Sunday, July 31, 2016

Xá lợi Phất: An Đức, Trí Đức và Đoạn Đức.

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ PHẬT Thích Minh Tuệ 
Sàigòn 1991- Pl 2535
http://thuvienhoasen.org/a10436/02-ton-gia-xa-loi-phat-tri-tue-de-nhat
Ngài Xá Lợi Phất 
Sariputra - Trí Tuệ Đệ Nhất
Từ xưa đến nay, từ đông sang tây, đa phần các tôn giáo đều thiên về đức tin, riêng Phật giáo thì ngược lại, chỉ tin là khi đã dùng lý trí xét đoán, nói khác hơn Phật giáo thiên về trí tuệ. Bởi thế thông thường, Đạo Phật được gọi là đạo Trí Tuệ, đạo Giác Ngộ, đạo Bồ Đề. Đức Phật là một con người đã đạt đến đỉnh cao của trí tuệ, giác ngộ hoàn toàn. Người theo đạo Phật cần cầu trí giác cao tột của Phật Đà. Thời Phật còn tại thế, những đệ tử của Phật đều chứng Thánh quả. Trong số 1.250 vị, có mười vị đạt đến địa vị ưu tú bậc nhất, goị là mười vị đại đệ tử, gọi chung là Thánh Chúng. Đứng đầu là Ngài Xá Lợi Phất, Trí Tuệ Đệ Nhất. 
Xá Lợi Phất Trước Khi Theo Phật 
Gia thế Xá Lợi Phất:
Ở Nam Ấn Độ tại nước Ma Kiệt Đà, cách thành Vương Xá khoảng hai dặm, có một thôn trang tên là Ca La Tý, nơi đây có non xanh nước biếc, cảnh trí u tịch, Ngài đã ra đời trong bối cảnh địa dư này. 
Xá Lợi Phất thuộc dòng dõi Bà La Môn, thân phụ là Ưu Ba Đề Xá hay Ưu Ba Thất Sa (Upatisya), một luận sư nổi danh trong hàng Bà La Môn. Thân Mẫu là bà Xá Lợi (Sàri) cũng là một người phụ nữ thông minh có tài biện luận. Bà là chị ruột của Câu Hy La (Kausthila), tức là Phạm Chí Trường Trảo. Những lúc luận bàn giáo lý với chị Trường Trảo luôn luôn bí lối. Không chịu thua chị, nhất là còn ngại về sau có thể thua đứa cháu ở trong bào thai của chị; với truyền thống của gia đình Trường Trảo tin con của Ưu Ba Thất sau sẽ thông minh tuấn tú. Vì tự ái, Trường trảo đến Nam Thiên Trúc quyết học 18 bộ kinh (xem chú thích ở cuối bài). Với lời thề, nếu chưa thông suốt thì không cắt móng tay, vì có móng tay dàI người đời tặng cho Phạm Chí, biệt hiệu là Trường Trảo. Xưa theo phong tục Ấn Độ, ngoài dùng tên cha để gọi con, phổ biến hơn người đời còn có thói quen gọi con bằng tên mẹ. Tiếng Phạn là Sàriputa, phiên âm là Xá Lợi Phất Đa La gọi tắt là Xá Lợi Phất, có nghĩa là con trai của bà Xá Lợi. Trung Quốc còn gọi là Xá Lợi Tử. 
Tài biện luận và đạo giáo của Ngài Xá Lợi Phất:
Xá Lợi Phất là một thần đồng, lúc mới lên tám tuổi Ngài đã thuộc hết 18 bộ Kinh, biện tài vô ngại. Vào tháng hai, tại nước Ma Kiệt Đà, hai anh em trưởng giả Cát Lợi và A Già La hợp cùng dân chúng tổ chức lễ tế đà. Đàn tràng tiếp đón khách quý có 4 bậc:
Vua - Thái Sư - Đại Thần - Luận Sư .
