Thursday, July 4, 2013

Sống là một động từ


Sống là một động từ!
by Steve Tran (Notes) on Thursday, July 4, 2013 at 12:35pm
"Phần lớn mọi người đã chết ở tuổi 25, chỉ có điểu đến 75 tuổi mới chôn mà thôi"
(Most people die at 25 and aren’t buried until they’re 75) ―Benjamin Franklin

Thật vậy, rất nhiều người trong chúng ta sống “khổ” từ bé đến lớn, cho cả đến khi chết đi hay nói theo nhận định ở trên là đã chết lâm sàng từ lâu.  Khổ ở đây không phải về mặt vật chất mà khổ ở mặt tinh thần. Rất nhiều người đánh đổi tuổi trẻ, sức khỏe, hạnh phúc, thời gian bên người thân yêu lấy cái gọi là công việc, sự nghiệp, địa vị và tiền bạc để rồi khi về già hoặc khi ốm đau bệnh tật thì công việc, sự nghiệp mất, sức khỏe suy sụp và sẵn sàng trả giá cao để “mua lại” sức khỏe, còn tuổi trẻ chắc chắn đã một đi không trở lại.

Trẻ em ở Việt Nam thậm chí bị đánh cắp tuổi thơ, học nhiều hơn tận hưởng thời thơ ấu, những đồng phạm tiếp tay lại chính là cha mẹ và thầy cô. Từ lớp mầm non đã phải học thêm, học nếm, học đọc, học viết, học chuẩn bị trước khi bước vào lớp một, cứ như vậy cả cuộc đời niên thiếu cho đến tận khi tốt nghiệp đại học phải đóng vai những con lừa còng lưng cõng sách vở trên vai, “chữ nghĩa kiểu thầy cô” trong đầu.

Tốt nghiệp đại học xong, những người được "xã hội" cho là may mắn, kiếm được việc làm ngay, bước vào cuộc sống thực tế với cơm áo, gạo tiền, làm việc từ sáng đến tối, 8h/ngày, 6 ngày/tuần. Cứ vậy cày cuốc, lo mua nhà mua cửa, mua xe, lấy vợ sinh con đẻ cái, lo sữa, bỉm, tã lót cho con, lo xin cho con đi nhà trẻ, chạy trường, chạy lớp, lo cho con thi cấp 2, cấp 3, đại học, lo xin việc cho con, rồi lo dựng vợ gả chồng, cứ vậy lo cho đến lúc chết. Một cuộc đời hoàn toàn lo âu và toan tính. Đến khi về già chép miệng thở ra: " Âu cũng là một kiếp nợ đồng lần".
Tôi nghĩ không ai trên đời này muốn sống như vậy cả nhưng thực tế nhiều người đang sống như vậy, chỉ đến khi về già có kinh nghiệm có thời gian ngẫm ra thì đã muộn.

Vậy sao chúng ta không thay đổi? Tại sao chúng ta lại vẫn cứ đi theo lối mòn của các thệ hệ đi trước? Chúng ta sợ sự khác biệt, sợ khác với đám đông?

Tại sao không dám tận hưởng cuộc sống? Tại sao không dám mang lại hạnh phúc cho gia đình mình, cho những đứa con, cho những người thân yêu?

Nhiều người nghĩ rằng chúng ta chỉ có thể an nhàn, tận hưởng cuộc sống khi đã có trong tay rất nhiều tiền, sau khi đã về hưu, đã phấn đấu một đời. Vâng,thế hệ tôi được dạy như thế. Nhận thức của xã hội là như thế.  Nhưng có bao giờ bạn nghĩ lúc đó chúng ta quá già, không còn sức khỏe, ốm yếu, bệnh tật, ăn không biết ngon, xương cốt đau nhức, nằm trên giường còn thấy khó ở chứ đừng nói làm gì, tận hưởng vào đâu?

Để tận hưởng vật chất cần có nhiều tiền? Đó là một nhận thức sai lầm. Thực tế, tại Việt Nam nhiều đại gia sống trong tòa biệt thự hoành tráng, đất đai vô số, sởhữu Roll-Royce, xài toàn hàng hiệu  … nhưng trong lòng lại bất an, ăn nhà hàng hạng sang nhưng không thấy ngon, tối ngủ giường êm, đệm ấm nhưng giấc ngủ chập chờn, không an giấc. Đến khi thức giấc lại phải đối mặt với toàn toan tính. Tất nhiên, nếu có được tất cả là điều tuyệt vời nhưng điểm quan trọng mấu chốt ở đây chính là cân bằng cuộc sống. Bạn hãy bằng lòng với cuộc sống không có thật nhiều tiền như đại gia chỉ có mỗi thứ một chút, nhưng cân bằng cuộc sống chắc chắn sẽ rất thú vị và hạnh phúc.
Angkor Wat- một trong những kỳ quan thế giới, đi từ Saigon bằng xe buýt chỉ vài trăm ngàn

Tận hưởng cuộc sống không phải là khái niệm vật chất, vì vậy không liên quan đến vật chất, không cần tiền bạc. Tận hưởng cuộc sống là khái niệm tinh thần. Đó là cảm nhận, là nhu cầu tinh thần. Bất kỳ ai cũng có thể tận hưởng cuộc sống theo cách của họ, ở bất kỳ đâu, vào bất cứ lúc nào. Ngay bây giờ, bạn có thể tự cho chép bản thân mình thư giãn, nằm trên một đồng cỏ xanh, hay nhâm nhi cà phê góc phố ngắm người qua lại, hay thả hồn trong những trang sách trong góc phòng tĩnh lặng. 
Bãi giữa Sông Hồng, bạn có thể đạp xe ra đó nằm phơi nắng, đọc sách hoặc tổ chức ăn nhậu thịt nướng BBQ.


Hãy sống chậm lại, cảm nhận và hưởng thụ cuộc sống! Đừng để xã hội vật chất cuốn trôi bạn đi, dòng đời xô đẩy làm bạn mất kiểm soát. Cuộc sống quanh ta có rất nhiều điều thú vị, dễ thương nho nhỏ, nhưng chỉ vì bước đi quá vội vã mà chúng ta bỏ qua. Tại sao các nhạc sỹ lại cảm nhận được nốt nhạc trong cuộc sống, tại sao nhà thơ lại có thể rung động trước một nhành hoa? Có thể họ được ông trời thiên phú cho một số tài năng, cảm nhận bẩm sinh nhưng có một điều chắc chắn họ hơn ta trong thực tế là họ đã dừng lại, đóng băng khoảnh khắc đó, cảm nhận, nâng niu, sung sướng, hạnh phúc rồi tìm những ca từ, nốt nhạc, chắt chiu,chọn lọc, chậm rãi để biến những rung động, cảm nhận cá nhân đó thành những khuông nhạc hay áng thơ. Tất cả những cái đó đầu tiên là để thỏa mãn cá nhân, để giúp họ hưởng thụ cuộc sống sau đó mới phổ biến ra xã hội như một cách họ chia sẻ niềm vui. Họ đã dành thời gian để sống chậm lại với những khoảnh khắc, còn ta thì tua nhanh cho đến hết cuộc đời. 

Người phương Tây có câu: “Cuộc sống là một món quà” (Life is a gift). Hay trong hậu Tây Du Ký của Phương Đông, sau khi bốn thầy trò Đường Tam Tạng đi Tây Trúc thỉnh kinh về, được đầu thai làm Bồ Tát. Trong đêm cuối cùng của kiếp người, đợi ngày mai trời sáng vào cõi Niết Bàn, Tam Tạng trằn trọc bâng khuâng không ngủ được mà theo lời Tôn Ngộ Không là do ông nhớ cả một kiếp người, Tôn Ngộ Không là một con khỉ đá và thích hưởng thụ cuộc sống, hỉ nộ ái ố của kiếp người hơn là kiếp Phật vô ưu vô lo. Chúng ta là người nhưng lại không cảm nhận được sao?

Hãy tận hưởng những giây phút bạn sống trên cuộc đời này. 

Sống là một động từ vì vậy hãy sống sao cho sống động.

