. Nó tìm gặm những cục xương của người ta vứt bên bờ sông, và bỗng thấy hết ưa mùi vị tương chao của nhà sư tốt bụng, người đã cứu tử nó. Ngày ngày nó đi tìm ăn những cơm thừa cá vụn nên đâm ra quen mùi trần tục. Một hôm nó đang ngồi bên bờ sông nghễnh mõm nhìn móng sang bên kia bờ, bỗng một làn gió từ bên ấy tắt qua, thơm phức mùi thịt xào hành mỡ. Nó tung mình nhảy xuống sông lội về hướng ấy. Khi nó lội đến giữa dòng thì nhà sư cũng vừa về tới am, không thấy Tu Ði ngài ra sông tìm. Thấy con chó thân yêu đang chới với giữa dòng theo tiếng gọi của dục vọng, nhà sư tha thiết gọi nó quay về: -Tu Ði! Con nỡ nào bỏ thầy già yếu cho đành? Con hãy mau quay về với thầy. Tu Ði, Nào có mùi vị gì nơi một mảnh xương khô của trần tục, con chỉ tự ăn nước bọt chính con tiệt ra đấy mà thôi. Hãy quay về, hỡi Tu Ði!
Con chó nghe lời thầy gọi vội vã quay trở lại, nhưng nó vừa quay lưng với bờ kia thì bỗng một làn gió từ bên ấy hắt lại, tạt mùi thịt ngon lành vào mũi nó. Không cưỡng được, nó lại bơi trở lui về hướng thịt xào. Bên bờ này vị sư lại thiết tha khuyên nhủ. Con chó cầm lòng không đậu cũng quay lại, nhưng vừa muốn quay lại với thầy, thì gió lại đưa mùi thịt xào đến mũi nó, cứ thế Tu Ði quay qua lộn lại giữa giòng sông không thể quyết định được. Và cuối cùng nó bị chết chìm ngay giữa giòng.
Kể xong câu chuyện, sư lui về tịnh thất nghỉ. Các đệ tử ngồi lại kháo nhau:
- Huynh cho câu chuyện ấy có nghĩa gì?
Một người nói:
- Ðó là cái chết thảm khốc của một kẻ bội bạc, phận chủ.
Người thứ hai:
- Tai họa xẩy đến cho những kẻ nào không quyết đoán.
Người thứ ba:
- Các huynh nói đều đúng cả, nhưng theo tôi thì, thầy mình có ngụ ý. Con chó tượng trưng cho người khởi sự tu tập, tại gia hay xuất gia. Vị thầy là Phật tánh, lương tri sẵn có nơi mỗi người. Mùi thịt xào với làn gió là sự cám dỗ mời gọi của sắc thanh hương vị xúc pháp, tức sáu trần. Giòng sông tượng trưng cho sanh tử. Người nào đã thấm nhuần chút đạo lý, thì đạo lý ấy trong họ trở thành một thứ đại bổ hoặc kịch độc. Ðại bổ là khi sống thuận theo ánh sáng mình đã thấy, kịch độc là khi mình không cưỡng nỗi tiếng gọi của sắc trần mà quay lưng với đạo, chạy theo thanh sắc. Thỉnh thoảng tiếng gọi của lương tri nổi dậy, nên người ấy không thể nào dứt khoát chạy theo thanh sắc như người thế tục chưa từng biết đạo, mà cũng không thể quay về, cho nên phải chết chìm giữa giòng sông sanh tử.
Ni Sư Thích Nữ Trí Hải
- See more at: http://www.saungon.net/tbl/item_1995.html#sthash.ggbQfVP8.dpuf

Hậu Quả Khôn Lường.