Khi đến dự lễ Xá Lợi Phất ngồi vào đàn thứ tư và dõng dạc tuyên bố: - Ai muốn hỏi gì thì hỏi. Các Luận sư cho Ngài là một thiếu niên ngỗ ngáo. Để hạ bệ Xá Lợi Phất các Luận sư cho các đệ tử nhỏ tuổi đến chất vấn, nhưng với tài biện luận khúc chiết, Ngài đã làm cho mọi người phải kinh ngạc, các Luận sư đều thán phục. Quốc Vương vui mừng vì thấy đất nước có nhân tài lỗi lạc, nên đã đem một trang trại ban cho Ngài.
Để quán thông triết lý của các đạo giáo đương thời, năm 20 tuổi Ngài rời thôn trang, thân thuộc, đến học đạo lý với San Xa Da Tỳ La Lê Tử, một trong sáu phái Lục sư ngoại đạo. Đây là phái hoài nghi cho chân lý có thể biến đổi, tu đạo là vô ích chỉ cần tu thiền định là được giải thoát. Trong một thời gian ngắn Ngài đã am tường hết đạo lý của phái này, nhưng tư tưởng vẫn chưa thỏa mãn. Xá Lợi Phất đem tâm sự thố lộ với bạn đồng học lúc bấy giờ là Mục Kiền Liên, cả hai cùng đồng chung một tâm trạng nên đều tính từ giã từ giả phái hoài nghi để làm một học đoàn riêng. Tuổi trẻ tài cao, hai thanh niên cho là ở đời không có người trí thức nào sánh kịp, và cũng chẳng có ai có tư cách để làm thầy mình. Chẳng bao lâu mỗi vị đều có 100 đệ tử, cả hai còn ước hẹn hễ ai đắc đạo trước thì thông báo lại đễ dẫn dắt nhau tiến theo một con đường.
Đạo Nghiệp Của Xá Lợi Phất Sau Khi Theo Đức Phật
Xá Lợi Phất Ngộ Lý Duyên Sinh:
Một hôm tại thành Vương Xá, Xá Lợi Phất gặp Ngài Mã Thắng tức A Xã Bệ Thệ đang đi khất thực. Đây là một tỳ kheo đã trải qua một thời gian dài tu khổ hạnh, khi gặp Phật Ngài đã nghe Pháp Tứ Đế mà ngộ đạo, trở thành một trong năm đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Thấy phong độ uy nghi của Mã Thắng, Xá Lợi Phất tỏ lòng kính phục và thân đến hỏi đạo, Mã Thắng cho Xá Lợi Phất biết ông là đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Xá Lợi Phất hỏi Ngài về đạo lý của Phật Thích ca, Ngài đem giáo lý duyên sinh để giảng giải. Theo Phật, tất cả các pháp trong thế gian đều do nhân duyên mà có sinh, rồi cũng hoại diệt khi nhân duyên đã hết. Giáo pháp đó được diễn tả qua bài kệ:
Chư Pháp tùng duyên sinh
Diệt tùng nhân duyên diệt
Ngã Phật Đại Sa môn
Thường tác như thị thuyết.
Nghĩa là: 
Các Pháp do duyên sinh
Lại cũng do duyên diệt
Thầy tôi là Đức Phật
Thường giảng dạy như vậy.
Nghe thuyết duyên sinh, Xá Lợi Phất thấu suốt được sự thành hoại của vũ trụ duyên sinh và rất thán phục Đức Phật, nên theo Mã Thắng đến Trúc Lâm Tinh Xá bái yết Đức Phật. Để khai thị thêm cho Xá Lợi Phất, Phật thuyết đạo lý Vô Ngã Niết Bàn... Theo Phật "Các hành vô thường là pháp sanh diệt, sinh diệt diệt rồi tịch diệt là vui." 
Trước Đức Phật Xá Lợi Phất xin được quy y và xin được đưa Mục Kiền Liên đến Tinh Xá Trúc Lâm.
Hôm sau, cả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên dẫn 200 đệ tử đến thọ giáo với Phật. Giáo đoàn của Phật không những chỉ tăng thêm số lượng mà còn tăng thêm về mặt chất lượng. Phật rất hài lòng vì thấy giáo pháp sâu xa nhiệm mầu, từ nay đã có Xá Lợi Phất tiếp thu. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai thủ lãnh tư tưởng tôn giáo cao thâm trong giới học đạo bấy giờ.