Hãy cảm ơn cuộc sống vì những gì mình có, cũng như chính sự hiện diện của bạn trên cuộc đời này. Nếu không là người chúng ta là cái gì? Bạn thích sự vô hình, vô tưởng, không biết đó? Hãy hạnh phúc khi mỗi sáng mai thức dậy thấy cơ thể khỏe mạnh, yêu đời. Hãy tận hưởng cuộc sống, hạnh phúc với những điều rất bình dị, như nô đùa cùng con trẻ, tiếng cười khúc khích của trẻ thơ, bữa ăn ấm cúng cùng gia đình, nghe thì đơn giản nhưng nhiều người để tuột qua, khi mất rồi mới thấy tiếc. 
Tận hưởng những giây phút chơi đùa cùng con cái

Vật chất ư? Ngay cả với những chuyên gia kinh tế học nổi tiếng thế giới như AlfredMarshall, Adam Smith hay Milton Friedman còn cho rằng công việc của họ là tìm hiểu xem con người làm những cái gì và ảnh hưởng của những hành vi này đối với xã hội loài người ra sao và kinh tế học là môn học để làm sao thu nhận được nhiều nhất từ cuộc đời.

Nếu chiếu theo lăng kính này, mỗi chúng ta có một xuất phát điểm như nhau, đều sinh ra và có số vốn bằng nhau đó là cuộc sống, đơn vị đồng tiền chính là thời gian. Hãy làm sao thu lời lớn nhất từ cuộc đời của bạn và hãy hạnh phúc với những gì bạn có. Một trong những kịch bản phim khai thác đề tài này khá thú vị là "In Time", các bạn có thể xem để tham khảo.

Sống là để trải nghiệm

Hãy chấp nhận cuộc sống với những thách thức, những vui buồn, hỉ nộ ái ố, hãy luôn mỉm cười với cuộc sống, gạt bỏ sự nhút nhát, sẵn sàng thử nghiệm và thay đổi chính mình. Thử nghiệm và Thất Bại (Test & Error) là chuyện bình thường. Các nhà khoa học nghiên cứu còn thích thú với quá trình đó. Sao bạn không áp dụng vào cuộc sống hàng ngày, ví dụ bạn hay ngượng trước đám đông nhưng lại đăng ký tham gia một lớp học nhảy đầm ngoài vườn hoa. Bạn sợ độ cao nhưng đăng ký một lớp học leo núi. Đôi lúc dám làm những điều bạn không thích có thể mang đến cho bạn những niềm vui bất ngờ, những thử nghiệm thú vị, cho bạn kinh nghiệm, kỹ năng và tăng sự tự tin. Hãy sẵn sàng thử nghiệm, vượt qua những thách thức của bản thân, làm những điều bình thường mình sợ không dám làm miễn là không vi phạm luân thường đạo lý và trái với lương tâm. Trong lần đi chơi trèo thuyền Kayak và leo núi ở Vịnh Hạ Long vừa rồi, người hướng dẫn viên nói với chúng tôi rằng, đoàn của chúng tôi là đoàn người Việt Nam đầu tiên. Vậy hóa ra từ trước đến nay, bao cảnh đẹp và thú vui ở ngay Việt Nam chỉ dành cho Tây chơi thôi sao? Họ phải mất tiền bay máy bay từ một nơi xa xôi đến đây để được trải nghiệm một trong những danh thắng của thế giới, còn chúng ta người bản xứ cơ mà.

Sống chậm không có nghĩa là lười biếng

Sống chậm và tận hưởng cuộc sống không có nghĩa là lười biếng, không làm gì cả mà sự thực là đòi hỏi nỗ lực 100%. Bạn muốn dạy sớm đạp xe dưới anh ban mai, hay trong tiết trời Thu lành lạnh, hít thở không khí trong lành, mùi thơm của hương hoa đất trời, đi về cà phê ăn sáng, tán gẫu cùng bạn bè nhưng lại không muốn chui ra khỏi chăn lúc trời vừa sáng. Bạn muốn lên đỉnh núi ngắm hoàng hôn nhưng không muốn leo núiVới bất kỳ việc gì hãy nỗ lực hết sức của mình. Không phải tất cả các phát minh khoa học đến từ lần thí nghiệm đầu tiên. Không phải tự nhiên một ai đó có thể trượt băng, trượt tuyết, đi vòng quanh thế giới, đến được những nơi thâm sơn, cùng cốc, tận cùng của thế giới, những thành phố cổ xưa với nền văn minh đã mất, dám nhảy xuống biển khơi từ những vách đá treo leo dựng đứng, chinh phục những đỉnh cao, nơi không khí loãng có thể làm chết người. Tất cả những thứ đó đều đòi hỏi nỗ lực, nỗ lực chinh phục chính bản thân mình, nỗ lực hoàn thiện bản thân mình, nỗ lực đưa mình ra chấp nhận thách thức của thiên nhiên. Bởi vì kẻ thù lớn nhất của đời người chính là bản thân mình. Một khi bạn đã chinh phục tất cả các kỳ quan của thế giới, cuộc đời có nhiều trải nghiệm, bạn sẽ tự tin hơn, “người” bạn sẽ lớn lên và trái đất sẽ ngày càng nhỏ lại dưới đôi bàn chân bạn. Làm hay chơi cũng thế thôi cần rất nhiều nỗ lực.
Nhà ga xe lửa nơi tận cùng thế giới

Hãy làm tận sức, sống tận hưởng và luôn luôn nỗ lực hết mình!

Chúc các bạn một cuộc sống nhiều niềm vui!


Steve Tran - Hanoi - Fourth of July


Câu chuyện Liễu Phàm Tứ Huấn

Friday, June 28, 2013

Ba cánh cổng của sự thông thái


Một vị vua có duy nhất một người con trai là một hoàng tử dũng cảm tài giỏi và thông minh. Nhà vua gửi anh ta tới gặp một nhà thông thái để hoàng tử được mở mang nhận thức.
-“Xin hãy khai sáng cho con đường của con”, hoàng tử van nài.
-“Những lời nói của ta sẽ tan biến như những bước chân trên cát, nhà thông thái đáp.
Tuy nhiên, ta sẽ cho con vài chỉ dẫn. Trên đường đi, con sẽ đi qua ba cánh cổng. Hãy đọc những câu viết trên đó. Con sẽ không cưỡng lại được yêu cầu phải làm theo những lời đó. Đừng tìm cách bỏ qua, con sẽ buộc phải sống nữa sống mãi trong điều đó. Ta không thể nói gì hơn. Con phải nếm trải tất cả bằng con tim và thể xác, giờ thì con đi đi. Hãy đi theo con đường ngay phía trước con.”

Nhà thông thái biến mất và hoàng tử bắt đầu bước đi trên đường đời. Chẳng mấy chốc hoàng tử băng qua một cánh cổng lớn trên đó có thể đọc thấy rằng:

“THAY ĐỔI THẾ GIỚI”
-“Đây chính xác là điều mình dự định làm, hoàng tử nghĩ thầm, vì có những điều thú vị và không thú vị trên thế giới này.”
Và anh ta bắt đầu cuộc đấu tranh đầu tiên. Được dẫn dắt bởi lý tưởng, nhiệt huyết, và sức mạnh thúc đẩy phải đương đầu với thế giới, anh ta chịu trách nhiệm, chinh phục, đưa ước vọng đến thực tế. Anh ta trải qua niềm vui và hứng khởi của kẻ đi chinh phục, nhưng con tim không được thanh thản. Anh ta xoay xở thay đổi một số điều nhưng những điều khác thì không thay đổi được.
Nhiều năm trôi qua. Một ngày kia, anh ta gặp lại nhà thông thái:
-“Con đã học được gì trên đường đời?”
-“Con đã học, hoàng từ đáp, cách hiểu được điều gì trong khả năng của con và điều gì ngoài khả năng, hiểu điều gì thuộc về con và điều gì thì không”.
-“Tốt lắm, nhà thông thái nói. Hãy dùng sức mạnh của con để hành động dựa trên điều con có thể. Hãy quên những điều con không thể làm.”
Và nhà thông thái biến mất. Một lúc sau hoàng tử đi qua cánh cổng thứ hai. Người ta có thể đọc thấy rằng:

“THAY ĐỔI NGƯỜI KHÁC”
-“Đây chính xác là điều mình dự định làm, hoàng tử nghĩ thầm. Những người khác mang đến niềm vui và sự thú vị, nhưng cũng gây cho ta nỗi đau va sự cay đắng và sự thất vọng”.
Và anh ta kháng cự lại tất cả những gì làm xáo trộn hay trái ý anh ta. Anh ta đấu tranh nhằm thay đổi tâm hồn họ, và sửa chữa những lỗi lầm của họ. Đây chính là cuộc chiến thứ hai của anh ta.
Nhiều năm nữa trôi qua. Một ngày nọ, khi anh ta đang trầm tư về sự vô ích khi nỗ lực thay đổi người khác, anh ta đi lướt qua nhà thông thái và ông ta hỏi hoàng tử:
-“Con đã học được gì trên đường đời?”
- “Con đã học, hoàng tử đáp, rằng những người khác không phải là nguồn vui hay nỗi đau buồn, thành tựu hay thất bại. Họ chỉ ở đó để làm con nhận thức. Chính con tạo nên cảm xúc cho chính mình.”
-“ Con nói đúng, nhà thông thái nói. Mặc dù điều mà họ đánh thức trong con, họ đã làm con nhận thức chính con. Hãy tỏ lòng biết ơn đối với những ai làm con vui sướng và hạnh phúc. Nhưng cũng phải biết ơn những ai luôn làm con tổn thương và thất vọng, cuộc sống sẽ dạy con. Con còn phải học, và còn cả con đường dài trước mặt.”
Và nhà thông thái biến mất. Một lúc sau, hoàng tử đi qua một cánh cửa nơi có thể đọc thấy những lời rằng:

“THAY ĐỔI CHÍNH BẠN”
-“Nếu chính tôi là nguyên nhân của nhiều vấn đề, đây là điều mà tôi phải giải quyết” hoàng tử nghĩ thầm.
Và anh ta bắt đầu cuộc đấu tranh thứ ba. Anh ta cố chuyển biến tính cách của mình, tranh đấu với sự không hoàn hảo của mình, xoá bỏ khuyết điểm, và thay đổi mọi thứ không phù hợp với lý tưởng của anh ta.
Sau nhiều năm tranh đấu đôi khi thành công đôi khi thất bại, hoàng tử đã gặp lại nhà thông thái và ông ta hỏi hoàng tử:
-“Con đã học được gì trên đường đời?”
-“Con đã học, hoàng tử đáp, rằng một số điều có thể cải thiện được, những điều khác ngược lại và không thể thay đổi được.”
-“Tốt lắm, nhà thông thái nói.
-“Vâng, hoàng tử tiếp tục, nhưng con thấy mệt mỏi khi chống lại mọi thứ và chống lại chính mình. Điều này sẽ không bao giờ kết thúc phải không? Khi nào con sẽ được nghỉ ngơi? Con muốn ngừng đấu tranh, muốn từ bỏ, bỏ hết.”
-“ Đây dường như là bài học sắp tới của con, nhà thông thái nói. Nhưng trước khi tiến xa hơn nữa, hãy đi vòng quanh cánh cửa và nhìn lại con đường mà con đã bước qua”
Và nhà thông thái lại biến mất. Khi hoàng tử nhìn lại phía sau, anh ta thấy cánh cửa thứ ba và nhận ra rằng có thể đọc một lời tiên tri khác ở phía sau:

“CHẤP NHẬN CHÍNH BẠN”
Hoàng tử tự hỏi tại sao anh ta không nhận ra lời chỉ dẫn này khi băng qua cánh cửa đầu tiên, ở phía đối diện.
-“Khi ta mải tranh đấu, ta trở nên mù, anh ta tự nhủ.”
Hoàng tử cũng nhìn thấy, trải dài suốt mặt đất chung quanh anh ta, mọi thứ mà anh ta loại bỏ và đấu tranh bên trong mình:những sai lầm, những mặt xấu, những giới hạn, và tất cả tính ác. Và rồi anh ta học được làm thế nào để tổ chức chúng, chấp nhận chúng và yêu quý chúng. Anh ta đã học cách yêu chính mình mà không so sánh, phán xét, trách móc.
Hoàng tử lại gặp nhà thông thái và ông ta hỏi:
-“Con đã học được gì trên đường đời?”
-“ Con đã học, hoàng tử đáp, rằng ghét bỏ hay chối bỏ chính mình để mà kết án chính mình sẽ không bao giờ có được sự yên bình cho chính mình. Con đã học cách chấp nhận chính mình, một cách hoàn toàn, một cách vô điều kiện.”
-“Tốt lắm, nhà thông thái nói, đây chính là chặng đường đầu tiên của sự thông thái. Giờ thì con hãy đi qua cánh cửa thứ ba một lần nữa.”
Ngay khi hoàng tử đến phía bên kia của cánh cửa, anh ta nhìn thấy mặt sau của cánh cửa thứ hai và nó được ghi rằng:

“CHẤP NHẬN NHỮNG NGƯỜI KHÁC”
Xung quanh mình hoàng tử nhận thấy những người mà anh ta đã gặp trong cuộc đời; những người mà anh ta đã yêu, những người anh ta ghét. Những ai mà anh ta đã giúp đỡ, những người mà anh ta tranh đấu. Nhưng thật bất ngờ, anh ta không thể nhìn thấy những sai lầm của người khác, những sai lầm đã làm anh ta phiền lòng và khiến anh ta phải tranh đấu.
Hoàng tử đến gặp nhà thông thái một lần nữa.
-“Con đã học được gì trên đường đời?”sau cùng nhà thông thái hỏi.
“Con đã học, hoàng tử đáp, rằng nếu con hoà thuận với bản thân, con sẽ không trách móc những người khác, không sợ hãi họ. Con phải học cách chấp nhận những người khác hoàn toàn và không điều kiện.”
-“Tốt lắm,” nhà thông thái nói. Đây là chặng đường thứ hai của sự thông thái. Con có thể đi qua cánh cửa thứ hai.
Khi hoàng tử đến phía bên kia, anh ta nhìn thấy phía sau cánh cửa đầu tiên và đọc thấy:

“CHẤP NHẬN THẾ GIỚI”
-“Thật kì lạ, hoàng tử nghĩ thầm, “Tại sao mình không nhìn thấy lời chỉ dẫn này lần đầu?”
Hoàng tử nhìn quanh mình và nhận thấy thế giới mà anh ta cố chinh phục, biến chuyển, và thay đổi.Anh ta bị choáng ngợp bởi sự tươi sáng và vẻ đẹp của mọi vật. Bởi sự tuyệt mỹ. Và vì nó chính là cùng một thế giới như trước đây. Có phải thế giới đã thay đổi, hay nhận thức đã thay đổi?
Hoàng tử lại đến gặp nhà thông thái và ông hỏi :
-“Con đã học được gì trên đường đời?”
-“Con đã học, hoàng tử đáp, rằng thế giới là chiếc gương của tâm hồn. Tâm hồn của con, trái tim của con không nhìn thấy thế giới , mà nhìn thấy chính nó trong thế giới. Khi tâm hồn và trái tim con reo vui, thế giới dường như cũng vui. Khi chúng buồn rầu, thế giới dường như cũng buồn. Thế giới, không buồn cũng không vui. Nó chỉ là, là tất cả. Nó không phải là thế giới gây phiền toái cho con, mà là ý tưởng con có về nó. Con chấp nhận nó mà không phán xét , hoàn toàn, một cách không điều kiện.
-“Đây là điều thông thái thứ ba, nhà thông thái nói. Hiện giờ con hoà thuận với chính con và với những người khác trên thế giới.”
Một cảm giác sâu sắc của sự yên bình, tĩnh lặng và chế ngự hoàn toàn hoàng tử.
Sự im lặng bên trong anh ta.
-“Con đã sẵn sàng, giờ thì, hãy vượt qua ngưỡng cửa cuối cùng, nhà thông thái nói, Từ sự im lặng của hoàn toàn im lặng”.
Và nhà thông thái biến mất.

Friday, June 21, 2013

Niềm vui nào chánh đáng và bền vững nhất?



NIỀM VUI (HẠNH PHÚC) CÓ TỪ ĐÂU, NGUỒN VUI NÀO CHÁNH ĐÁNG VÀ BỀN VỮNG NHẤT?