Hậu Quả Khôn Lường Của Việc Nạo Phá Thai Nhi
CÂU HỎI: Nếu có cặp vợ chồng không còn biện pháp nào khác ngòai phá thai vì những khó khăn kinh tế hay vì những lý do khác, hậu quả có nặng nề lắm không?
HÒA THƯỢNG: Vì điều kiện kinh tế không cho phép có con thì không nên để lỡ mang thai ngay từ đầu; như vậy, sẽ tránh được rắc rối về sau. Cho là hiện thời có những khó khăn về tài chánh, tại sao họ phải đợi cho đến khi vấn đề xảy ra rồi mới đi tìm giải pháp? Họ phải tự cảnh giác về vấn đề này trước khi để nó xảy ra; tại sao không tìm những giải pháp tốt đẹp khác. Có câu nói, “Tại sao để ván đã đóng thuyền rồi mới mới nghĩ đến việc quan trọng là cần củi đểnấu cơm”. Tại sao phải đợi đến muộn màng rồi mới tính. Họ cần phải nghĩ đến việc có thể có mang thai khi chiết tính những chi tiêu hàng năm.
CÂU HỎI: Bạch Hòa Thượng, có một số những người mẹ không hôn thú đang gây ra nhiều vấn nạn xã hội, rồi sau đó là có việc phá thai … Con tự hỏi Hòa Thượng có ý kiến hay đề nghị gì về vấn đề này.
HÒA THƯỢNG: Quý vị đang đề cập về những bà mẹ độc thân. Khổ thay, những người này đã đánh mất nhân phẩm, vì thế họ không tôn trọng những luật lệ trước khi lập gia đình. Ngày nay, những người trẻ thích khiêu vũ, xem phim ảnh, và ca hát. Họ hưởng thụ ăn uống, vui chơi và tìm khoái lạc. Những đam mê và hành vi dẫn đến sự mất nhân phẩm, đến độ họ không còn ý thức việc họ là con người. Là người, phải có hành vi của người, nhưng họ lại giống như ma quỉ — lén lút không tôn trọng luật lệ, muốn thử hết trước khi lập gia đình … và vì thế, họ có thai. Những chuyện như thế này có thể không có gì quan trọng ở phương Tây, nhưng ở Trung Hoa thì thật xấu hổ.
Vấn đề này xảy ra do chỉ do một niệm vô minh: Nam theo đuổi nữ, nữ tìm kiếm nam … Bởi vì vô minh, nên hành nghiệp theo sau, sau khi hành nghiệp tạo tác thì có danh sắc, lục nhập, xúc, và thọ hiện hữu …, tất cả nhựng thứ này đều tạo tác bởi vô minh … Do mê mờ, tình ái khởi sanh, tiếp theo là dục vọng muốn nắm bắt (thủ và hữu), và sau đó là nhiều vấn đề khác xuất hiện … cho đến khi già chết (lão, tử) đến. Toàn bộ chuỗi biến cố này được gọi là Pháp Mười Hai Nhân Duyên.
Vì người đời không hiểu Mười Hai Nhân Duyên nên, họ làm những việc trái với đạo lý. Vì vậy vấn nạn của họ càng ngày càng lớn. Cho đến lúc họ mang thai, sự việc càng trở nên rắc rối hơn khi thay vì dưỡng thai bào để sinh nở, họ lại phá hủy bào thai lúc thai từ một đến bốn tháng tuổi.
Tội phá thai rất nặng. Quý vị có thể nghĩ chúng chỉ là con ma bé nhỏ, nhưng những con ma này có những năng lực tâm linh to lớn có thể làm quý vị chết hay mang những tật bệnh kỳ lạ, làm cho quý vị nói năng lảm nhảm và lẫn lộn đầu óc đến khi điên dại … Tội phá thai còn nặng hơn tội giết người lớn. Nếu quý vị không muốn có con, tại sao lại gây ra việc thụ thai? Tại sao rắc rối như thế? Khổ thay, đàn ông và đàn bà không hiểu đạo lý làm người nên những vấn đề này mới xảy ra.
Để giải quyết những vấn đề này, chúng ta cần cung cấp giáo dục về tình dục cho những người trẻ, và dạy họ đừng dính mắc vào tình ái cho đến khi khôn lớn trưởng thành; nếu không, họ sẽ gặp những vấn nạn khó khăn. Chúng ta phải thúc đẩy mạnh mẽ để họ tuân theo những quy tắc này.
CÂU HỎI: Bạch Hòa Thượng, nhân dịp Ngài trở lại Đài Loan, xin Ngài ban lời khuyên cho những đệ tử tại Đài Loan.
HÒA THƯỢNG: Đàn ông và đàn bà cư xử đứng đắn với nhau là nền tảng cho hòa bình quốc gia và thế giới. Nếu người chồng không cư xử như người chồng; người vợ không cư xử như người vợ; và con cái hành xử không ra con cái, thì làm sao thế giới có thể tránh được hỗn loạn? Tôi đề nghị mỗi người phải làm tròn vai trò của mình là vợ hay chồng của mình, không ly dị, và chăm sóc con cái tốt đẹp. Khi mỗi gia đình hạnh phúc và hài hòa thì quốc gia sẽ tự nhiên có hòa bình.
Ngòai ra, tôi khẩn cầu mọi người hãy ngưng lại việc phá thai! Hãy suy nghĩ xem, nếu những chúng sinh trong bào thai chưa kịp chào đời đã trở thành những oan hồn ; khắp nơi nhan nhản những hồn ma nhỏ bé phiêu bạt đòi mạng thì làm sao xã hội an lành được? Những hồn ma nhỏ bé này cần phải gặp được người có Đạo hạnh và không tham tiền thì mới được siêu độ. Rất khó đốiI phó với những hồn ma nhỏ bé này! Rất khó giải quyết những vấn đề này, vì vậy với nghiệp chướng khắp nơi thì làm sao có hòa bình?
CÂU HỎI: Làm sao cứu Đài Loan?
HÒA THƯỢNG: Bằng cách không phá thai, bằng cách không giết hại chúng sinh.
CÂU HỎI: PHÁ THAI tạo nghiệp sát sanh. Vì con không được học giáo lý Phật trước đây, con đã phạm tội sát sanh mà không biết. Con có thể LÀM GÌ để đền bù lại nghiệp chướng của con?
HÒA THƯỢNG: Bằng cách LÀM THÊM NHIỀU VIỆC PHƯỚC THIỆN, BẰNG CÁCH SÁM HỐI SỬA ĐỔI LỖI LẦM NHIỀU THÊM VÀ NIỆM A DI ĐÀ PHẬT THƯỜNG XUYÊN HƠN.
CÂU HỎI: Con được nghe rằng phá thai là sai trái trong giáo lý Phật giáo, nhưng con đã phạm tôi này trong quá khứ mà không biết đó là sai trái. Con có thể làm cái gì bây giờ để đền bù lại những điều tai hại mà con đã làm trong quá khứ?
HÒA THƯỢNG: Không có điều tốt đẹp nào hơn là tự sửa đổi lỗi lầm của mình. Dầu cho tội của quý vị rất to lớn, đầy ngập trời, nếu quý vị thành tâm ăn năn và sửa đổi, thì các tội sẽ tiêu sạch.
CÂU HỎI: Ngày nay có nhiều quảng cáo “Cúng Dường Vong Linh Thai Nhi” trên báo hàng ngày và tạp chí. Chúng con có thể cúng dường những vong linh thai nhi này hay không, hay các vong linh thai nhi này nên được siêu độ ?
HÒA THƯỢNG: Chữ “cúng dường” không thể dùng trong ý nghĩa này được, vì vong linh thai nhi không phải là Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Nếu quý vị xem đó là cúng dường vong linh thai nhi tức là đã rơi vào tà kiến vậy. Đó phải gọi là ‘siêu độ’. Siêu độ chúng sanh không giống cúng dường cho chúng sanh, bởi vì việc siêu độ giúp chúng lìa khổ được vui. Tuy nhiên, vong linh thai nhi mang mối oán hận rất lớn khó làm vơi đi được, bởi vì đó là món nợ tước đoạt sanh mạng thì phải được trả bằng cách đền lại sanh mạng. Thế nhưng, nếu các vong linh thai nhi đó gặp được những vị chân tu không tham tiền thì chúng có cơ hội được siêu độ.
CÂU HỎI: Nhiều người bỏ tiền ra cúng những vong linh thai nhi, có thể nào những căm hận của các vong linh thai nhi này được đền bù hay không?