Xá Lợi Phất chỉ đạo xây dựng Tinh Xá Kỳ Viên:
Khi Phật đang ở Phương Nam Ấn Độ, có trưởng giả Tu Đạt, hiệu là Cấp Cô Độc, người thành Xá Vệ, nước Kiều Tát La ở Tây Bắc Ma Kiệt Đà, đến Tinh Xá Trúc Lâm nghe Phật thuyết giảng pháp Bố thí, bái phục Đức Phật, trưởng giả muốn xây dựng một tinh xá ở phương Bắc nước Ma Kiệt Đà, để thỉnh Phật về hoằng hóa. Sau khi trải vàng mua đất của Thái Tử Kỳ Đà, cạnh thành Vương Xá. Trưởng giả xin Phật đề cử một vị thiết kế và trông coi công trình xây cất tinh xá. Phật biết ở phương Bắc có nhiều triết nhân ngoại đạo, chỉ có Xá Lợi Phất mới có đủ sức thuyết phục, để có thể vừa trông coi công trình, vừa đối phó với ngoại đạo, Phật cử Xá Lợi Phất theo Tu Đạt về phương Bắc.
Tinh xá bắt đầu khởi công, hàng ngoại đạo tìm phương cản trở, nhằm ngăn chận đà phát triển của Phật giáo. Họ yêu cầu Tu Đạt bỏ ý định xây dựng tinh xá và cũng yêu cầu ông không nên theo Phật. Vì đã thâm tín Phật Tu Đạt vẫn xúc tiến công trình; các nhà ngoại đạo tính hạ uy tín Xá Lợi Phất, để giúp Tu Đạt bỏ Phật. Tu Đạt rất lo ngại cho Xá Lợi Phất có thể không tranh biện nổi với ngoại đạo, ông trình bày nổi ưu tư với Ngài. Nhưng! Xá Lợi Phất cho đây là một cơ hội tốt để đạo Phật tuyên dương chánh pháp. Ngài nhờ Tu Đạt đến hàng ngoại đạo ước hẹn ngày tranh luận.

Vốn xuất phát từ Bà La Môn và đã am tường các triết thuyết đương thời, ngay trong ngày tranh luận đầu tiên Ngài đã thắng 10 Luận sư danh tiếng của ngoại đạo. Xá Lợi Phất đã tạo nhiều thanh thế cho Phật ở phương Bắc. Vì Xá Lợi Phất đã chuyển hầu hết các tư tưởng gia ngoại đạo về với Phật, khi Phật chưa đến giáo hóa. Từ đó sau khi Tinh xá Kỳ Viên hoàn thành, giáo đoàn của Phật về nước Xá Vệ được đón tiếp vô cùng nồng hậu linh đình. Công trình xây dựng Tinh xá, Xá Lợi Phất thiết kế 16 tiểu đường, gồm có: phòng ngủ, nhà khám bệnh, nhà tắm, nhà kho, nhà nhóm họp, giảng đường... Đây là một trung tâm văn hóa thứ hai của Ấn Độ, gọi là trung tâm Kiều Tát La, còn trung tâm văn hóa thứ nhất được thành lập tại nước Ma Kiệt Đà. 
Thọ thức ăn bất tịnh:
Khi về thành Ca Tỳ La Vệ, giáo hóa cho các bậc vương tôn, công tử, Phật cho La Hầu La xuất gia và ủy thác cho Xá Lợi Phất lo việc dạy dỗ, Xá Lợi Phất đã truyền thọ giới Sa Di cho La Hầu La. Một hôm Ngài dẫn La Hốu La đI khất thực, hàng đàn na tín thí dâng cúng các thức ăn ngon cho Ngài và các vị Tỳ kheo Trưởng lão, còn hàng Sa di chỉ thọ nhận các vật có ít dinh dưỡng như xác mè ép, rau đồng luộc... trộn với cơm hẩm. Lòng của La Hầu La rất bất mãn và có ý nghĩ rằng tuổi trẻ sức đang phát triển, ăn uống như thế cơ thể sẽ bị suy nhược, không có sức khỏe để tiến tu đạo nghiệp. Khi về đến Tinh Xá, lòng La Hầu La vẫn buồn rầu và lên trình với Phật sự cố. Phật khuyên La Hầu La không nên có niềm đố kyï, người xuất gia chỉ cầu Phật đạo chứ đâu cần sự ăn uống, người tu hành khi thọ nhận của cúng dường một hạt mè, một hạt cơm cũng nên tự thấy là đủ rồi. Có tam thường bất túc, mới xứng đáng là bậc có chí xuất trần thượng sĩ, đừng quá quan tâm đến việc ăn uống. 