     Thế gian có nhiều thú vui lắm. Bất cứ trò chơi nào cũng đều vui cả: chơi bóng, chơi cờ, đánh đàn, ca hát, nhảy múa, bơi lội, chèo thuyền, câu cá, nuôi chim thú,du lịch, thậm chí bài bạc, rượu chè, hút xách, trai gái,…Tuy nhiên, để giải mã câu đố NGUỒN VUI NÀO CHÁNH ĐÁNG VÀ BỀN VỮNG NHẤT? chúng ta cần động não bàn luận nhiều.
Hình như thiên hạ xưa nay cứ đi tìm thuốc trường sinh hay một bí kíp nào đó để nắm vững thành công, nói chung ai cũng công khai hoặc ngấm ngầm khao khát đạt đến đỉnh cao đệ nhất nào đó cho đáng một kiếp người. Như câu thơ:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn là le lói suốt trăm năm!
Một ngày bên mạn thuyền rồng
Còn hơn suốt kiếp ngủ trong thuyền chài!
     Giấc mộng du Tiên cảnh của Từ Thức hình như không còn là giấc mộng riêng tư nữa. Những mơ ước đó có chánh đáng không, có đáng khuyến khích không, có thể thực hiện không; đó là điều ta cần suy nghĩ và có đáp án. Nếu nó không chánh đáng bền vững thì cái ước nguyện nào, niềm vui hạnh phúc nào là tiêu chuẩn chung nhất?
     Các tôn giáo đều có tôn chỉ giáo điều đưa ra mục tiêu rèn luyện tu dưỡng kể cả phương pháp để đạt đến hạnh phúc trọn vẹn và vĩnh cửu. Đó là những căn cứ giúp chúng ta có điều kiện tham khảo giải mã vấn đề trọng đại nhất này của cuộc sống.
     Có thể tóm tắt các đỉnh hạnh phúc của các tôn giáo lớn mà hầu hết chúng ta đều biết đến như sau:
Phát xuất từ Ấn độ
Bà la môn giáo
Ấn độ giáo
Phật giáo
Kỳ na giáo
Sikh giáo
Phát xuất từ Trung quốc, Nhật bản
Khổng giáo
Lão giáo
Thần đạo giáo
Phát xuất từ Trung Đông
Thiên chúa giáo ( Ki tô giáo)
Tin lành giáo
Anh giáo (Thanh giáo)
Do thái giáo
Hồi giáo
Ba ‘hai giáo
Bái hỏa giáo
Phát xuất từ châu Phi, châu Mỹ
Tô – tem giáo ( thờ vật tổ)
Việt nam: Cao đài, Hòa hảo, Tịnh độ cư sĩ, Bửu sơn kỳ hương, Tịnh độ non Bồng, ... 
     Với nhiều đạo giáo như thế chứng tỏ có sự phân hóa trong tư tưởng, ước vọng của loài người. Bình tâm nhận định xem những ước mơ đổi đời của các tín đồ có là mê tín hay có  cơ sở biến thành hiện thực. Dĩ nhiên ta thấy có những khuynh hướng khác nhau trong mưu cầu hạnh phúc tối thượng trong niềm tin tôn giáo, thậm chí đối nghịch nhau như đạo Chúa tin có Chúa và chỉ có Chúa mới cứu rỗi khỏi mọi tội lỗi của con người nhưng đạo Phật cho rằng mỗi người đặt định số phận mình theo luật nhân quả nhiều đời nhiều kiếp nên cũng có thể xoay chuyển nghiệp tức số phận mình cho tốt đẹp hơn, thậm chí cũng có thể về nơi rốt ráo Niết bàn được quả vị bình đẳng như Phật. Các tôn giáo khác đều có cũng có niềm tin tuyệt đối sẽ được cứu rỗi theo cách giáo chủ của họ thuyết.
     SỰ THẬT luôn vẫn là sự thật dù có đa dạng suy tư khác nhau của con người. Đa số chúng ta tin rằng CHÂN LÝ chỉ có một như hình tượng một đỉnh núi có muôn ngả lên. Tuy thế vẫn khiên cưỡng vì thực tế còn nhiều đỉnh núi khác, ngay cả một núi nó còn có nhiều đỉnh thậm chí là cả dải núi hàng trăm hàng nghìn cây số !
     Thế thì rõ ràng cái chắc như đinh đóng cột của người này lại không đúng đối với người khác. Chúng ta lại phải quay về thuyết Tương đối mà nhà đại bác học Einstien đã tìm ra và khẳng định. Tìm cái Tuyệt đối ở cõi tạm trần gian hữu hạn này là điều không thể và không bao giờ có. Nói vậy có nghĩa chúng ta để ngỏ cũng sẽ có cõi vĩnh hằng hoàn toàn trong sạch sáng đẹp mà nơi đó hiển hiện cái CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI !
     Hạnh phúc thay cho những ai xác lập được hướng sống đến cõi vĩnh hằng tuyệt đối ấy! Phước báu thay cho những ai ngày ngày tu tập để đầy đủ tư lương cho ngày về đến cõi toàn mỹ ấy! Và cũng thương tiếc thay cho những ai vẫn còn đắm chìm trong tà kiến mơ mộng về những cõi tạm còn đầy dẫy uế tạp nhiễm ô!
     Bài viết mong đánh hồi chuông cảnh tỉnh mọi người rời khỏi cơn mê để trở thành bậc thức giả an nhiên tự tại thong dong bước lên con đường sáng trường cửu thọ đắc hạnh phúc đời đời. Đó là quy mạng lễ Ngài Phật A Di Đà. Vì sao tôi khẳng định vị Phật này đủ năng lực điều kiện giúp chúng ta về cõi sống vĩnh viễn tốt đẹp ấy? Vì Ngài có 48 đại nguyện tiếp dẫn tất cả mọi chúng sanh – không phân biệt đối tượng thành phần nào – chỉ một điều kiện duy nhất vô cùng đơn giản là niệm danh hiệu Ngài khi lâm chung: A DI ĐÀ PHẬT
     Hiệu ứng của câu niệm Phật này đã được chứng minh thuyết phục hàng nhiều thập niên nay trên toàn thế giới. Cụ thể là cư sĩ Đạo Tiến sau 8 năm thực hành trợ niệm danh hiệu A DI ĐÀ PHẬT cho người lâm chung đã tiết lộ một việc mà khoa học hiện đại không làm được và chứng minh nổi, trong buổi nói chuyện tại Tịnh xá Ngọc Uyển TP. Biên hòa sáng chủ nhật 16/6/2013. Đó là chỉ sau 4 giờ niệm Phật Di Đà, tất cả người mất đều tự ngậm miệng nhắm mắt lại và cơ thể hồng hào mềm mại đến 5 – 7 ngày sau.Những biểu hiện chứng tỏ người mất đã được Đức A DI ĐÀ tiếp dẫn hương linh về cõi Tây phương Cực lạc, thoát hẳn kiếp luân hồi thác sanh về cõi tạm trần gian đầy uế trược phiền não não; để mãi mãi an vui ở cõi có ao thất bảo, cành vàng lá ngọc, chim hót giảng pháp, tưởng gì có nấy…!
     Quả là không còn cơ hội nào thuận lợi hơn, lớn lao hơn là nắm bắt được thông tin đơn giản mà vô cùng vi diệu này. Các đạo hữu phật tử chúng ta hãy thoải mái phấn khởi nắm tay nhau cùng sống NIỆM TÂM TÂM NIỆM PHẬT A DI ĐÀ để cùng lên thuyền Bát nhã vượt qua sông mê đời đến bờ giác đạo: giác ngộ,tuệ giác, huệ giác, chánh đẳng chánh giác, viên giác, mãn giác, toàn giác.

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI  BI ĐẠI NGUYỆN ĐẠI LỰC TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT!
Cư sĩ MINH TÁNH – TP. Biên hòa


Thursday, April 25, 2013

Cụ Triệu-Vinh-Phương biết trước ngày giờ Vãng Sanh


"...Cụ Triệu-Vinh-Phương biết được ngày giờ ra đi cho nên họ hộ niệm trước 3 ngày, còn Nội cháu đâu biết ngày nào đi cho nên phải hộ niệm liên tục, nghĩa là hằng ngày đều tới nhắc nhở và ngồi niệm Phật chung với Nội. Thực tế, như cụ Phương thì không cần hộ niệm cũng được vãng sanh, vì cụ đã được Phật A-di-đà thọ ký, đã được Phật xác định ngày giờ Phật tới tiếp dẫn, cụ đã thành tâm niệm Phật đến nhứt tâm bất loạn thì cần ai hộ niệm nữa."  ("Khuyên người niệm Phật")

