Thursday, February 17, 2011

Meaning of 108 beads on a mala.

On a mala, or set of mantra counting beads, there are generally 108 beads, or some fraction of that number. The question often arises: Why are there 108 beads on a mala?
Below are some of the many reasons that have been given for having 108 beads on a mala, as well as a few other points of interest. None of these reasons are being promoted here as more or less true than the others. However, you may notice that 108 appears to be somewhat like a road map of reality in general, and the human in particular.
Regardless of the meaning of 108, it is important that if a mala is used to count mantras, the mantra be remembered with sincerity, devotion, feeling, and full attention.
9 times 12: Both of these numbers have been said to have spiritual significance in many traditions. 9 times 12 is 108. Also, 1 plus 8 equals 9. That 9 times 12 equals 108.
Powers of 1, 2, and 3 in math: 1 to 1st power=1; 2 to 2nd power=4 (2x2); 3 to 3rd power=27 (3x3x3). 1x4x27=108
Harshad number: 108 is a Harshad number, which is an integer divisible by the sum of its digits (Harshad is from Sanskrit, and means "great joy")
Desires: There are said to be 108 earthly desires in mortals.
Lies: There are said to be 108 lies that humans tell.
Delusions: There are said to be 108 human delusions or forms of ignorance.
Heart Chakra: The chakras are the intersections of energy lines, and there are said to be a total of 108 energy lines converging to form the heart chakra. One of them, sushumna leads to the crown chakra, and is said to be the path to Self-realization.
Sanskrit alphabet: There are 54 letters in the Sanskrit alphabet. Each has masculine and feminine, shiva and shakti. 54 times 2 is 108.
Pranayama: If one is able to be so calm in meditation as to have only 108 breaths in a day, enlightenment will come.
Upanishads: Some say there are 108 Upanishads, texts of the wisdom of the ancient sages.
Sri Yantra: On the Sri Yantra there are marmas where three lines intersect, and there are 54 such intersections. Each intersections has masculine and feminine, shiva and shakti qualities. 54 times 2 equals 108. Thus, there are 108 points that define the Sri Yantra as well as the human body.
Pentagon: The angle formed by two adjacent lines in a pentagon equals 108 degrees.
Marmas: Marmas or marmasthanas are like energy intersections called chakras, except have fewer energy lines converging to form them. There are said to be 108 marmas in the subtle body.
Time: Some say there are 108 feelings, with 36 related to the past, 36 related to the present, and 36 related to the future.
8 extra beads: In doing a practice of counting the number of repetitions of the mala, 100 are counted as completed. The remaining are said to cover errors or omissions. The 8 are also said to be an offering to God and Guru.
Chemistry: Interestingly, there are about 115 elements known on the periodic table of the elements. Most of those, around or higher than the number 100 only exist in the laboratory, and some for only thousandths of a second. The number that naturally exist on Earth is around 100.
Astrology: There are 12 constellations, and 9 arc segments called namshas or chandrakalas. 9 times 12 equal 108. Chandra is moon, and kalas are the divisions within a whole.
River Ganga: The sacred River Ganga spans a longitude of 12 degrees (79 to 91), and a latitude of 9 degrees (22 to 31). 12 times 9 equals 108.
Planets and Houses: In astrology, there are 12 houses and 9 planets. 12 times 9 equals 108.
Goddess names: There are said to be 108 Indian goddess names.
Gopis of Krishna: In the Krishna tradition, there were said to be 108 gopis or maid servants of Krishna.
1, 0, and 8: Some say that 1 stands for God or higher Truth, 0 stands for emptiness or completeness in spiritual practice, and 8 stands for infinity or eternity.
Sun and Earth: The diameter of the Sun is 108 times the diameter of the Earth. The distance from the Sun to the Earth is 108 times the diameter of the Sun.
Moon and Earth: The average distance of the Moon from the Earth is 108 times the diameter of the Moon.
Silver and the moon: In astrology, the metal silver is said to represent the moon. The atomic weight of silver is 108.
Numerical scale: The 1 of 108, and the 8 of 108, when added together equals 9, which is the number of the numerical scale, i.e. 1, 2, 3 ... 10, etc., where 0 is not a number.
Meditations: Some say there are 108 styles of meditation.
Breath: Tantra estimates the average number of breaths per day at 21,600, of which 10,800 are solar energy, and 10,800 are lunar energy. Multiplying 108 by 100 is 10,800. Multiplying 2 x 10,800 equals 21,600.
Paths to God: Some suggest that there are 108 paths to God.
Smaller divisions: The number 108 is divided, such as in half, third, quarter, or twelfth, so that some malas have 54, 36, 27, or 9 beads.
Hinduism: 108 is said to refer to the number of Hindu deities. Some say that each of the deities has 108 names.
Islam: The number 108 is used in Islam to refer to God.
Jain: In the Jain religion, 108 are the combined virtues of five categories of holy ones, including 12, 8, 36, 25, and 27 virtues respectively.
Sikh: The Sikh tradition has a mala of 108 knots tied in a string of wool, rather than beads.
Buddhism: Some Buddhists carve 108 small Buddha’s on a walnut for good luck. Some ring a bell 108 times to celebrate a new year. There are said to be 108 virtues to cultivate and 108 defilements to avoid.
Chinese: The Chinese Buddhists and Taoists use a 108 bead mala, which is called su-chu, and has three dividing beads, so the mala is divided into three parts of 36 each. Chinese astrology says that there are 108 sacred stars.
Stages of the soul: Said that Atman, the human soul or center goes through 108 stages on the journey.
Meru: This is a larger bead, not part of the 108. It is not tied in the sequence of the other beads. It is the quiding bead, the one that marks the beginning and end of the mala.
Dance: There are 108 forms of dance in the Indian traditions.
Praiseworthy souls: There are 108 qualities of praiseworthy souls.
First man in space: The first manned space flight lasted 108 minutes, and was on April 12, 1961 by Yuri Gagarin, a Soviet cosmonaut.
by Swami Jnaneshvara Bharati.