Tuy dạy La Hầu La như thế, nhưng Phật cũng cho mời Xá Lợi Phất đến và dạy rằng:
· Xá Lợi Phất! Hôm nay ông thọ thức ăn bất tịnh, ông có biết không? 
· Nghe Đức Phật nói, Xá Lợi Phất kinh hãi liền cho thức ăn ói ra hết, rồi bạch Phật: 
· Bạch Đức Thế Tôn! Từ khi xuất gia, con luôn luôn y pháp khất thực, chưa bao giờ con trái nguyên tắc và thọ thức ăn bất tịnh. 
· Tuy biết rõ tâm của Xá Lợi Phất, nhưng Phật giải thích: 
· Xá Lợi Phất tuy ông khất thực không trái phép nhưng không quên săn sóc các Tỳ kheo nhỏ tuổi và Sa di. Khi khất thực phải lưu tâm đến họ, để họ khỏi sinh tâm đố kyï và phát tâm tôn kính bậc Trưởng thượng. Nhân cơ hội này, Phật chế phép Lục Hòa để làm nguyên tắc sinh hoạt cho Tăng đoàn: 
1. Thân hòa đồng trú Cùng chung với nhau một chỗ. 
2. Khẩu hòa vô tranh Không nên tranh cãi với nhau 
3. Ý hòa đồng duyệt Thông cảm và cởi mở với nhau 
4. Lợi hòa đồng quân Lợi lộc nên đem chia đều cho nhau 
5. Giới hòa đồng tu Giới luật cùng nhau giữ gìn 
6. Kiến hòa đồng giải San sẻ hiểu biết cho nhau 
Nghe xong, Xá Lợi Phất hoan hỷ tín thọ và tuân hành áp dụng.
 Kẻ phản nghịch kính sợ: 
Trong số đệ tử của Phật, Đề Bà Đạt Đa luôn luôn muốn hạ Đức Phật để làm thầy, ông vốn là con nhà thúc bá với Đức Phật. Dù đã xuất gia, ông xúi thanh niên hại Phật, dụ dỗ A Xà Thế thả voi say chà Phật, ngay cả ông cũng đả xô đá làm cho Phật bị thương ở chân, và ông cũng đã tách rời giáo đoàn để làm giáo chủ.
Một hôm Đức Phật và Thánh chúng đi khất thực về và đang nghỉ ngơi, Đề Bà cầm đầu một nhóm Tỳ kheo la lối om sòm, yêu cầu Phật nhường quyền lãnh đạo cho ông, Đức Phật vẫn im lặng mặc cho Đề Bà làm náo động. Không thể chịu đựng được, Ngài A Nan là một bào đệ của ông lên tiếng chỉ trích Đề Bà. 
A Nan dõng dạc nói:
· Xin Đề Bà hãy im lặng, Đức Phật là bậc chí tôn anh không thể thay thế Phật được. Anh phỉ báng Phật, anh làm mất sự hòa hợp của Tăng đoàn anh sẽ mang tội rất nặng. Giờ này, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên ở đây anh không sợ sao? Chắc chắn hai vị sẽ không để anh tung hoành như thế được? 
· Thấy không lay chuyển được Phật, Đề Bà chuyển hướng, đem lợi lộc của vua A Xà Thế cúng dường để dụ dỗ các Tỳ kheo ham lợi, tách khỏi đại chúng và thành lập một giáo đoàn riêng do ông thủ lãnh. Sau một buổi đI khất thực về, bè nhóm của Đề Bà Đạt Đa tụ tập phân chia phẩm vật của đàn việt một cách ồn ào. Thấy trái đạo lý Xá Lợi Phất lên tiếng: 
· Này chư vị! Chúng ta đi xuất gia với mục đích giác ngộ, giải thoát hay vì lợi lộc cúng dường? 