HÒA THƯỢNG: Không.
CÂU HỎI: Ngày nay có nhiều người lợi dụng để làm tiền người khác bằng cách nói rằng có thể khuyên giải những vong linh thai nhi. Có những phật tử không tán thành những việc làm như vậy. Thưa Hòa Thượng, ý của Hòa Thượng như thế nào? Những vong linh thai nhi sẽ làm cho những kẻ thiếu nợ chúng bị bênh hay bị những vấn đề khác không? Có những người đã từng phá thai nhưng lại ngại ngùng sợ tốn tiền không lập bài vị để cầu nguyện cho vong linh thai nhi. Bạch Hòa Thượng, Ngài nghĩ như thế nào về việc này? Có thực là những vong linh này có thể gây rắc rối không? Nếu như thế, làm sao để điều phục những vong linh thai nhi này? Làm sao chúng ta có thể an ủi và làm chúng an lạc ?
HÒA THƯỢNG: Tốt hơn hết là không nên có bài vị hơn là lập một bài vị. Tôi nói thế có nghĩa là gì? Người ta không nên phá thai ngay từ đầu; bằng cách ngăn ngừa phá thai thì không sát sinh. Vì không sát sinh, nên không cần bài vị. Thỉnh một bài vị cho một vong linh thai nhi là “lo cái ngọn mà quên cái gốc.”, và giống như “bịt tai để đánh chuông”, vì đó là tự lừa dối mình. Những vong linh này có thể được siêu độ chăng? Món nợ này có thể giải quyết được chăng? Vâu trả lời là không chắc. Vì thế, nên ngăn ngừa việc xảy ra hơn là hối hận về sau này. Trước khi kết hôn, không nên uống thuốc ngừa thai hay giao hợp tình dục. Tại sao không thể đợi đến khi kết hôn? Tại sao lại vội vàng như thế? 
CÂU HỎI: Bạch Hòa Thượng, có những hiện tượng lạ trên thế giới ngày nay như nhiều thiếu nữ chưa kết hôn đi phá thai, bị cưỡng hiếp, và đồng tình luyến ái. Là cha mẹ, chúng con ngày nay phải giáo dục con cái như thế nào để thanh thiếu niên có thể phát triển tâm hồn và thể xác trở thành những cá nhân tốt đẹp?
HÒA THƯỢNG: Câu hỏi này xuất sắc vì nó liên quan đến giải pháp đúng đắn cho những vấn nạn trong xã hội chúng ta. Các vấn nạn mà quý vị vừa nói đó đều rất đơn giản, dễ giải quyết. Những thanh thiếu niên này từ đâu đến? Những thanh thiếu niên có vấn đề này đều có cha mẹ, có phải không? Tuy nhiên, những bậc cha mẹ này không biết cách làm cha mẹ đúng đắn, làm cha mà không hành xử như một người cha; làm mẹ không hành xử như một người mẹ. Mặc dù, họ sinh ra con cái, nhưng trọng tâm của họ không ở con cái, họ chỉ tham lam khoái lạc và thỏa mãn ham muốn tình dục. Họ hành động chỉ để thỏa mãn chính họ, họ chỉ biết sinh đẻ mà không biết gì về cách giáo dục con cái.
Đàn ông và đàn bà ở đất nước chúng ta đang bắt chước các trào lưu ở Âu Châu và Mỹ Châu, đam mê tình ái và đắm say tình dục, hẹn hò bừa bãi và theo đuổi người khác phái; họ nghĩ họ rất thời thượng khi làm như vậy! Nhiều người cho rằng nếu một người đàn ông mà không có bạn gái thì đó là một kẻ khờ. Tương tự như vậy, nếu một cô gái không có bạn trai trước khi kết hôn thì bị cho là bị bệnh tâm thần và không ai muốn kết hôn với cô ta! Vì những người này điên cuồng đắm mình vào tình ái và tình dục, họ chẳng quan tâm về con cái sau khi sinh ra chúng; họ chỉ quan tâm đến chính họ. Như thế, chỉ cần hai ngày rưỡi sau hôn lễ là họ bắt đầu chán nhau, và cuối cùng là ly dị.
Sau khi ly dị, con cái họ hoặc không có cha hoặc không có mẹ. Rồi sau đó, quan tòa quyết định đứa bé sẽ ở ba ngày ở với cha , và bốn ngày ở với mẹ. Vì họ không còn sống chung với nhau, con cái họ không cần biết trai hay gái sẽ đến ở với người cha một thời gian. Người cha sẽ nói: “Mẹ con không làm tròn bổn phận một người mẹ. Mẹ con không tốt, vì thế ba đã ly dị mẹ con và gặp người đàn bà khác. Người bạn gái này của ba thật tuyệt vời, còn mẹ con là người tồi tệ nhất.”. Đứa bé sẽ suy nghĩ: “Ô, mẹ mình thật tệ quá!”. Khi đứa bé trở về nhà với mẹ, nó lơ là với mẹ nó và nói rằng: “Mẹ tồi tệ lắm! Mẹ không xứng đáng làm mẹ con!”. Đứa bé chỉ nghe câu chuyện một chiều từ cha nó.
Người mẹ bèn nghĩ: “Con mình thay đổi quá rồi! Tốt hơn là phải có một biện pháp.”. Bà nói với con mình: “Ba con là một người đàn ông tồi tệ nhất. Mẹ không thể chịu đựng ba con, vì thế mẹ đã phải ly dị với ba con.”. Người mẹ còn nêu thật nhiều lý do khác về việc ly dị người chồng và làm cho đứa bé suy nghĩ rằng: “Ô, ba tôi là nguời đàn ông ông tồi tệ nhất; và mẹ tôi là người đàn bà tồi tệ nhất! Tôi nên làm gì đây? A! với cha mẹ như vậy, tôi cũng phải học cách để thành đứa bé tồi tệ nhất..”. Đứa bé bắt đầu dùng ma túy và gây đủ thứ rắc rối. Đứa bé không quan tâm bất cứ chuyện gì, kể cả tổ quốc, gia đình và cơ thể nó. Nó nghĩ,: “Tôi là một hạt giống xấu; cả ba và mẹ tôi đều xấu; do đó tôi phải là người xấu.”. Với thái độ này, đứa bé buông thả không còn biết phân biệt cái đúng, cái sai và làm bất cứ những gì nó thích.
Vì có những người đàn ông bị đàn bà bỏ, và có những người đàn bà bị đàn ông sao nhãng, họ đi quá trớn. Họ trở thành người “đồng tình luyến ái”; và học những hành vi ngược lại nhân tính. Bởi vì vợ chồng không biết cách cư xử với nhau như vợ chồng, cuối cùng họ tạo ra những vấn nạn khổng lồ mà chúng ta phải đương đầu ngày nay. Khi gia đình đổ vỡ, quốc gia cũng đổ vỡ. Nếu mọi người có thể như bà mẹ của Mạnh Tử hay bà mẹ của Nhạc Phi, cả hai đều biết dạy con trở thành vĩ nhân thánh thiện, thì sẽ không còn nhiều trẻ con gây rối lọan. Tôi đã trả lời câu hỏi của quý vị, và tôi không biết là tôi nói đúng hay sai. Nếu quý vị không thỏa mãn với câu trả lời của tôi, xin tìm hỏi những vị khác có khả năng hơn.
Về vấn đề phá thai, đó là một hành động vô nhân đạo! Quý vị hãy suy nghĩ đi, nếu quý vị giết một bào thai chưa chào đời, quý vị sẽ nói rằng quả báo của hành vi này có nghiêm trọng hay không? Bây giờ tôi sẽ nói cho quý vị điều này dù quý vị có tin hay không: mặc dù thai nhi bị hủy phá chỉ là một thai nhi nhỏ bé, nhưng vong linh thai nhi này còn dữ dằn hơn cả vong linh người lớn! Ngày nay bệnh ung thư trở nên khá thông thường trong xã hội chúng ta, và căn bệnh này một phần là do sự phá thai. Vì càng có nhiều trường hợp phá thai, số vong linh thai nhi càng gia tăng, và những vong linh thai nhi này rãi độc tố khắp nơi làm người ta bất an. Chúng nghĩ rằng: “Quý vị đã giết tôi sớm như vậy, tôi không để quý vị tránh thoát tội này đâu. Tôi cũng sẽ giết quý vị !”. Vì thế, chúng ta có nhiều bệnh lạ lùng và không thuốc chữa.
Hòa thượng Tuyên Hóa