Lời Khuyên Cháu Gái - An Lạc và Hiếu Nghĩa



17/12/2010
Cháu Tuyết thương,
Cậu đã đọc kỹ thư cháu, trước tiên cậu khen cháu lắm đó. Một người trẻ mà có tâm hướng Phật trong một môi trường sinh hoạt khó khăn như cháu thật hiếm có và đáng quý. Sự hướng về Phật tu tập không phải là việc tầm thường đâu, đây chính là thiện căn của cháu đã có từ trong những đời trước. Ví dụ như khi cậu Năm viết thư về quê cho ông bà ngoại, thì dì Thứ của cháu đã cảm ứng trước tất cả mọi người. Đây chính là thiện căn phúc đức và nhân duyên của dì Thứ có đầy đủ hơn so với người khác trong gia đình. Trong đời này chúng ta là thân thuộc, vợ chồng, cha con, cậu cháu, anh chị em với nhau… tất cả đều do một duyên nợ từ tiền kiếp nào đó. Sau cuộc đời này có thể còn gặp nhau, cũng có thể không bao giờ gặp lại. Cuộc sống của một chúng sanh trải dài từ thật lâu xa trong quá khứ vô cùng cho đến mãi về tương lai thời gian vô tận. Cháu hãy tưởng tượng có hai sợi chỉ thật dài, bỗng nhiên nó nhập lại một cái gút, rồi sau đó lại tiếp tục đi tiếp. Mỗi sợi chỉ tượng trưng một mạng sống, hai sợi chỉ gút lại là cái duyên nợ ân oán với nhau trong đời này. Thời gian chúng ta ở chung với nhau nó dài cũng giống như cái gút so với chiều dài sợi chỉ vậy cháu à.
Khi cháu hiểu được Phật pháp rồi cháu sẽ thấy rõ ràng những sợi chỉ đó và những cái gút đó. Có sợi chỉ thoát được cái gút đi lên, có sợi chỉ qua khỏi cái gút đâm đầu đi xuống. Nếu thức tỉnh quay đầu thì vượt lên được, còn không thì đi thẳng vào nơi hiểm nạn, khổ đau vô tận. Thư của cháu lời lẽ rất tha thiết, có hiếu có nghĩa. Cậu Năm khen lắm, cậu sẽ theo thứ tự giúp ý kiến giải quyết những khó khăn cho cháu.
Trước hết, “Cháu lo sợ rằng ngày mãn phần của bà Nội cháu đã gần kề”. Đọc đến dòng chữ này làm cậu Năm cũng cảm thấy ngậm ngùi, ngậm ngùi cho Nội cháu, ngậm ngùi cho số kiếp con người. Bao nhiêu năm bôn ba quật lộn với đời, cuối cùng chợt nghĩ lại thì những gì xảy ra trong quá khứ tuồng như một giấc mộng lờ mờ lưu lại trong trí nhớ; cảnh hiện tại như trò huyễn hóa, còn đây mất đó hồi nào không hay; những ước vọng cho tương lai tưởng chừng là vàng son gấm vóc, nhưng đó cũng chỉ là những áng mây trôi, tan hợp hợp tan chập chờn không thực! Đối diện với cảnh sắp chia ly, ai mà không buồn, ai mà không đau xót! Nếu là người không hiểu đạo thì cảnh phũ phàng này sẽ đem đến sự đau khổ vô cùng, thương tâm vô tận, sầu não vô biên! Nhưng hiểu cho thấu kiếp nhân sinh thì đây là lẽ đương nhiên thôi!
Tất cả mọi người ai cũng đang đi về chỗ đó, rồi đây tới ông bà ngoại, tới cậu, tới cha má cháu, tới cháu, tới con của cháu… không ai tránh khỏi. Con người vừa mới sinh ra là đã bắt đầu tìm đường đi vào phần mộ, thì cần gì phải chờ ngày già rồi mới hiểu phải không cháu? Thế nhưng người không biết tu, không hiểu đạo họ sẽ rối bời, tâm hồn bấn loạn, mê mê mờ mờ để đem huệ mạng của mình gởi cho vào nơi hiểm ác. Còn người biết tu thì họ chờ đợi sự ra đi như một cơ hội để giải thoát, vẫy tay vui vẻ chào giã biệt cuộc đời khổ nạn.
Cháu nên biết rằng, một khi mình chọn con đường giải thoát thì mình giải thoát, an hưởng tất cả những sự sung sướng an lạc trên đời; mình chọn con đường đoạ lạc mình chịu đau khổ vô biên, tự mình dìm đời mình trong tăm tối phiền não triền miên vạn kiếp. Cho nên khổ đau hay hạnh phúc đang nằm ngay trong tâm của mỗi một chúng ta. Giải thoát hay đọa lạc đang ở ngay trước mắt, nó chỉ là sự lựa chọn tùy ý của mình mà thôi. Người lâm chung mà được sáng suốt, tâm hồn tỉnh táo biết đường đi họ sẽ chọn lựa con đường tốt: “Đường về Cực-lạc”, người mê muội hoặc không biết đường đi, họ sẽ bị nghiệp chướng lôi kéo vào ngả hiểm nguy: “Đường về đọa lạc”. “Cực-lạc” hay “Đọa-Lạc” là do sở nguyện của mình, chính cái nguyện nó có năng lực rất mạnh, có thể quyết định được tương lai cho mình! Nguyện vãng sanh, mình vãng sanh về với Phật, không có lời nguyện thì mình trôi theo giòng nghiệp lực để thọ nạn.
Chính vì điểm này mà lúc nào Cậu cũng nhắc nhở phải nhớPHÁT NGUYỆN VÃNG SANH. Người hằng ngày phát nguyện vãng sanh Tây-phương Cực-lạc với Phật, thì họ đã chuẩn bị đợi chờ ngày mãn báo thân để được gặp Phật, thì làm sao họ sợ sệt hay hoảng hốt trước giây phút lâm chung! Chính vì thế mà tất cả những người chí thành niệm Phật đều có tâm hồn tỉnh táo, an vui, tự tại trong phút giây ra đi. Họ bình tĩnh đợi đức Phật A-di-đà đến tiếp dẫn để họ bỏ cái xác thân trần tục lại rồi đi theo quang minh của Phật. Ấy gọi là Vãng-Sanh. Sự thành tựu này, một là do lòng tin kiên cường và chí thành nguyện cầu của mình; hai là nhờ sự gia trì của Phật A-di-đà.
Có nhiều người họ biểu diễn đứng vãng sanh, ngồi vãng sanh, hẹn lại ngày vãng sanh, làm tiệc vãng sanh… giống như trò xiệc vậy. Ví dụ như pháp sư Đế-Nhàn có một người đệ tử, ông ta dốt chữ, không đọc kinh được, không thông minh, không làm gì được cho chùa. Thế nhưng ông ta lại muốn xuất gia, Ngài không cho nhưng ông ta cứ nằn nèo xin hoài, Ngài Đế-Nhàn mới chấp nhận và giao cho ông ta tới một cái am vắng để niệm Phật. Ngài dặn chỉ niệm Nam-mô A-di-đà Phật thôi, ngoài ra có giờ rảnh thì phụ với bà cụ coi chùa lo quét dọn trước sau. Ba năm sau ông ta đứng thẳng chắp tay hướng về sư phụ mà vãng sanh. Trước khi vãng sanh, ông báo cho bà cụ biết để khỏi nấu cơm và hãy mau đi về tự viện báo với sư phụ tới mai táng. Ông vãng sanh đứng im như vậy ba ngày chờ đến khi sư phụ tới lo hậu sự. Đó là sự thật, một sự thật rất khó mà giải thích! Người tu hành mà không lấy đây làm gương, không chịu niệm Phật, không nguyện vãng sanh, đến cuối cùng hầu hết đều chịu chung số phần may rủi như bao nhiêu nạn nhân khác! Thật là tiếc vậy! Hãy liên lạc với cậu An để xin cuộn phim bà cụ Triệu-Vinh-Phương để coi rõ một trường hợp vãng sanh về với Phật. Đây là một chứng cớ sống động, chứng minh những điều cậu đã nói toàn là sự thật. Khó lắm mới có cuộn video này đó cháu, nhớ tìm cách sang ra cho nhiều người coi, đừng để mất bổn.