Cả nhóm đồng đáp:
· Thưa Xá Lợi Phất! Vì mục đích tu đạo, cầu giác ngộ và giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. 
· Thế! Các ông hãy loại bỏ tâm tham thực, ăn năn sám hối trở về giáo đoàn tu theo pháp lục hòa. 
Nghe Ngài khuyến hóa, cả nhóm đều bỏ rơi Đề Bà, trở về với Đức Phật. Từ đó uy tín của Ngài được tăng thêm, Đề Bà Đạt Đa cũng kính sợ Xá Lợi Phất hơn cả Phật.
Rộng lượng khoan dung: 
Tại Tinh Xá Kỳ Viên, sau ba tháng hạ Xá Lợi Phất tạm biệt Đức Phật để lên đường đi hóa đạo. Khi Ngài ra khỏi cổng Tinh xá, một Tỳ kheo thưa với Đức Phật rằng: - Xá Lợi Phất vô cớ nhục mạ ông, rồi bỏ đi với lý do đi giáo hóa, thực sự Xá Lợi Phất không đi truyền bá Phật pháp. Phật cho gọi Xá Lợi Phất trở lại và yêu cầu cho biết dữ kiện. Xá Lợi Phất trình Phật:
· Bạch Đức Thế Tôn! Sau khi theo Đức Thế Tôn học đạo đến nay tuổi gần 80, con chưa bao giờ làm tổn hại sinh mạng kẻ khác, chẳng biết dối trá chăm lo thăng tiến đạo nghiệp, kể cả 40 năm qua, đưoợc vinh dự làm môn đệ của Đức Thế Tôn, dù nhiều lần được Đức Thế Tôn khen ngợi, nhưng con chưa bao giờ tỏ ý kiêu mạn coi thường người khác, từ đó đâu dám nhục mạ người trong giáo đoàn. 
· Con thiết nghĩ: Đất luôn luôn nhận lãnh hết tất cả những sự dơ uế của thế gian, con tự nguyện làm đất luôn luôn nhẫn nhịn tất cả những điều tráI ý, không hạ nhục bất cứ ai. Dòng nước cuốn trôi, rửa sạch tất cả những vết dơ bẩn của trần gian, con tự nguyện rửa sạch trần cấu cho mọi người. CáI chổi quét sạch hết tất cả rác rưởi không hề phân biệt con tự nguyện làm cáI chổi quét sạch bụi trần của chúng sanh. Bấy lâu con chưa hề khinh khi ai, chưa hề có ý niệm phân biệt, cố gắng không để tâm vọng đọng thường an trú trong chánh niệm. Bởi thế nếu con còn có lỗi lầm nào, xin các tỳ kheo từ mẫn chỉ bảo con xin thành khẩn y pháp sám hối. 
Để thỏa mãn cho tất cả các môn đệ, Phật cho gọi các tỳ kheo đương cáo ra đối chứng. Trước giáo đoàn, vị tỳ kheo đã nói dối rất hổ thẹn, xin Phật và Xá Lợi Phất rộng lượng khoan dung. Phật bảo trong đời có hai hạng người mạnh nhất đó là người không có tội, người có tội mà biết ăn năn sám hối. Riêng Xá Lợi Phất không những không oán giận mà còn hoan hỷ khoan dung.
Phẩm hạnh nhường nhịn: 
Một hôm Xá Lợi Phất đi truyền giáo ở phương xa, đến trời tối mới trở về, các phòng xá đều bị các tỳ kheo lục quần chiếm hết. Ngại lục quần làm ồn ào, Ngài lẳng lặng ra ngoài sân ngủ dưới gốc cây. Sáng ngày biết được sự ngủ nghỉ mất trật tự, Đức Phật gọi nhóm lục quần đến hỏi lý do. Nhóm lục quần bạch với Phật rằng:
· Xá Lợi Phất không xuất thân từ hàng Bà La Môn, cũng không phải dòng dõi Sát Đế Lợi, do đó Xá Lợi Phất không có quyền có chỗ ngủ riêng, sàng tòa tốt đẹp... 