Lương y Võ Hòang Yên - Melbourne,Australia 2014.

Thuốc trị bệnh ung thư gan B, C


                 Lá dâu tằm ăn (là lá mà con tằm thích ăn:))


A , thì ra  lá dâu tằm ăn là lá của trái dâu này , trồng cây này trái thì ăn , lá lấy làm thuốc , hay qúa . Mình thấy cây này có bán ở Lowes , 1 chậu $15. 



Cây thù lù (Physalis) (Mình thấy có bán hạt ở Lowes  đó, hong biết có phải loại này khg nữa ) 



                 Cây chó đẻ           



                                                            



Toa thuốc này CN thấy hay nè các bạn , lá dâu tầm ăn  hay lắm nghen , rồi còn thêm bán chỉ liên và bách 

hoa xà thiệt thảo , mấy loại thuốc nam này hay lắm , trị bá bệnh đó . 

- 2 nắm tay đầy lá dâu tầm ăn .

- 2 nắm tay đầy lá cây thù lù 

-2 nắm tay lá cây chó đẻ 

- 1 nắm tay  to bách hoa xà thiệt thảo ( ở Mỹ có bán khô ở tiệm thuốc bắc hay ngoài chợ VN )

- 1 nắm tay to bán chỉ liên ( có bán ở tiệm thuốc bắc )

- Nếu bao tử ai yếu cho 1 nhúm vỏ quýt vô nữa 

Thầy Trí Huệ nói có ông Phật tử kia mắc bệnh ung thư thời kỳ 1   uống xong 2 tháng đi thử máu lại hết bệnh gan , gan trở lại bình thường . Nói chớ thuốc nam hay lắm nha các bạn , CN đã từng mắc bệnh và uống thuốc nam thì  hết bệnh đó  , và có 1 vài người quen với CN uống thuốc nam củng hết bệnh  , nhưng phải tìm đúng toa thuốc nam hay kìa , hong thôi uống nhầm thuốc nam khg đúng bệnh thì sẽ khg hết bệnh đâu , nhưng tốt nhất là đi nhà thương trị bệnh trước đi , chừng nào bác sĩ chê rồi hả tìm thuốc nam uống , theo CN nghĩ như vậy đó  :) 


Friday, February 27, 2015

Chơn Ngọc : Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh - HT Thích Nhật Quan...

Chơn Ngọc : Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh - HT Thích Nhật Quan...:  Không biết sao mỗi lần mà mình tụng kinh này là mình thấy hạp lắm , tụng 1 , 2 lần là thấy toàn thân rung động , càng tụng càng thấy t...

Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.

Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hoa nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVN TN