Đoạn khác cháu viết “…bà Nội cháu từ nhỏ đã theo đạo Phật, nay gặp cậu ghi thư về giúp đỡ, Nội cháu ngày đêm đã niêm Phật”. Câu này cậu Năm thích nhất. Nội cháu ngày đêm đã niệm Phật, chỉ cần như vậy là Nội của cháu đã khởi sự con đường về với Phật rồi đó. Nội cháu đang yếu nặng, đang nằm một chỗ, để chờ ngày mãn phần. Ngay thời điểm cuối cùng của cuộc đời này mà Nội cháu đã gặp được cơ may, phát được tâm nguyện niệm Phật cầu sanh Tây-phương Cực-lạc, thì thực sự Nội của cháu đã có thiện căn phúc đức rất lớn, lớn hơn rất nhiều người khác! Trên đời này không dễ có ai được may mắn như vậy đâu. Đây là lời nói thành thực. Đã có rất nhiều ông bà trong dòng họ mình cũng suốt đời tu Phật, nhưng cuối cùng đâu được ai khuyên nhắc để niệm một tiếng Phật hiệu ở phút lâm chung. Hàng triệu, hàng tỉ người trên thế gian này đếm được mấy người niệm được tiếng A-di-đà Phật khi lâm chung đâu cháu? Thật sự Nội của cháu có nhiều thiện căn phúc đức, chính nhờ vậy mà chỉ qua một lời khuyên trong thư mà Nội cháu đã “ngày đêm niệm Phật”.
Người đã có thiện căn phúc đức sẵn, khi nhân duyên đến họ phát tâm liền, họ sẽ có cơ hội về với Phật liền. Nội cháu đang nắm trong tay cái cơ duyên ngàn đời khó gặp, ngàn vàng khó mua, tỉ người trên thế gian này mong cầu không dễ gì có được. Cậu Năm xin nhắn lời chúc mừng Nội cháu. Khi nhận được thư này cháu nhớ đọc cho Nội cháu nghe, nhớ đọc rõ ràng, đọc từng chữ từng câu, không nên nói đại khái, vì nói đại khái sẽ không diễn lại được đầy đủ ý nghĩa của Cậu nói đâu. Dù cậu không trực tiếp thấy Nội cháu trong lúc này nhưng cậu chắc chắn rằng, dù thể chất của Nội cháu yếu đuối bất động, nhưng tinh thần của Nội cháu đang rất sáng suốt, minh mẫn. Cháu đọc thư , Nội cháu sẽ cảm nhận được từng lời từng ý và sẽ liễu ngộ sâu lời thư của cậu, nhiều khi còn hơn cháu nữa đó.
Trong kinh Phật Thuyết A-di-đà, Phật dạy rằng, người nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh-độ, lúc lâm chung tâm hồn tỉnh táo, không điên đảo mê loạn. Nội cháu đang nằm im thiêm thiếp nhiều tháng ngày qua, đó là trạng thái hôn mê, nhưng nay Nội cháu đã niệm Phật ngày đêm thì chắc rằng sự hôn mê không còn nữa. Nếu Nội cháu nhứt tâm hướng về Phật A-di-đà, hàng ngày tha thiết cầu nguyện vãng sanh về thế giới Cực-lạc với Phật, hàng ngày thành tâm nguyện xin Phật A-di-đà phóng quang nhiếp thọ, rồi quyết chí niệm A-di-đà Phật, nhất định không để phí một giây phút nào, nhất định không để một ý tưởng nào khác chen vào, nhất định không luyến tiếc cái gì khác, nhất định không thèm cầu sống thêm. Chỉ một lòng một dạ, một đường mà đi, cương quyết xin về với Phật thì cơ duyên thành Phật của Nội cháu đã thành thục rồi vậy.
Ngay khi Nội cháu nghe đọc thư này, nếu Nội cháu quyết thề niệm Phật, nhứt định phải niệm liên tục KHÔNG HOÀI NGHI, KHÔNG GIÁN ĐOẠN, KHÔNG XEN TẠP, thì 10 câu Phật hiệu trước khi chấm dứt hơi thở cuối cùng chắc chắn phải được. Được như vậy thì cậu Năm dám bảo đảm rằng Nội cháu được vãng sanh, chắc chắn được vãng sanh. Đây là lời kinh nói, đây là lời Phật dạy, đây là lời thề của Phật A-di-đà chứ không phải Cậu Năm nói bừa.
Muốn được mười niệm trước lúc lâm chung thì ngay bây giờ phải thực tập liền, thành tâm khẩn thiết, tâm tâm nghĩ tới Phật A-di-đà, niệm niệm hướng tới Phật A-di-đà, khi đó tự nhiên trong lúc niệm câu Phật hiệu, thì lời nguyện vãng sanh Tây-phương nó tự hiện ra, nghĩa là chỉ cần niệm Phật thôi nó cũng có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh trong đó rồi. Cho nên, Tín-Hạnh-Nguyện tuy ba mà một, được một thì được ba. Đã niệm Phật rồi thì nhứt thiết đừng sợ ma quỷ, không sợ ác mộng, không sợ mộc đè, không sợ oan gia trái chủ, không sợ bất cứ thứ gì khác nữa. Hãy nói thật rõ với Nội cháu là trong những lúc kiệt sức, chóng mặt ù tai, mệt mỏi, mê thấy đủ thứ, thấy Phật, thấy ma, thấy quỷ, thấy thú dữ, thấy mộc đè, v.v… tuyệt đối không lo sợ gì cả, cứ tiếp tục niệm Phật, niệm lớn càng tốt, niệm lớn không được thì trong tâm tiếp tục niệm “A-di-đà Phật, A-di-đà phật…”, cứ thế thì tất cả đều được qua khỏi. Nội đã niệm Phật thì có quang minh của Phật che chở cho Nội rồi, đừng lo ngại chuyện gì cả. Nhớ không cháu?
Đến đây thì cậu Năm nghĩ rằng con đường vãng sanh của Nội cháu đã đặt sẵn trước bàn chân của nội cháu rồi đó. Phẩm vị cao thì không dám bảo đảm được nhưng được về tới cảnh giới Cực-lạc với Phật coi như đủ tiêu chuẩn, Nội cháu sẽ nghiễm nhiên trở thành vị Bồ-tát bất thối tại cõi Tây-phương, từ đó vĩnh viễn không sợ đọa lạc vào địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh nữa, không sợ chết , không sợ khổ đau nữa, chỉ còn một đời chót này nữa thôi thần thông biến hóa, an nhàn tự tại, tu hành chờ thành Phật. Điều này cậu Năm dám khẳng định. Nếu Nội cháu vững lòng tin tưởng, ý chí cương nghị vững như tường đồng, sắt son niệm Phật, một hướng mà đi không chút phân vân, không một chút do dự, không một chút hồ nghi, thì cậu Năm tin rằng chỉ một thời gian ngắn, Nội cháu có thể cảm ứng rõ được Phật lực gia trì, nghĩa là Nội cháu sẽ biết được ngày ra đi. Khi Nội lâm chung, cháu có thể thấy được quang minh của Phật sáng loà cả nhà, hương thơm bay ngát cả trong ngoài. Nếu được như vậy, phẩm vị của Nội cháu thật sự không phải tầm thường đâu. Còn nếu không thấy quang minh, thì ít ra Nội cháu cũng được tỉnh táo niệm Phật vãng sanh.
Ngược lại đến giờ phút này mà gia đình còn lưỡng lự, còn hỏi tới hỏi lui, còn nghi ngờ lời Phật, còn chạy cầu kiến khắp nơi, nhất là Nội cháu không chịu tranh từng hơi thở để niệm Phật thì đành chịu thua, không còn cách gỡ nữa đâu. Cậu Năm cầu Phật lực gia hộ cho Nội cháu, cho cháu và toàn gia đình được sự đại may mắn, đại phước báu.
Về việc “…Cháu sợ trước và sau phút lâm chung sẽ không có người hộ niệm, vì gia đình cháu không như gia đình của bà cụ Triệu-Vinh-Phương”. Đây là mối lo rất đứng đắn! Thật tội nghiệp cho cháu về sự lo lắng này. Đúng ra mối lo này phải dành cho ba cháu mới đúng! Chính ba má cháu mới là người trực tiếp làm tròn đạo hiếu của con và dâu, còn cháu thì nặng về nghĩa nhiều hơn.
Người học Phật phải lưỡng toàn cả Phúc và Huệ. Tu Phúc có 3 phúc 11 điều. Ba phúc là phúc báu Nhơn-Thiên, phúc báu Nhị-Thừa, phúc báu Đại-Thừa, trong đó phúc Nhơn Thiên là nền tảng căn bản nhứt có 4 điều: 1)Hiếu dưỡng phụ mẫu; 2) Phụng sự sư trưởng; 3)Từ tâm bất sát; 4)Tu thập thiện nghiệp. Trong bốn điều trên thì “Hiếu dưỡng phụ mẫu” là tối quan trọng, đặt ở hàng đầu. Một người con mà ăn ở bất hiếu với cha mẹ thì khó có thể mơ ngày thoát ly khổ hải, nếu không nói là phải bị đọa vào cảnh cực kỳ hiểm ác sau này. Trong pháp môn niệm Phật, đức Phật A-di-đà có khả năng cứu độ những kẻ gây tội ngũ nghịch thập ác, nghĩa là những kẻ giết cha hại mẹ mà biết ăn năn hối lỗi. Nhưng cháu nên nhớ cho kỹ rằng, cái lỗi lầm này là ở quá khứ, ở lúc mình còn ngu si mê muội, mình chưa hiểu Phật pháp, chưa rõ luật nhân quả báo ứng, chứ không phải là lỗi ở hiện tại và tương lai.