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới

Bác sĩ Alizabeth Kubler Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết: "Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được".
    
Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La revue spirite:
    
Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử. Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: "Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?" Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: "Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con". Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.
    
Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: "Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi". Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cơ bút này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành một bức thư như sau:
Các con thân mến,
    
Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội.
    
Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mõi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.
    
Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với "tần số rung động" (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống.

Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.
    
Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặt câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.
    
Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.
    
Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.
    
Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú v.v....
    
Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là "khuôn vàng thước ngọc" thì đời sau lại bị coi là "cổ hủ, lỗi thời"; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi nhũng giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.
   
 Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.
   
 Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán... nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang nhũng thứ đó theo được.

Danh vọng, địa vị, tài sản vất chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kế hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự kinh nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.
   
Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên các nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một giòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sực của nó. Cũng như sống biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu! Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi. Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.

Sunday, February 13, 2011

Tanhavagga - Craving - (verses 334-359)

The craving of the heedless man grows like a Maluva (all entangling) creeper. He runs hither and thither (from one life to another) like a monkey in the forest looking for fruit.

Whosoever in this world is overcome by this base craving, this clinging (to sense objects), his sorrows grow like Birana grass after rain.

Whosoever in this world overcomes this base craving so hard to subdue, his sorrows fall away from him like water drops from a lotus leaf.

This I say to you all who has assemblied here: Dig up the root of craving like one in quest of Birana's sweet root. Let not Mara crush you again and again as a flood (crushes) a reed.

As a tree cut down begins to grow up again if its roots remain uninjured and firm, even so when the root of craving remain undestroyed, this suffering arises again and again.

A man who gives way to pleasure will be swept away by craving and his thoughts will make him suffer, like waves.

The streams (craving) flow everywhere. The creeper (craving) sprouts and stands. Seeing the creeper that has sprung up, with wisdom cut off the roots.

A man's joys are always transient, and since men devote themselves to pleasure, seeking after happiness, they undergo birth and decay.

Folk enwrapt in craving are terrified like a captive hare. Held fast by fetters and bonds, for long they come to sorrow again and again.

Folk enwrapt in craving are terrified like a captive hare. Therefore a Bhikkhu who wishes his own passionlessness (Nibbana) should discard craving.

Whosoever with no desire (for the household) finds pleasure in the forest (of asceticism) and, though freed from desire (for the household), (yet) runs back to that very home. Come, behold that man! Freed, he runs back into that very bondage.

That which is made of iron, wood or hemp, is not a strong bond, say the wise; the longing for jewels, ornaments, children, and wives is a far greater attachment.

That bond is strong, say the wise. It hurls down, is supple, and is hard to loosen. This too the wise cut off, and leave the world, with no longing, renouncing sensual pleasures.

Those who are infatuated with lust fall back into the stream as (does) a spider into the web spun by itself. This too the wise cut off and wander, with no longing, released from all sorrow.

Let go the past. Let go the future. Let go the present (front, back and middle). Crossing to the farther shore of existence, with mind released from everything, do not again undergo birth and decay.

For the person who is perturbed by (evil) thoughts, who is exceedingly lustful, who contemplates pleasant things, craving increases more and more. Surely he makes the bond (of Mara) stronger.

He who delights in subduing (evil) thoughts, who meditates on ``the loathsomeness'' (of the body), who is ever mindful, - it is he who will make an end (of craving). He will sever Mara's bond.

He who has reached the goal, is fearless, is without craving, is passionless, has cut off the thorns of life. This is his final body.

He who is without craving and grasping, who is skilled in etymology and terms, who knows the grouping of letters and their sequence, - it is he who is called the bearer of the final body, one of profound wisdom, a great man.

All have I overcome, all do I know. From all am I detached. All have I renounced. Wholly absorbed am I in ``the destruction of craving''. Having comprehended all by myself, whom shall I call my teacher?

The gift of Truth excels all (other) gifts. The flavour of Truth excels all (other) flavours. The pleasure in Truth excels all (other) pleasures. He who has destroyed craving overcomes all sorrow.

Riches ruin the foolish, but not those in quest of the Beyond (Nibbana). Through craving for riches the ignorant man ruins himself as (if he were ruining) others.