I-THẾ TỘC: Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu
thichthienhao
I-THẾ TỘC: Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.
Sau khi thân phụ quá cố, Hòa thượng theo thân mẫu đi chùa Phước Hậu, làng Đông Hậu, quận Trà Ôn làm lễ cầu siêu trong 7 tuần thất. Duyên xưa gặp lại, mặc dù lúc ấy Hòa thượng chưa biết đạo lý là gì, mà nằn nằn quyết một đòi ở chùa. Bởi gia đình mộ đạo, nên cụ bà không từ chối nguyện lành của con. Năm ấy Hòa thượng vừa lên 7 tuổi, xuất gia tại chùa Phước Hậu. Sau đó, Hòa thượng được gởi đến chùa Đông Phước, làng Đông Thành, quận Cái Vồn (hiện giờ là quận Bình Minh), theo học với tổ Khánh Anh.
Trong gia đình chẳng những một mình Hòa thượng xuất gia, mà trước vài năm đã có người chị thứ bảy xuất gia. Đó là Sư bà Diệu Kim trụ trì chùa Bảo An, Cần Thơ, xuất gia lúc 17 tuổi. Người anh thứ tám đồng thời xuất gia với Hòa thượng hiện nay là Thượng tọa trụ trì chùa Phật Quang Trà Ôn, pháp danh Tịnh Tâm (Thiện Tâm), hiệu Hoàn Tâm (Hoàn Triều). Kế đó, người anh thứ năm pháp danh Thiện Minh cũng xả tục xuất gia, sau trụ trì chùa Linh Quang tại Rạch Sung, Trà Ôn. Sau này, lại có những người cháu kêu Hòa thượng bằng chú như Tịnh Nghiêm, Tịnh Thuận và kêu bằng cậu như Bửu Châu, Hoàn Phú cũng lần lượt xuất gia.
Có thể nói rằng đây là một gia đình có nhiều người xuất gia nhất ở vùng này.
II. – THỜI HỌC ĐẠO:
a) Học các trường gia giáo:
Hòa thượng cầu pháp với tổ Khánh Anh được hiệu là Hoàn Tuyên. Từ đó, Tổ được mời dạy những trường gia giáo nơi nào, Hòa thượng đều theo đó học tập, từ chùa Đông Phước lần lượt đến các nơi, sau cùng là chùa Long An. Năm 1931, tổ Khánh Anh lãnh chùa Long An ở Đồng Đế Trà Ôn và khai gia giáo nơi đây. Năm ấy, Hòa thượng đã 14 tuổi, nhập chúng tu học tại chùa này 3 năm.
b) Phật học đường Lưỡng Xuyên:
Đầu mùa hạ năm 1935, Phật học đường Lưỡng Xuyên khai giảng, Hòa thượng xin nhập học tại đây, lúc đó được 17 tuổi và ngay năm ấy, Hòa thượng thọ giới Sa-di. Từ đây Hòa thượng chính thức vào Phật học đường sống theo nếp mẫu mực đạm bạc của đời Tăng sinh tươi trẻ. Sau 3 năm mãn lớp Sơ đẳng nơi đây, Tăng sinh muốn tiến lên phải vận động ra Huế học. Với chí hiếu học và óc cầu tiến, Hòa thượng nài xin Ban giám đốc Phật học đường Lưỡng Xuyên chấp nhận giới thiệu, và vận động thí chủ ủng hộ tài chính. Kết quả Hòa thượng được mãn nguyện, lo khăn gói lên đường với các pháp hữu: Thiện Hòa, Hiển Thụy, Hiển Không, Chí Thiện, Bửu Ngọc, Giác Tâm. Thế là năm 1938, Hòa thượng được ra Huế học, lúc ấy được 20 tuổi.
c) Phật học đường Báo Quốc:
Sau khi ra Huế, quý Ngài dự học tại Phật học đường Tây Thiên hai năm. Kế đó vào Quy Nhơn ở chùa Long Khánh để đến học Phật pháp với tổ Phước Huệ ở chùa Thập Tháp hết một năm tròn. Các Ngài lại trở ra Huế dự học tại Phật học đường Báo Quốc ngót bốn năm. Sau trường Báo Quốc dời đến tòng lâm Kim Sơn năm 1945. Lớp học tại đây vừa mãn thì chiến tranh dồn tới. Trường Kim Sơn không duy trì được, nên Hội An Nam Phật Học ủy thác cho quý Thượng tọa Trí Tịnh và Thiện Hoa v.v… mang một số học Tăng vào Nam. Thế là, ngót tám năm dài (1938 – 1945), quý Thượng tọa chịu nhọc nhằn cần mẫn học tập ở đất Thần kinh. Khi trở về mang một hoài bão “Hoằng pháp lợi sinh”, để rồi miền Nam bừng sáng do các Ngài mồi ngọn đuốc từ chốn cố đô.
III.- THỜI HÀNH ĐẠO:
1) Khai Giảng Phật Học Đường Phật Quang:
Năm 1945 Hòa thượng hợp tác cùng Hòa thượng Trí Tịnh khai giảng Phật học đường Phật Quang, tại rạch Bang Chang, xã Thiện Mỹ, quận Trà Ôn. Số Tăng sinh đến dự học trên 30 vị. Năm 29 tuổi Hòa thượng thọ giới Tỳ kheo và Bồ-tát tại giới đàn Kim Huê Sa Đéc.
Đến năm 1946 và 1947 thấy tình cảnh chiến tranh của đất nước, thấy Tăng sĩ một phần đã cởi áo cà-sa mặc chiến bào, Hòa thượng Trí Tịnh quyết định dời về Sài Gòn. Phật học đường Phật Quang đã khó khăn lại gặp khó khăn hơn. Một mình Hòa thượng vừa lo dạy học, vừa lo đối phó với hoàn cảnh.
Đối nội, Hòa thượng vẫn kiên trì giữ vững lớp học. Dù gặp nhiều khó khăn, nào chùa bị đốt, học chúng bị phân tán, Hòa thượng vẫn thản nhiên duy trì phần còn lại. Hòa thượng thường nói: “Dù chỉ còn một Tăng sinh hiếu học tôi vẫn dạy đầy đủ như lúc ba mươi người”. Quả thật, đến năm 1950, học chúng chính thức của lớp này không quá bốn người. Thế nhưng Hòa thượng vẫn dạy đều như thuở trước.
Đối ngoại, xã hội hiện thời đòi hỏi người dân phải làm công tác thật nhiều. Để bảo bọc cho Tăng chúng yên tâm tu học, Hòa thượng mở những lớp học trẻ con, do Tăng sinh đảm trách. Đồng thời Hòa thượng mở trạm y tế, để Tăng Ni thay nhau thuốc men giúp đỡ đồng bào. Mỗi ngày Tăng chúng làm công tác dạy học, chích thuốc trọn buổi sáng, buổi chiều tất cả đều vào lớp học kinh điển.
Hòa thượng lại mở những lớp học “Bình dân” dạy ban đêm để “chống nạn mù chữ”. Lớp học này chỉ trong vòng 15 hôm, là học viên đọc và viết được. Sự học có kết quả nhanh chóng ấy là do Hòa thượng có sáng kiến soạn tập sách “Vần Chữ O”.
Đích thân Hòa thượng chích thuốc, dạy lớp “Bình dân”. Thế mà Hòa thượng vẫn thấy chưa đủ, Ngài lại xoay qua học chẩn mạch cho toa. Hòa thượng bảo học chúng: “Chúng ta cần đem Tứ Nhiếp Pháp và Ngũ Minh để giáo hóa chúng sinh, nhất là trong hoàn cảnh này”.
2) Cộng tác Phật Học Đường Nam Việt Ấn Quang:
Đầu mùa Xuân năm 1953, Hòa thượng cùng tám đệ tử mang hành lý đến Phật học đường Nam Việt (trong số đó có thầy Thanh Từ) nhằm ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch. Sau cuộc họp của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, quý Hòa thượng đã đồng tình cử Hòa thượng giữ chức vụ Trưởng Ban giáo dục Giáo Hội Tăng Già Nam Việt kiêm Đốc giáo PHĐNV và chức Trưởng Ban Hoằng Pháp Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.
a) Về phần Giáo Dục:
Với trách nhiệm đốc giáo PHĐNV, Hòa thượng đã tận tâm giảng dạy cho hai lớp Cao đẳng và Trung đẳng nơi đây. Đồng thời, Hòa thượng cũng dạy lớp Trung đẳng Ni chúng mở tại chùa Từ Nghiêm, sau dời về Phật học Ni trường Dược Sư.
Kết quả, hai lớp ở PHĐNV tại chùa Ấn Quang đã lần lượt ra trường. Những Tăng sinh lớp Cao đẳng ra trường đầu tiên là: Thầy Bửu Huệ, Thiền Tâm, Tắc Phước, Tịnh Đức và Đạt Bửu. Lớp kế tiếp ra trường có những vị: Thầy Thiện Định, Huyền Vi, Thanh Từ, Từ Thông, Chánh Tiến, Quảng Long, Hoàn Quan v.v… Và những lớp sau này tiếp tục ra trường như Thầy Thắng Hoan, Đức Niệm, Liễu Minh, Long Nguyệt, Trí Quảng, Huệ Thới, Minh Thành v.v…
Tại Ni trường Dược Sư đã đào tạo nên một số Ni chúng khả dĩ gánh vác được Phật sự đáng kể như: Sư cô Như Huyền, Hải Triều Âm, Diệu Hoa, Minh Ngọc, Giác Nhẫn, Trí Hòa, Trí Định, Tịnh Thường v.v…
Đến năm 1957 Hòa thượng lại chủ xướng mở những khóa huấn luyện trụ trì lấy tên là Như Lai Sứ Giả. Tăng giới đặt tại chùa Pháp Hội, Ni giới đặt tại chùa Dược Sư. Mỗi khóa ba tháng trong mùa hạ hoặc mùa đông. Kết quả, bên Tăng đã đào tạo năm mươi hai vị như: Thầy Trường Lạc, Bửu Lai, Trí Châu, Nhật Long, Hồng Tịnh, Hồng Đạo, Hoằng Thông, Huyền Quý, Hiển Pháp, Thiện An, Huệ Thành v.v… Ni giới được ba mươi vị: Ni sư Vĩnh Bửu, Như Hoa, Phật Bửu, Giác Thiên, Như Huy, Như Chí v.v…
Với trách nhiệm Trưởng Ban Giáo Dục trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Hòa thượng đã khuyến khích mở trường Phật học ở các tỉnh như trường Phật học tại chùa Bình An Long Xuyên (1956), trường Phước Hòa ở Vĩnh Bình, trường Giác Sanh ở Phú Thọ, trường Biên Hòa và Phật Ân ở Mỹ Tho v.v…
Có thể nói hầu hết Tăng Ni miền Nam đương thời đều chịu ân giáo dục của Hòa thượng, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.
b) Về phần Hoằng Pháp:
Hòa thượng nhận chức Trưởng Ban Hoằng Pháp Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và Hội Phật Học Nam Việt năm 1953. Đích thân Hòa thượng huấn luyện Tăng Ni sinh tại các Phật học đường để trở thành những giảng sư thật sự. Đồng thời, Hòa thượng cũng huấn luyện các vị trụ trì Tăng Ni đều có thể thành giảng viên trên lãnh vực của mình và đi diễn giảng các nơi khác. Chẳng những đào tạo Tăng Ni, Hòa thượng còn huấn luyện số cư sĩ đã chịu khó theo học các lớp giảng tại chùa Ấn Quang, khả dĩ đi diễn giảng các nơi được.