Trong quá khứ vì vô minh bất giác, tâm tính bị ma chướng ám hại làm cho mê muội thành ra mình làm nên điều ác đức. Nay đã hiểu ra rồi thì phải ăn năn sám hối, tận lực tu sửa thì mới được tha thứ. Phật cứu độ là cứu trong điều kiện này. Chứ như một người không chịu phân biệt đường chánh nẻo tà, tâm hồn cống cao ngã mạn, không lo chu toàn chữ hiếu, tiếp tục làm ác… thì Phật làm sao cứu được?!…
Cụ Triệu-Vinh-Phương biết được ngày giờ ra đi cho nên họ hộ niệm trước 3 ngày, còn Nội cháu đâu biết ngày nào đi cho nên phải hộ niệm liên tục, nghĩa là hằng ngày đều tới nhắc nhở và ngồi niệm Phật chung với Nội. Thực tế, như cụ Phương thì không cần hộ niệm cũng được vãng sanh, vì cụ đã được Phật A-di-đà thọ ký, đã được Phật xác định ngày giờ Phật tới tiếp dẫn, cụ đã thành tâm niệm Phật đến nhứt tâm bất loạn thì cần ai hộ niệm nữa. Nhưng người nhà cẩn thận cũng tổ chức thật đàng hoàng đó là vì lòng hiếu kính của con cháu. Hơn nữa hộ niệm này trở thành công đức tu hành cho chính người hộ niệm. Có lần có người hỏi thầy Ngộ-Thông rằng, “cụ Phương tu cách nào mà ống xương biến thành tượng Phật vậy?”. Thầy trả lời, đó không phải là công phu của cụ mà là công phu của người hộ niệm. Vì cụ đã vãng sanh về với Phật, cụ đã trở thành Bồ-tát ở cõi Cực-lạc rồi, cụ đâu cần cái cục xương đó nữa. Cái tượng Phật bằng xương cụ để lại là để độ cho những người hộ niệm, độ kẻ còn ở lại.
Câu trả lời này rất hay, suy nghĩ kỹ rất có lý. Vì ngay khi Phật phóng quang tới, tất cả những người đang hộ niệm đã trầm mình trong ánh quang minh, họ đã xúc chạm quang minh của Phật thì cũng như được Phật thọ ký rồi. Phật đã để lại hiện tượng: “tượng Phật bằng xương xá lợi” để cho mọi người củng cố niềm tin, tinh tấn tu hành để được vãng sanh sau này. Do đó, đây có thể là do thần lực của Phật A-di-đà để lại chứ đâu phải của cụ Phương.
Nội của cháu hồi giờ theo đạo Phật, có tu hành nhưng, nhưng theo cậu thấy, công phu tu hành không đắc lực cho nên công đức không thể lớn được. Về phúc đức thiện căn thì nhiều đời trước đã có mới khiến Nội cháu niệm Phật, nhưng con cháu trong nhà cũng cần đề cao cảnh giác cao độ về oan gia trái chủ trong đời, đó là những oan nghiệp dây dưa rất lâu rồi khó lường sự trả thù của họ. Nếu tinh thần của Nội cháu, cương nghị, luôn luôn sáng suốt giữ được câu Phật hiệu trong bất kỳ cảnh ngộ nào và trì niệm tới cùng thì khỏi lo chi cả. (Đã nói qua ở trên). Giả sử như Nội cháu yếu quá, chóng mặt, nhức đầu, ói mửa, đau nhức… mà quên mất câu Phật hiệu thì sao? Oan gia trái chủ lợi dụng cơ hội đó nhào vô dụ dỗ, phá hoại, trả thù… liệu Nội cháu có còn bình tĩnh được nữa không? Đây là điều rất nguy hiểm cho Nội mà con cháu cần đặc biệt chú tâm. Hộ niệm rất cần thiết để ứng phó trong những trường hợp này. Hiếu thảo hay không là sự quyết tâm bảo vệ người thân của mình trong những thời điểm này đây. Hộ niệm không phải là niệm thay cho người đi, mà hộ niệm là giúp người ra đi giữ được chánh niệm, luôn luôn nhớ được câu Phật hiệu để được vãng sanh và cũng giúp ngăn cản nghiệp chướng phá hoại.
Trong các thư trước cậu đã nói rất rõ những gì cần làm rồi. Lời của cậu rất chân thành, tha thiết, đầy ắp thiện ý muốn cứu độ Nội cháu. Nhưng dù sao thì cậu Năm cũng chỉ giúp bằng lời chứ không có cách nào hơn nữa. Trước đây vì cậu không biết nên cậu đã tĩnh bơ, an nhiên chứng kiến nhiều người thân trong giòng họ mình ra đi trong đau khổ, trong đoạ lạc. Giờ đây cậu đã hiểu đạo, cậu đã thấy được con đường giải thoát, cậu đã giựt mình tỉnh ngộ, cậu cố gắng tối đa giảng giải rất kỹ, qua nhiều thư từ cậu năn nỉ cạn lời, cậu mần mò tìm cho được những bằng chứng cụ thể để xây dựng lòng tin cho mọi người, cũng chỉ vì một tâm nguyện duy nhứt là cứu độ được người nào hay người đó. Giờ đây, cậu mách nước để cứu Nội cháu, nhưng cứu độ được hay không là lương tâm, trách nhiệm, hiếu nghĩa của ba cháu với phận làm con, má cháu với phận làm dâu, của cô cháu và con cháu trong gia đình. Đã đến nước này mà không chịu tin nữa thì thôi chứ cậu biết làm cách nào hơn, phải không cháu?
Cậu nhắc lại, Nội cháu có cứu được hay không hoàn toàn tùy thuộc vào:
v Một là lòng quyết tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ của Nội cháu;
v Hai là sự hổ trợ tích cực của những người trong gia đình.
Nếu mọi người cho rằng chết là hết, phủi tay cuộc đời là xong nợ, không còn gì nữa cả thì cậu đành chịu thua, không có quyền gì dám xen vào nữa. Ôi! Cậu chỉ đành cầu Phật gia hộ cho Nội cháu, sự may mắn chỉ còn nhờ chính vào sức lực đơn độc của một bà cụ già yếu đuối bị bỏ rơi trong tình trạng quá tội nghiệp, để tự chống chọi với bao nhiêu thế lực hung hiểm, bao nhiêu cạm bẩy ác nghiệt nhất trong đời, mà đúng ra, nếu con cái có lòng hiếu nghĩa, biết thương tưởng đến, thì chỉ cần bỏ ra một chút công sức rất nhỏ có thể cứu được người thân yêu. Đó là một ơn nghĩa vô cùng vĩ đại đối với Nội cháu, muôn ngàn đời Nội cháu không dám quên!
Riêng về phần cháu, cậu rất thông cảm sự khó khăn của cháu. Chỉ cần có tấm lòng tha thiết của cháu cũng đủ làm cho Nội cháu được an ủi rồi. Bây giờ cháu hãy áp dụng châm ngôn “còn nước còn tát”, quyết chí cứu Nội thì phải cố gắng làm hết mình tới đâu hay tới đó. Nếu lòng cháu chân thành, tâm cháu chí thiết, Phật lực sẽ gia trì cho cháu, cậu nghĩ sự cố gắng của cháu không uổng công đâu. Cứu bằng cách nào? Cậu đề nghị mấy điểm sau:
1) Hãy cố gắng dành thì giờ thăm Nội thường xuyên để chăm sóc, giúp đỡ những điều cần thiết như việc đại tiểu tiện, quạt mát sưởi ấm, giúp xoay trở nhẹ nhàng… nói chung làm tất cả những gì Nội yêu cầu. Nếu có thêm người trong gia đình thì thay phiên nhau mỗi lần một người một giờ thôi.
2) Cần cho Nội cháu uống nước thường xuyên để khỏi bị kiệt sức, cứ cỡ 15 phút uống một ngụm nước nhỏ, nên pha với nước cam thật loãng, có thể uống thuốc bổ hoặc chích thuốc bổ và ăn cháo đều độ cho lại sức. Cũng nên hỏi bác sĩ, nhưng phải nhớ trong khi cho uống nước cháu vẫn tiếp tục niệm Phật. Có sức khỏe sẽ trợ lực để niệm Phật tích cực hơn. Việc chích thuốc bổ hay chuyền nước biển để tăng sức rất tốt, nhưng khi biết sắp lâm chung rồi thì không được chích nữa để khỏi gây đau đớn.