Weeds are the bane of fields, lust is the bane of mankind. Hence what is given to the lustless yields abundant fruit.

Weeds are the bane of fields, hatred is the bane of mankind. Hence what is given to those rid of hatred yields abundant fruit.

Weeds are the bane of fields, delusion is the bane of mankind. Hence what is given to those rid of delusion yields abundant fruit.

Weeds are the bane of fields, craving is the bane of mankind. Hence what is given to those rid of craving yields abundant fruit.

Kodhavagga - Anger - (verses 221-234)

Put anger away, abandon pride, overcome every attachment, cling not to Mind and Body and thus be free from sorrow.

One, who controls his anger when aroused, is like a clever driver who controls a fast going carriage; the others are like those who merely hold the reins.

Conquer the angre man by love; conquer the ill-natured man by goodness; conquer the miser with generosity; conquer the liar with truth.

One should speak the truth, and not yield to anger; when asked one should give though there be litter; by these three things one may go to the presence of the devas, the gods.

Those sages who are harmless, and are ever restrained in body, go to the deathless state (Nibbana), whither gone they never grieve.

The defilements of those who are ever vigilant, who discipline themselves day and night, who are wholly intent on Nibbana, are destroyed.

This is a thing of old, Atula, not only of today; they blame him who remains silent, they blame him who talks much, they blame him who speaks in moderation; none in the world is left unblamed.

There never was, there never will be, nor is there now to be found anyone who is wholly blamed or wholly praised.

Examining day by day, the wise praise him who is of flawless life, intelligent, endowed with knowledge and virtue.

Who deigns to blame him who is like a piece of refined gold? Even the gods praise him; by Brahma too he is praised.

One should guard against misdeeds (caused by) the body, and one should be restrained in body. Giving up evil conduct in body, one should be of good bodily conduct.

One should guard against misdeeds (caused by) speech, and one should be restrained in speech. Giving up the evil conduct in speech, one should be one good conduct in speech.

One should guard against misdeeds (caused by) the mind, and one should be restrained in mind. Giving up evil conduct in mind, one should be of good conduct in mind.

The wise are restrained in deed; in speech, too, they are restrained. The wise, restrained in mind, are indeed those who are perfectly restrained.

Return to The Dhammapada

Cittavagga - The Mind - (verses 33-43)

The fickle, unsteady mind, so hard to guard, so hard to control, the wise man straightens, as the fletcher straightens the arrow.

Like a fish that is drawn from its watery abode and thrown upon land, even so does this mind flutter. Hence should the realm of the passions be shunned.

The mind is hard to check. It is swift and wanders at will. To control it is good. A controlled mind is conducive to happiness.

The mind is very hard to perceive, extremely subtle and wanders at will. Let the wise person guard it; a guarded mind is conducive to happiness.

Faring far, wandering alone, bodiless, lying in a cave, is the mind. Those who subdue it are freed from the bond of Mara.

He whose mind is not steadfast, he who knows not true doctrine, he whose confidence wavers - the wisdom of such a one will never be perfect.

He whose mind is not soaked (by lust), he who is not affected (by haunt), he who has transcended both good and evil - for such a vigilant one there is no fear.

Realising that this body is (as fragile) as a jar, establishing this mind (as firm) as a (fortified) city, he should attack Mara with the weapon of wisdom. He should guard his conquest and be without attachment.

Before long, alas! This body will lie upon the ground, cast aside, devoid of consciousness, even as a useless charred log.

Whatever (harm) a foe may do to a foe, or a hater to a hater, an ill-directed mind can do one far greater (harm).

What neither mother, nor father, nor any other relative can do, a well-directed mind does and thereby elevates one.

Attavagga - The Self - (verses 157-166)

If one holds oneself dear, one should protect oneself well. During every one of the three watches the wise man should keep vigil.

Let one first establish oneself in what is proper, and then instruct others. Such a wise man will not be defiled.

As he instructs others so should he himself act. Himself fully controlled, he should control (others); for oneself, indeed, is difficult to control.

Oneself, indeed, is one's saviour, for what other saviour would there be? With oneself well controlled one obtains a saviour difficult to find.

By oneself alone is evil done; it is self-born, it is self-caused. Evil grinds the unwise as a diamond grinds a hard gem.

Just as the creeper overspreads a Sal-tree and destroys it, the man who allows his wickedness to overcome him, suffers as much as his enemy would have him suffer.

Easy to do are things that are hard and not beneficial to oneself, but very, very difficult, indeed, to do is that which is beneficial and good.

Whosoever rejects the words of the noble, righteous Arahants, such a fool, because of his false views, brings forth on his head ruin and destruction, like the banana-tree which dies when it has borne fruit.

By oneself, indeed, is evil done; by oneself is one defiled. By oneself is evil left undone; by oneself, indeed, is one purified. Purity and impurity depend on oneself. No one purifies another.

For the sake of others' welfare, however, great, let not one neglect one's own welfare. Clearly perceiving one's own welfare,let one be intent on one's own goal.