Hòa thượng mở các lớp giảng cho cư sĩ tại chùa Ấn Quang (trụ sở GHTGNV) và chùa Phước Hòa (Bàn Cờ) sau dời về chùa Xá Lợi (trụ sở Hội PHNV) hằng tuần vào chiều chủ nhật. Chương trình Học Phật Phổ Thông do Hòa thượng chủ trương được một số chư Tăng góp sức lần lượt ra đời. Kế đó, mở lớp giảng tại chùa Giác Tâm Chi Hội Phật Học tỉnh Gia Định, chùa Dược Sư của Hội Phụ Nữ Phật Tử. Những nơi giảng này, Hòa thượng phân công những giảng sư do Hòa thượng huấn luyện thay nhau giảng dạy. Đích thân Hòa thượng thì giảng dạy Phật tử vào tối thứ năm hằng tuần tại chùa Ấn Quang.
Phong trào học Phật miền Nam trỗi dậy như cơn vũ bão, khắp các tỉnh Giáo hội và Hội Phật học đều gởi thơ về Trung ương xin mở lớp Học Phật Phổ Thông tại trụ sở mình. Thế là Hòa thượng phải phân phối giảng sư đi giảng dạy mỗi chỗ mười hôm, căn cứ theo mười bài Phật Học Phổ Thông, một năm giảng hai kỳ. Quả thật sinh khí đã len vào mọi tâm hồn Phật tử, khiến họ hăng say học Phật. Cứ như thế mãi ngót tám năm trời (1955 – 1962).
Năm 1956, sau cuộc Đại hội kỳ hai của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Sài Gòn, Hòa thượng lại giữ chức vụ Ủy viên Hoằng Pháp Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, tổ chức phát thanh Phật Giáo hằng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn.
c) Trước tác và phiên dịch:
Từ năm 1953 đến năm 1965, Hòa thượng soạn xong 12 khóa Phật Học Phổ Thông, hay gọi là Cây Thang Giáo Lý. Hòa thượng còn soạn Bản Đồ Tu Phật (10 tập), Duy Thức Học (6 tập), tám quyển sách quý: Tu Tâm, Dưỡng Tánh, Nhơn Quả Luân Hồi, Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Diệu Đế, Từ Bi Trong Đạo Phật, Chữ Hòa Trong Đạo Phật và Năm Yếu Tố Hòa Bình.
Về phiên dịch, Hòa thượng đã dịch được:
        1. Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm
        2. Kinh Viên Giác
        3. Kinh Kim Cang
        4. Tâm Kinh
        5. Luận Đại Thừa Khởi Tín
        6. Luận Nhơn Minh
Hòa thượng chủ trương một Phật Học Tòng Thư phân làm 8 loại:
        1. Phật Học Phổ Thông 12 khóa
        2. Bản Đồ Tu Phật 10 tập
        3. Duy Thức Học 6 quyển
        4. Phật Học Giáo Khoa các trường Trung học Bồ Đề từ đệ Thất đến đệ Nhất
        5. Giáo Lý Dạy Gia Đình Phật tử
        6. Nghi Thức Tụng Niệm
        7. Tạp Luận
        8. Sự Tích
Các loại sách này gồm có 80 thứ.
Hòa thượng lại chịu trách nhiệm xuất bản đề tên nhà sách Hương Đạo.
Hòa thượng đã có sáng kiến quý báu, công trình trước tác, phiên dịch đáng kể. Ngài đã đóng góp cho nền văn hóa Phật giáo nói riêng, quốc gia nói chung, một phần rất quan trọng.
IV. THỜI LÃNH ĐẠO:
Thời pháp nạn dưới trào Ngô 1963, Hòa thượng đã tích cực tranh đấu cho Đạo pháp, lãnh chức vụ Phó Chủ tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo. Cuộc tranh đấu được thành công, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời. Nhiệm kỳ thứ nhất của Viện Hóa Đạo, Hòa thượng nhận chức Đệ nhất Phó Viện Trưởng, kế đến nhận chức trụ trì Việt Nam Quốc Tự.
Sau pháp nạn 1966, Hòa thượng đảm nhận chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN. Trong nhiệm kỳ này, con thuyền Phật giáo Việt Nam gặp nhiều sóng gió. Thế nhưng Hòa thượng vẫn nắm vững tay lái hướng thẳng theo con đường Bảo vệ đạo pháp và cứu nước cứu dân, lấy sự tồn tại của đạo pháp, trong sự tồn tại của dân tộc và nhân loại làm ngọn hải đăng.
Đến nhiệm kỳ III (1968) của Viện Hóa Đạo, Hòa thượng cũng được toàn thể đại biểu trong nước bỏ thăm lưu nhiệm. Thời gian này bịnh tình của Hòa thượng càng ngày càng tăng, mà trách nhiệm của Giáo hội lại càng nặng nề. Với thân nhiều bệnh hoạn, lại gánh vác trọng trách quá nặng, đa số môn đồ trông thấy đều sốt ruột, đồng cầu xin Hòa thượng từ chức, về chùa Phước Hậu tịnh dưỡng. Nhưng Hòa thượng bảo: “Tôi đặt đời tôi làm ba giai đoạn, giai đoạn thứ nhất chuyên học Phật pháp, giai đoạn thứ hai nỗ lực truyền bá, giai đoạn thứ ba tịnh dưỡng chuyên tu”. Nhưng “đạo pháp đang trong thời kỳ sóng gió, mọi người đang tin cậy tôi, tôi đâu nỡ buông tay để về ngồi yên tịnh dưỡng”. Môn đệ nghe những lời dạy này, đành cam nuốt lệ chớ không dám van nài.
Chính Hòa thượng đã từng dạy Tăng Ni: “Chỗ nào chúng sanh mời thì mình đến, chỗ nào đạo pháp cần thì mình đi, không kể gian lao chẳng từ khó nhọc”. Và Hòa thượng cũng thường quở trách Tăng Ni không chung lo Đạo pháp, chỉ bo bo giữ chùa riêng, bổn đạo riêng, bằng câu nói: “Một con trâu cũng tốn một thằng chăn, cả bầy trâu cũng chỉ một thằng chăn. Tại sao khuôn mình trong chỗ hẹp mà quên việc to lớn?”. Những lời dạy bảo này thực phát xuất từ đáy lòng của Bồ-tát, nói lên bởi tâm lợi tha không bờ bến, lòng mến đạo không chừng ngằn.
Có lần Sư bà Bảo An được quý Ni sư thỉnh giữ trọng trách trong Ni bộ. Sư Bà đến hỏi ý Hòa thượng, được Hòa thượng đáp: “Gánh vác Phật sự là việc tốt, nhưng khi lãnh nhiệm vụ lớn, phải tự xem mình như đứa con nít. Dù bị người chê khen khinh trọng vẫn không nao núng. Đừng nhớ mình có chùa to, có đệ tử nhiều, gặp việc trái ý là xách gói về chùa. Tâm niệm được như thế, mới nên đảm đang đại sự”. Sư bà nghe qua, rồi lặng lẽ cáo lui.
Những Phật tử trong Ban Từ Thiện Ấn Quang, lắm khi ra làm Phật sự gặp nhiều điều khó khăn, về chùa than thở với Hòa thượng thì Hòa thượng dạy: Phật sự lúc nào làm được nên cố gắng mà làm, đến khi thiếu duyên dù có muốn làm cũng không thể làm được. Nên nhẫn nhục thông qua thì mới viên mãn công đức.
Trong thời gian này, những Phật sự tại miền Nam Tăng Ni hay cư sĩ làm được điều gì đều nhờ sự khuyến khích an ủi của Hòa thượng. Phật Học Viện Huệ Nghiêm được thành hình và tồn tại đến nay, cũng nhờ ơn Hòa thượng đôn đốc và ủng hộ. Cô Nhi Viện Diệu Quang được thành lập cũng bởi Hòa thượng thúc đẩy, vì bản ý của Hòa thượng muốn cho Ni chúng sau này vừa tu học vừa làm công tác xã hội. Hòa thượng thấy Phật Học Viện Huệ Nghiêm phát triển mạnh, hy vọng ở đây mai này sẽ có nhiều vị Tăng ra giảng dạy Phật pháp. Cho nên Hòa thượng cố tình tạo thành Cô Nhi Viện Diệu Quang để làm cơ sở cho Ni chúng trẻ tuổi có đủ hai điều kiện học đạo và công tác xã hội. Học đạo thì gần Huệ Nghiêm thỉnh chư Tăng đến dạy, công tác xã hội thì mỗi ngày thay nhau săn sóc các em cô nhi.
Đến như Ban Từ Thiện Ấn Quang, làm được những công tác từ thiện hay Phật sự nào đều có sự khuyến khích, nhắc nhở của Hòa thượng cả. Hoặc xây cất Niệm Phật Đường trong khám Chí Hòa, cất chùa trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa v.v… cũng do Hòa thượng cùng Hòa thượng Thiện Hòa đôn đốc.
Tóm lại, từ năm 1964 đến năm 1972, mọi Phật sự đáng kể ở miền Nam đều được Hòa thượng trợ giúp, hoặc trực tiếp hay gián tiếp.
V.- VIÊN TỊCH:
Hòa thượng khởi bệnh từ tối đêm 17 tháng 11 năm Canh Tý, sau ngày lễ vía Đức Phật A Di Đà, Ngài được đưa vàobệnh viện Đồn Đất điều trị. Bác sĩ cho biết bệnh của Hòa thượng cần phải được giải phẫu. Hòa thượng thường nói với các đệ tử đến thăm viếng: “Nếu kỳ đau này tôi phải chết, tôi rất hài lòng, vì đối với sự hoằng hóa tôi đã làm tròn nhiệm vụ. Đối với Đạo Pháp tôi đã gánh vác được một giai đoạn khó khăn”.
Sau khi giải phẫu, bệnh của Hòa thượng càng ngày càng nhẹ, ai cũng tin rằng không bao lâu Hòa thượng sẽ bình phục trở về chùa. Một phóng viên báo Điện tín đến vấn an, hỏi về cảm nghĩ của Hòa thượng trong thời gian ở bệnh viện. Hòa thượng đáp: Tôi không mong ước gì hơn sớm có ngưng bắn, để cho dân tộc Việt Nam được hưởng một mùa Xuân thanh bình.
Một hôm, Hòa thượng Thiện Hòa vào thăm Hòa thượng. Tuy cảm thấy bệnh tình đã nhẹ rồi, mà Hòa thượng vẫn dặn dò mọi việc, cho đến kinh sách hiện còn, đều giao cả cho Hòa thượng Thiện Hòa. Thấy điều lạ, Hòa thượng nói: “Nằm ít hôm nữa bệnh lành rồi về, nói chi chuyện ấy”.
Bất thần, ngày 17 tháng 12 âm lịch, Hòa thượng trở bệnh. Đến đêm 19 tháng 12 âm lịch, Hòa thượng thấy mệt, biết mình không qua khỏi nên gọi các môn đệ đến bảo: “Các con niệm Phật cho Thầy vãng sanh, Thầy mệt quá rồi”. Từ giờ phút ấy tiếng niệm Phật đều đều vang lên trong gian phòng hồi sinh. Từ đó Hòa thượng lặng lẽ dần dần đến 06 giờ 5 phút, sau một hơi thở dài rồi im lìm theo Phật!
Hòa thượng đã an lành viên tịch vào sáng ngày 20 tháng Chạp năm Nhâm Tý nhằm ngày 23 tháng giêng năm 1973, thọ 55 tuổi và được 26 tuổi hạ.
Hòa thượng xong việc ra đi, nhưng để lại cho hàng Giáo phẩm trong Giáo hội bao nhiêu niềm mến tiếc. Tăng Ni cảm thấy bơ vơ hết chỗ tựa nương, hàng Phật tử mất đi một bậc Thầy hiền kính ái. Ngôi nhà Đạo pháp đã thiếu đi một cây thạch trụ chịu đựng!
Môn đồ pháp quyến đồng bái soạn