3) Mỗi lần tới thăm, thay vì nói: “cháu tới thăm Nội”, hãy nói là: “Cháu tới niệm Phật với Nội đây”. Hãy chuyển chữ “Thăm” thành chữ “Niệm Phật” để nhắc nhở Nội. Đó là hộ niệm. Vì người bệnh bị mệt mỏi thường lười biếng dễ ngủ lì, dễ buông xuôi, thì người chăm sóc cần nhắc nhở, khuyến khích người niệm Phật luôn luôn. Đừng sợ mất ngủ, cố gắng niệm Phật cho tỉnh táo thì tốt hơn. Khuyến khích Nội nếu nhép môi niệm được theo thì tốt, còn không cứ niệm thầm trong tâm cũng tốt. Nhép môi là để vận dụng sức thì sức dễ hồi tỉnh, tâm dễ tỉnh lại hơn, thế thôi.
4) Người bệnh tinh thần mệt mỏi rất dễ hôn mê rơi vào ác mộng. Nhớ theo dõi, nếu thấy Nội đang mớ, ú-ớ là phải đánh thức dậy và ngay lập tức niệm Phật liền. Khuyên Nội cố gắng niệm Phật trong giấc mộng, nghĩa là khi mộng mị thấy bất cứ điều gì cũng cứ niệm Phật. Thấy Phật cũng niệm Phật, thấy ma cũng niệm Phật, thấy thú dữ hay bất cứ thứ gì cũng niệm Phật. Niệm Phật và vững tâm niệm Phật, tuyệt đối không đi theo bất cứ Thần, Thánh, Tiên, Phật nào hết. Không được đi theo ông, bà, cha, mẹ, nào cả vì đó không phải là thực đâu. Phải nhớ, ma có thể giả dạng người thân yêu, giả đến cả Phật để dụ mình chứ không phải tầm thường. Cứ việc niệm “A-di-đà Phật” thì giả thực sẽ biết rõ. Chỉ chờ Phật A-di-đà, chỉ được đi theo Phật A-di-đà vì chắc chắn không ai dám giả Phật A-di-đà cả. Nói rõ cho Nội biết rằng, khi còn niệm A-di-đà Phật thì liền được 25 vị Hộ Pháp bảo vệ, không có thế lực nào dám xâm nhập đến mình. Mình bị ma cảnh là tại vì lúc đó mình quên niệm Phật đó thôi. Cho nên trong giấc mộng cố gắng niệm Phật, niệm trong đó không được, thì khi thức giấc ngay lập tức niệm liền. Chắc chắn không thể lạc đường đâu.
5) Nhắc nhở Nội nguyện vãng sanh Tây-phương Cực-lạc,đừng nguyện cầu lành bệnh hay sống lâu thêm (vì không ích lợi gì mà còn mang thêm nghiệp báo khó gỡ, khi báo thân đã mãn dù có cầu trăm miễu ngàn chùa cũng không sống thêm được, ngược lại làm hại cho đường vãng sanh). Cho nên nhắc Nội nhớ nguyện vãng sanh mỗi sáng. Mỗi lần tới thăm, trước khi hộ niệm đều mời Nội phát nguyện vãng sanh thêm một vài lần cũng tốt, bằng cách cháu thành tâm kính cẩn, ngồi trên ghế hoặc quỳ gối, chắp tay đọc lời phát nguyện rõ ràng cho Nội đọc theo. Phải chép lời nguyện ngắn gọn rồi để trên đầu giường, ngày nào tới cũng đọc đúng như vậy để nhiếp vào tâm. Có thể nguyện đơn giản như vầy: “Nam-mô A-di-đà Phật, con xin nguyện cầu hết một báo thân này được vãng sanh về Tây-phương Cực-lạc Thế-giới. Ngưỡng nguyện A-di-đà Phật đại từ đại bi phóng quang tiếp dẫn. Nam-mô A-di-đà Phật.”, rồi tiếp tục cùng niệm Phật.
Nên nhớ phải đọc rõ ràng từng chữ, đọc từng câu với lòng thành kính tin tưởng. Niệm Phật cũng phải rõ ràng từng chữ, không được kéo nhựa, không được lờ mờ. Niệm đều đều để cho Nội niệm theo. Nên theo dõi thử Nội cháu thích niệm nhanh hay chậm, thích niệm bốn tiếng hay sáu tiếng, nên niệm bốn tiếng dễ hơn và mạnh hơn. Nguyện nhiều lần để nhắc nhở tâm mình xác định hướng đi rõ rệt.
6) Tuyệt đối không làm ồn, không khóc lóc, không kể lể chuyện thương tâm. Tuyệt đối không để bà con lối xóm lui tới thường xuyên nói chuyện thăm lom và trực tiếp nói chuyện với Nội. Muốn cho Nội được an toàn về với Phật thì dành tất cả thời giờ để Nội niệm Phật, tránh tất cả những thói quen phàm tục tầm thường. Người bước vào phòng Nội chỉ để niệm Phật hộ niệm, xin miễn hỏi thăm, xin miễn chúc phúc chúc lành, xin miễn mọi lời đưa đẩy. Nếu gia đình không cứng rắn chuyện này Nội cháu sẽ mất phần vãng sanh đó.
Người muốn về với Phật tối kỵ nhất là sự phân tâm. Vì cảm tình hàng xóm, vì vị nể coi chừng Nội cháu bị hại mà ngàn đời ân hận. Con cháu vì quá thương mến, mà thiếu trí tuệ, thường trở thành thủ phạm hại tiêu huệ mạng của người thân trong địa ngục đó. Phải nhớ, nhứt định phải nhớ kỹ điều này.
Cho nên, ai tới thăm chỉ được tiếp xúc ở phòng khác, đừng nói lớn tiếng ồn động đến người bệnh, sau đó dứt khoát mời họ ra về, không được vị nể mà hại đến người thân của mình. Bà cụ Triệu-Vinh-Phương khi vẫn còn khỏe nhưng đã quyết định vãng sanh, ai tới thăm cụ nhất định không trả lời, không nói chuyện, không đáp lễ, ai nói gì thì nói cụ cứ A-di-đà Phật, A-di-đà Phật… Quyết chắc như vậy ai nghĩ gì thì nghĩ, mình lo vãng sanh trước đã. Chính nhờ vậy mới thoát vòng kiềm toả của thế tục. Cũng nên nhớ oan gia trái chủ có thể xúi dục bà con tới khóc lóc, than thở, an ủi, thăm lom, vô tình phá tan tâm nguyện niệm Phật cầu sanh mà cả họ lẫn mình không hay biết. Phải nhớ, phải nhớ, phải nhớ!
7) Hãy cố gắng thuyết phục trong gia đình tin Phật, hiểu được sự vi diệu tối thắng của pháp niệm Phật để mọi người cùng chung chí hướng niệm Phật cầu sanh Tịnh-độ. Tin nhân quả luân hồi. Chết là thần thức rời bỏ nhục thể để tìm thế giới khác sống chứ không phải là Nội cháu chết. Hiểu được như vậy thì mọi người hãy chung lo phần vãng sanh cho người, đừng để tâm ý phàm tục khởi loạn mà khóc lóc kể lể, gây ồn ào. Đây là điều tối kỵ, tối nguy hiểm cho Nội cháu. Tuyệt đối làm sao chỉ có tiếng niệm Phật rót vào tai người đi, ngoài ra không còn gì nữa cả. Không được dùng bùa ngải, cầu xin nước Tiên nước Thánh, v.v… để uống.
8) Nếu được ra đi trong không khí trên thì chắc chắn được vãng sanh. Khi vừa vãng sanh rồi vẫn tiếp tục niệm Phật. Tuyệt đối không đụng chạm đến nhục thể, cứ để im như vậy không cần thay đổi tư thế nằm, cứ tiếp tục niệm Phật càng lâu càng tốt, ít nhất là tám tiếng đồng hồ mới được ngưng. Đừng ngại để lâu thì xác cứng khó sửa, chỉ cần lấy khăn nhúng nước nóng đắp chỗ khuỷu xương một chốc là mềm lại ngay. Đừng báo hàng xóm hay sớm, nếu không họ sẽ tới đánh trống, thổi kèn, gây ồn ào sẽ làm mất phần vãng sanh đó. Tất cả những thứ đó chỉ là tập tục sai lầm của người đời. Phải niệm Phật để cứu độ người thân của mình, tám giờ sau mới tính đến chuyện tùy thuận tập quán xã hội cũng không muộn.
Thôi đọc lại thư cho Nội nghe, đọc từng chữ chứ đừng nói tóm tắt, vì nói tóm tắt không khéo làm sai ý cậu mà có hại cho người nghe và cháu có lỗi đó. Thôi cháu niệm Phật đi.
Thương cháu nhiều lắm.
Cậu Năm.
(Viết xong, Úc châu 04/12/01)