Làm sao gặp Phật?



Chính Trực on 28/05/2009 13:47:00

Hoặc có phải chăng: tất cả chúng ta có thể gặp Phật, ngay
trên thế gian này, ngay trong cõi đời này, bất luận người đó
là Phật Tử, hay không là Phật Tử, bất luận người đó tại
gia hay xuất gia? Dường như ai ai cũng có các thắc mắc này, vậy
chúng ta hãy lần lượt cùng nhau tìm cách trả lời dựa theo giáo
lý của đạo Phật.
Hầu như mọi người Phật Tử đều biết lịch sử Ðức Phật
Thích Ca: Ngài đản sinh ở vườn Lâm Tỳ Ni, được gọi là Thái
Tử Tất Ðạt Ða, con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia,
trị vì vương quốc Ca Tỳ La Vệ, thuộc nước Ấn Ðộ bây giờ.
Ngài lớn lên, cưới vợ, sinh con, cũng như bao nhiêu con người
khác trên thế gian.
Rồi nhân những chuyến ra khỏi hoàng cung, nhận thấy các cảnh:
sinh, lão, bệnh, tử, của kiếp con người, cho nên Ngài quyết tâm
xuất gia tu hành, tìm đường giải thoát và thành đạo dưới
cội bồ đề. Sau đó, Ngài chuyển pháp luân, thuyết pháp cứu
độ chúng sinh trong 50 năm, cuối cùng nhập niết bàn ở vườn Ta
La.
Như vậy, Ðức Phật Thích Ca đã nhập niết bàn, chúng ta đi tìm
Phật ở đâu, làm sao chúng ta gặp được Phật?
Thực ra, chúng ta chẳng cần đi tìm Phật ở đâu xa, chẳng cần
phải qua Ấn Ðộ, hay vào chùa mới gặp Phật. Phật luôn luôn ở
trong cuộc đời, ngay trên thế gian này, hiện hữu khắp nơi,
nhưng chúng ta không thấy, vì chúng ta chỉ nhìn đời bằng đôi
mắt thịt, mà quên xử dụng con mắt trí tuệ, để quan sát
những gì tiềm ẩn bên trong, hoặc ý nghĩa của những việc làm.
Nơi các tôn tượng chư Phật, con mắt trí tuệ được tượng
trưng bởi viên ngọc quí ở giữa chặn mày, luôn luôn chiếu
sáng, mang ý nghĩa: tuệ đăng thường chiếu, tức là ngọn đèn
trí tuệ thường chiếu sáng, còn đôi mắt thịt, luôn luôn khép
lại, không duyên theo cảnh trần.
Tuệ đăng thường chiếu nghĩa là con người sống luôn luôn tỉnh
thức, không bị mê mờ, không bị dục lạc thế gian lôi cuốn,
sống trong thế gian, nhưng không phiền lụy, cũng chẳng khổ đau.
Chúng ta có thể tìm thấy Phật qua sự sống trong tất cả mọi
loài chúng sinh. Sự sống đó bàng bạc trong khắp không gian và
thời gian, không hạn hẹp trong trăm năm của một kiếp con
người.
Trong cuộc sống hằng ngày, khi tiếp xúc giao thiệp với mọi
người chung quanh, chúng ta thường nhìn người đời bằng cặp
mắt thịt, trong kinh sách gọi là nhục nhãn, cho nên chỉ nhìn
thấy được hình tướng bên ngoài của con người, phân biệt nam
nữ, cao thấp, đẹp xấu, già trẻ, lớn bé, giàu nghèo, mập ốm.
Chính vì con người có cái nhìn phân biệt như vậy, cho nên cảm
thấy phiền não và khổ đau nhiều hơn là an lạc và hạnh phúc.
Tại sao vậy?
Bởi vì, khi có cái nhìn phân biệt như vậy, con người chỉ thấy
chung quanh toàn là chúng sinh, cho nên khởi tâm thương ghét, làm cho cuộc sống đảo điên, tâm trí bất an. Chẳng hạn như khi gặp người nào đẹp đẽ, hạp nhãn, hay gặp vật gì quí giá, hiếm
hoi, thì sinh lòng tham lam, ưa thích ngắm nhìn, muốn chiếm hữu làm của riêng. Toại nguyện thì hả hê, thích thú, bằng không
được như ý, thì sinh tâm oán thù, ghét bỏ, bực dọc, tức
tối. Chẳng hạn như gặp người nghèo hèn, ít học, thì sinh tâm khinh khi, kỳ thị, rẻ rúng, còn gặp người giàu sang, học thức, thì
thèm muốn, ước mơ, nịnh bợ. Chẳng hạn như gặp người mập
ú thì cười, gặp người gầy ốm thì chê. Con người thường có
ước mơ muốn được bình yên, nhưng tâm trí cứ chạy theo cảnh
trần đời như vậy, lăng xăng lộn xộn cả ngày, suốt tháng,
quanh năm, làm sao cuộc sống bình yên, an vui cho được?
Trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Ly nhất thiết thướng,
thị danh thực tướng".
Nghĩa là: Khi nào lìa bỏ được tất cả các hình tướng bên
ngoài, không chấp vào nhân dáng thế này thế khác, chúng ta mới có thể nhận ra thực tướng của tất cả mọi người. Thực
tướng đó là gì? Thực tướng đó chính là con người chân thật
của tất cả mọi người trên thế gian này.
Con người chân thật đó đồng nhất, không khác, không phân biệt nam nữ, già trẻ, lớn bé, màu da, sắc tộc, quốc gia, ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa, giai cấp, xuất xứ, kiến thức, học lực,
bằng cấp.
Mọi người đều có thực tướng đồng như nhau, chỉ vì mê ngộ
không đồng, nghiệp chướng khác nhau, cho nên hình tướng bên
ngoài có khác.
Chẳng hạn như: Người tham gian thì cặp mắt láo liên, đảo
điên, đảo qua, đảo lại. Người sân hận thì cặp mắt trợn
trừng, tóe lửa, dữ dằn. Người si mê thì cặp mắt lờ đờ,
khờ khạo.
Tu theo đạo Phật, không phải chỉ có cúng kiến lễ lạy, van xin
cầu nguyện, cầu an cầu siêu, cầu được bình an, cầu sang cực
lạc, cầu đủ thứ chuyện, cầu cho sung sướng, biểu diễn hình
tướng, không còn gì khác! Không phải như vậy!
Tu theo đạo Phật là phải thúc liễm thân tâm, chuyên cần chăn
trâu, con trâu tâm ý, đừng để chạy rong, ngông cuồng phá phách, giẫm đạp ruộng người, húc đàng đông xông đàng tây, từng giây từng phút.
Tu theo đạo Phật là phải tìm ra con người chân thật, hay giác
ngộ thực tướng của chính mình. Thực tướng đó bất sinh bất
diệt. Ngộ được thực tướng thì thoát ly sinh tử luân hồi,
theo đúng lời dạy của tam thế thập phương chư Phật. Còn con
người bằng xương bằng thịt, trong kinh sách gọi là tấm thân
tứ đại, chỉ tồn tại hơn kém trăm năm là nhiều!
Trong khi bình thường, hai người tính tình giống nhau, hòa đồng, nhã nhặn, vui vẻ, lịch sự, không khác. Khi có biến cố xảy
đến, người biết tu tâm dưỡng tính, giữ gìn được sự bình
tĩnh thản nhiên, không khởi tâm tham lam, không khởi tâm sân hận, không khởi tâm si mê. Nếu người nào hoàn toàn giữ gìn được bản tâm thanh tịnh, trong mọi hoàn cảnh trên thế gian, trước những bát phong của cuộc đời, dù được hay mất, dù khen hay chê, dù vinh hay nhục, dù sướng hay khổ, tâm tính vẫn luôn luôn bình tĩnh thản nhiên, luôn luôn mỉm nụ cười an nhiên tự tại,
người đó chính là một vị Phật.
Một vị Phật không phải từ trên trời giáng xuống, không phải
từ lòng đất chui lên. Một vị Phật tùng địa dũng xuất, như
trong Kinh Pháp Hoa dạy, nghĩa là từ nơi tâm địa của mỗi con
người chuyển hóa mà thành, chuyển hóa từ xấu xa thành tốt
đẹp, chuyển hóa từ tâm tham sân si ô nhiểm, trở về bản tâm
vốn thanh tịnh. Một vị Phật thành đạo từ nơi con người
biết tu tâm dưỡng tính, đi đúng Chính Ðạo, hành đúng Chính
Pháp. Người nào chưa đạt được hoàn toàn như vậy, chính là
những người đang trên bước đường tu tập, công phu được bao
nhiêu, người đó được an lạc và hạnh phúc bấy nhiêu. Chứ
không phải van xin cầu nguyện mà đặng đâu!
Theo truyền thuyết, khi Thái Tử Tất Ðạt Ða đản sinh, có hai
vị long vương đến phun nước tắm cho ngài. Một vị phun dòng
nước nóng. Một vị phun dòng nước lạnh. Ðiều này có ý nghĩa
thâm sâu như sau: cũng như Thái Tử Tất Ðạt Ða, người nào trên
thế gian này, chịu đựng nổi sức mạnh của hai dòng nước, kham
nhẫn nổi sức nóng lạnh, tượng trưng cho những áp lực thường
xuyên và sự đối nghịch của cuộc đời, chẳng hạn như: thịnh
suy, hủy dự, xưng cơ, khổ lạc, nói chung là bát phong, thì
người đó chính là một vị Phật trong tương lai.
Còn đại đa số người đời, khi có biến cố xảy ra, tâm tham
lam liền khởi lên, không thể dừng được, luôn luôn nghĩ đến
những việc tranh giành quyền lực, lợi mình hại người, xúi
người hại nhau, bất chấp thủ đoạn, thưa gửi kiện tụng, sang
đoạt tài sản, chiếm hữu bản quyền, giựt hụi quịt nợ. Nếu
mục tiêu là bạc triệu đô la, con người càng đối xử với nhau
ghê rợn hơn, khủng khiếp hơn, chẳng còn kể quan hệ cha con,
chồng vợ, bè bạn, thầy trò, anh em, thân bằng quyến thuộc gì
hết, mạng sống của con người, của chính bản thân bị coi rẻ
như bèo!
Ðồng bào, đồng bạn, đồng chí, đồng đội, đồng đạo,
đồng hương, đồng nghiệp, đồng ngũ, chẳng có giá trị gì
cả, chẳng có nghĩa lý gì cả. Chỉ có đồng tiền là trên hết,
là vạn năng, có đủ năng lực xô đẩy, sai khiến con người vào
vòng tội lỗi hết sức dễ dàng. Cửa thiên đàng khép lại, cửa
địa ngục mở rộng kể từ đây!
Khi có biến cố xảy ra, dù chỉ một lời nói vô thưởng vô
phạt, vô ý vô tứ, hay một cử chỉ nhỏ nhặt, nhưng va chạm
tự ái, tổn thương mặt mũi của con người, tâm sân hận liền
khởi lên, không thể dừng được, con người liền nghĩ đến
chuyện trả thù, báo oán, làm đủ mọi cách, khiến cho kẻ thù,
người mình không ưa, sống không được yên, chết cũng không
xong, ngả nghiêng điêu đứng, tạo dựng chuyện ác, khiến người
tội oan, tiêu tan danh dự, te tua tơi tả, thì mới hả dạ, mới
thỏa tấc lòng, tâm địa chúng sinh, phàm phu tục tử, sâu hiểm
ác độc, của một con người.
Khi tam bành lục tặc nổi cơn lên, dù có phải đại náo thiên
cung, lật tung nhà người, con người cũng dám làm, không cần
biết hậu quả ra sao! Bởi vậy cho nên, có nhiều người đánh
mất hạnh phúc trong tầm tay, hay đánh mất người cộng tác tài
năng đáng tin cậy, chỉ vì những cơn sân không kềm chế được
như vậy.
Khi có biến cố xảy ra, người ta không còn hợp tác, không còn
qua lại với mình, mình liền ngậm máu phun sau lưng người, không kể người cười miệng mình dơ, đâm bị thóc thọc bị gạo,
bêu riếu đàm tiếu đủ điều, vạch lá tìm sâu, bới bèo ra
bọ, chứng nào tật nấy, không bao giờ chừa!
Cũng do tâm si mê xui khiến, con người tin chuyện nhảm nhí, mê tín dị đoan, van xin thượng đế, cầu nguyện thần linh, tìm sông lội suối, nước kém vệ sinh, cho là nước thánh, trị được bá
bệnh, cầu gì được nấy, cũng mang về uống, dù cho người đó,
có nhiều bằng cấp, dù thấp hay cao, ở ngoài thế gian, hay trong
nhà đạo!
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật có dạy: "Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật Tính". Nghĩa là: "Tất cả mọi chúng sinh đều có
tính giác".
Tất cả mọi người đều có tính giác, sáng suốt đồng nhau,
không khác, trong kinh sách gọi là Chân Tâm hay Phật Tính, nhưng chỉ vì nghiệp lực khác nhau, tâm tham sân si khác nhau, cho nên bị phiền não khổ đau cũng khác nhau, hình tướng bên ngoài cũng khác nhau.
Chẳng hạn như mặt trăng lúc nào cũng sáng tỏ, không khác, nhưng đêm nào có nhiều mây đen, chúng ta trông thấy mặt trăng mờ nhạt nhiều hơn. Chẳng hạn như mặt biển lúc sóng yên gió lặng, thanh bình, rộng rãi, bao la, trông xa, thấy rộng, mênh mông, bát ngát, nhưng lúc cuồng phong nổi lên, sóng to gió lớn, bầu trời đen kịt, không còn trông thấy được gì cả. Mặt trăng
sáng tỏ, mặt biển thanh bình, tượng trưng cho bản tâm thanh
tịnh của tất cả mọi người. Ðó cũng chính là con người chân
thật hay Chân Tâm Phật Tính của tất cả mọi người. Mây đen
hay sóng to gió lớn, tượng trưng cho những phiền não khổ đau,
che lấp từng phần, hay che khuất hoàn toàn, tâm trí con người
không còn sáng suốt trọn vẹn nữa.
Như vậy, câu hỏi tìm Phật ở đâu, làm sao gặp Phật, thật là
quá dễ, ai cũng có thể trả lời được. Trước hết, Phật có
nghĩa là Ðức Phật Thích Ca, vị Phật có thực trong lịch sử,
sinh ra ở Ấn Ðộ, tu hành và thành đạo, cách đây hơn 2500 năm,
ngay trên thế gian này, ở ngay cõi ta bà này, không phải cõi nào
khác, không phải tây phương cực lạc. Ðó là câu trả lời gần
nhất, đơn giản nhất, rõ ràng nhất.
Tuy nhiên, trong kinh sách có câu: "Phật biến nhất thiết xứ",
nghĩa là Phật có ở khắp mọi nơi, Phật ở chung quanh chúng ta,
nhưng chúng ta không hiểu biết, không nhận ra đó thôi. Ðó là
nghĩa lý cao siêu mầu nhiệm của chữ "Phật". Ðó là con đường
thực tế, giúp đỡ cuộc đời được nhiều ánh sáng giác ngộ
và giải thoát, cuộc sống được nhiều an lạc và hạnh phúc, con
người được nhiều an nhiên và tự tại, giảm bớt phiền não
và khổ đau.
Trong kinh sách cũng có câu: "Tâm, Phật, chúng sinh, tam vô sai
biệt". Nghĩa là: "Tâm, Phật và chúng sinh, cả ba không khác, không sai biệt".
Phật và chúng sinh bản nguyên tính thường rỗng lặng, trong kinh sách gọi là không tịch. Tâm của người nào không chất chứa
bất cứ hình ảnh của chúng sinh trong ba cõi, sáu đường, hoàn
toàn trống rỗng, tĩnh lặng, tâm người đó chính là tâm Phật.
Chư Tổ cũng có dạy: "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật", chính là
nghĩa đó vậy.
Khi thấy người nào vào chùa, van xin cầu khẩn chư Phật ban cho
điều này điều kia, chư Tổ thường dạy: Ngươi cõng Phật đi
tìm Phật! Nghĩa là chư Phật đã bỏ những điều phiền não,
chỉ dạy chúng ta pháp môn tu tập để giải thoát, để thành
Phật, chúng ta không chịu tu học, để tự mình thoát ly phiền
não khổ đau, trái lại chúng ta van xin cầu khẩn những điều
phiền não, chẳng hạn như: tiền tài, danh vọng, ước gì được
nấy, nhất bản triệu lợi, buôn may bán đắt, thi đâu đậu đó,
bình yên vô sự, nhà cao cửa rộng, điều cuối cùng là: cầu
vãng sinh cực lạc quốc! Cầu không được, khổ là cái chắc!
Cầu bất đắc, tức khổ không sai!
Chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh Phật, qua các vị chân tu
thực học, giới đức tròn đầy, là điểm tựa, là chỗ quy
ngưỡng, để chúng sinh tìm được sự an lạc khi gần gũi. Chúng
ta có thể tìm thấy Phật ở khắp nơi trên thế gian này, chỗ
nào có tình thương ngự trị, có từ bi hỷ xả hiện tiền, là
có Phật ở ngay nơi đó. Bất cứ người nào, dù không là Phật
Tử, dù là Phật Tử tại gia hay xuất gia, mà trong một khoảng
thời gian nào đó, phát tâm bồ đề, khai mở Chân Tâm, thực hành
hạnh lợi tha, vì người quên mình, thể hiện bốn tâm lượng
rộng lớn: từ bi hỷ xả, thì ngay trong giây phút đó, người ấy
đang sống với tâm Phật, như một vị Phật.
Nhưng sau phút giây giác ngộ đó, người ấy trở lại cuộc sống
tầm thường, thì tâm Phật lại tiềm ẩn, chờ cơ hội khác để
phát huy. Phật là con người giác ngộ trọn vẹn và vĩnh viễn,
lúc nào cũng tỉnh thức và sáng suốt. Chúng sinh khác Phật ở
chỗ: chỉ lóe sáng trong giây phút, rồi lại chìm đắm trong bóng
tối vô minh. Tại sao vậy? Bởi vì, con người không đủ sức
vượt khỏi tam giới, không đủ sức ra khỏi căn nhà lửa, không
đủ sức chống cự sức mạnh của con trâu tâm ý, nghĩa là con
người bị "nghiệp thức che đậy" và thường hay "biết mà cố
phạm"!
Ðể có cái nhìn thực tiển và có phương pháp thực hành, trong
cuộc sống hằng ngày của người Phật Tử, tại gia hay xuất gia,
Chư Tổ có dạy:
"Chúng sinh nhìn Chư Phật như chúng sinh, cho nên phiền não khổ đau.
Chư Phật nhìn chúng sinh như Chư Phật, cho nên Niết bàn tự
tại".
Nếu hiểu biết một cách thấu đáo, một cách tường tận lời
dạy này, chúng ta liền biết làm sao gặp Phật, hay tìm Phật ở
đâu? Chúng ta thường hay nghĩ rằng: Phật ở Tây phương cực
lạc, Phật ở trong chùa, Phật ở trong kinh sách, Phật ở trong
các bức tượng bằng gổ, bằng đồng, bằng bạc, bằng vàng, hay
bằng tranh vẽ. Còn chung quanh toàn là chúng sinh tất cả! Chính bởi cái nhìn, cái hiểu biết, cái suy nghĩ, cái quan niệm như
vậy, cho nên con người gặp nhiều phiền não khổ đau, không sao tránh khỏi, không bao giờ dứt.
Con người không biết rằng: chính mình có Chân Tâm, Phật Tính,
và mọi người chung quanh cũng y như vậy, không khác. Con người đeo cặp mắt kính chúng sinh, tức nhìn đời qua tâm vọng động, cho nên nhìn ai cũng thấy chỉ là chúng sinh, nhìn ai cũng chỉ thấy tật xấu của họ, nhìn ai cũng thấy đáng ghét, nhìn ai
cũng thấy đáng đề phòng, nhìn ai cũng thấy muốn xa lánh, nhưng không bao giờ, nhìn lại chính mình, xem tốt hay xấu, cho nên gặp nhiều, phiền não khổ đau, rồi chờ khi chết, lết về tây
phương, nương về cực lạc, để tìm gặp Phật, làm sao gặp
được?
Còn chư Phật và những người giác ngộ, biết tu tâm dưỡng
tính, đeo cặp mắt kính thanh tịnh, nhìn đời bằng bản tâm thanh
tịnh, nhìn ai ai chung quanh cũng thấy được họ có Chân Tâm,
Phật Tính, nhìn ai ai chung quanh cũng hiểu biết họ là vị Phật
sẽ thành trong tương lai, gần hay xa tùy theo công phu tu tập của mỗi người, nhìn ai ai chung quanh cũng hiểu biết họ có những điều hơn mình, đáng cho mình học hỏi, nhìn ai ai chung quanh cũng thấy được con người chân thật, không phải con người hiện
tướng tham đáng ghét, không phải con người hiện tướng sân dữ
dằn dễ sợ, không phải con người hiện tướng si khờ khạo ngu
ngơ.
Cho nên chư Phật và những người giác ngộ, biết tu tâm dưỡng
tính, luôn luôn an nhiên tự tại, bình tĩnh thản nhiên, chứng
được cảnh giới niết bàn hiện tiền. Chúng ta có giác ngộ,
mới có cuộc sống an lạc và hạnh phúc như vậy, mới giải
thoát khỏi phiền não và khổ đau.
Cuộc đời có ý nghĩa, cuộc đời đáng sống, kể từ đây!
Tóm lại, trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy:
"Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.
Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai".
Nghĩa là: Phàm ở trên thế gian này, tất cả những gì có hình
tướng đều hư vọng, có ngày cũng phải bị hư hao, hoại diệt,
kể cả những bức tượng Phật, dù làm bằng vật liệu gì đi
nữa cũng vậy, kể cả tấm thân tứ đại, sau trăm năm cũng
phải bỏ lại. Nếu chúng ta nhìn mọi người, không qua hình
tướng bên ngoài, không phân biệt kỳ thị, không thành kiến bất
công, lúc đó chúng ta sẽ nhìn thấy được Như Lai, tức là thấy
được Chân Tâm Phật Tính, của mình và của mọi người, đồng
nhất không khác! Ðó chính là con người chân thật, bất sinh bất
diệt. Kiến Như Lai tức là ngộ đạo, tức là thoát ly sinh tử
luân hồi.
Cũng trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy:
Nhược dĩ sắc kiến ngã.
Dĩ âm thanh cầu ngã.
Thị nhơn hành tà đạo.
Bất năng kiến Như Lai.
Nghĩa là: Nếu người nào nhìn qua sắc tướng, diện mạo, hoặc
do âm thanh, mà cầu Phật, hoặc cho rằng có hình tướng như vậy, có âm thanh như vậy, mới phải là Phật, thì người đó đang đi
sai đường, lạc lối, không thể nào gặp được Phật, không
thể nào thấy Như Lai. Nói một cách khác, những người cứ
tưởng: lạy tượng Phật nhiều, tức là hình tướng, tụng kinh
Phật nhiều, tức là âm thanh, thì được gặp Phật, nằm mơ
thấy Phật, những người như vậy, chẳng hiểu biết gì, đang
hành tà đạo, làm sao hiểu được Như Lai? Tại sao vậy?
Bởi vì, Phật hay Như Lai chỉ về tâm tính, vô hình vô tướng,
không có hình tướng có thể thấy được bằng đôi mắt thịt
của con người. Bởi vậy cho nên, muốn thấy được Như Lai,
muốn gặp được Phật, con người phải phát huy trí tuệ bát
nhã, phải nhận ra con người chân thật, nhận ra Chân Tâm Phật
Tính của chính mình và của mọi người chung quanh chúng ta.
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, và trong Kinh Ðại Bát Niết Bàn, Ðức Phật có dạy:
"Sinh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền".
"Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc".
Nghĩa là: Khi nào trong tâm con người, những niệm lăng xăng lộn xộn không còn khởi lên, chẳng hạn như niệm tham, niệm sân, niệm si, khởi lên rồi lắng xuống nên gọi là: sinh diệt, ngay
lúc sinh diệt chấm dứt, không còn đó, tâm trí bình yên lặng
lẽ, không xáo trộn, chẳng bất an, bình tĩnh thản nhiên, an nhiên
tự tại, cho nên gọi là: tịch diệt hiện tiền, hay tịch diệt
vi lạc, tức là cảnh giới an lạc, niết bàn tự tại, hiện ngay
trước mặt.
Tâm trạng bất an vì những niệm sinh diệt, gọi là tâm chúng
sinh. Tâm sinh diệt diệt rồi, không còn lăng xăng lộn xộn nữa,
trở nên tâm không tịch, trống không và tịch tịnh, hoàn toàn
thanh tịnh, gọi là: bản tâm thanh tịnh hay Tâm Phật.
Như vậy muốn tìm gặp được Phật, chúng ta chỉ cần hành trì
các pháp môn, dù thiền tông, tịnh độ tông, hay mật tông, tức
là: thiền quán, tọa thiền, thiền hành, tứ oai nghi thiền, tụng
kinh, niệm Phật, trì chú, cho đến mức rốt ráo, đạt được
trạng thái "nhất tâm bất loạn".
Lúc đó, chẳng những chúng ta gặp được Phật, mà chính chúng ta vừa trọn thành Phật Ðạo đó vậy./.
http://www.phattuvietnam.net/feed/tuhoc/giaolycanban/