Để ngăn chặn sự sai trái của nhóm lục quần, Đức Phật dạy:
· Ngày xưa trong núi tuyết có chim chóc, khỉ, voi đồng chung ở. Tuy là bằng hữu nhưng cả ba loài không nhường nhịn nhau, con nào cũng tự cao tự đại định hại nhau. May có một vị tiên giải thích sự phải trái, cả ba loài mới biết kính nhường loài lớn tuổi. Các Tỳ kheo! Giáo pháp của ta xương minh phép bình đẳng, nhưng không vì thế mà mất trật tự. Những ai có đạo hạnh cao, pháp lạp nhiều, tuổi lớn phải được cung kính cúng dường, ưu tiên nơi ăn chốn ở được tốt nhất, thực phẩm ngon tươi nhất. 
Nghe Đức Phật nói đại chúng đều y giáo phụng hành. Xá Lợi Phất không vì thế mà ngã mạn, lại cảm ơn sự ưu ái của Phật và sự trọng nể của giáo đoàn. 
Phép ăn của Tỳ kheo:
Một ngày nọ, sau khi khất thực về Xá Lợi Phất quay mặt vào vách mà ăn, thấy vậy nữ Phạm Chí Tịnh mục chất vấn:
· Ông đang ăn? 
· Không, Xá Lợi Phất đáp. 
· Ông cúi miệng mà ăn? 
· Không. 
· Ông ngữa miệng mà ăn? 
· Không. 
· Vuông miệng mà ăn? 
· Không. 
· Quay miệng bốn phương mà ăn? 
· Không. 
· Không phải 4 phép ăn như trên, thế thì ông ăn bằng cách nào? 
Xá Lợi Phất giải thích:
+ Người xuất gia đem thảo mộc đổi thức ăn mà ăn, gọi là cúi miệng mà ăn.
+ Dùng phép xem tinh tú để có ăn, gọi là ngửa miệng mà ăn.
+ Nịnh bợ nhà giàu để được ăn, gọi là vuông miệng mà ăn.
+ Bói toán bùa chú để có ăn, gọi là quay miệng bốn phương mà ăn.
Ta không ăn theo 4 phép đó. Người tu hành chỉ đI khất thực mà ăn một cách thanh tịnh.
Nghe Ngài giảng giải, nữ Phạm chí sinh tâm hoan hỷ, chứng quả Tu Đà Hoàn.
Khen một cái chết đẹp:
Thấm nhuần tư tưởng bình đẳng dù đã chứng Thánh quả, đối với nữ giới, Ngài vẫn kính trọng. Gần thành Vương Xá trong một khu rừng khi đang ngồi thiền định, bỗng nghe tiếng Tỳ kheo ni Ưu Ba Tiên Na kêu cứu ở một khu rừng đối diện, Xá Lợi Phất liền xả thiền, vội vàng đi tiếp cứu. Khi Ngài đến, Ưu Ba Tiên Na lấy lại được sự bình thản và trình bày:
· Thưa Tôn Giả! Vừa rồi trong lúc đang tọa thiền, con nghe một vật gì láng trơn chạm vào cơ thể, con liền nghĩ có thể đó là một con rắn, tức thì con liền bị rắn cắn, nọc đọc của rắn đã ngấm vào người con và con sẽ lìa đời. Xin Tôn Giả thông báo cho chư ni quy tụ về đây để con tỏ lời cáo biệt. 
Bấy giờ sắc diện của Ưu Ba Tiên Na vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Thấy thế Xá Lợi Phất nói với Ưu Ba Tiên Na rằng:
· Chắc không hề gì vì sắc diện của Tỳ kheo không biến đổi. 
Ưu Ba Tiên Na thưa rằng:
· Bạch Tôn giả! Với đạo lý của Đức Phật, thân do 4 đại, 5 uẩn, hư vọng hợp thành, không có chủ tể là vô thường, là không, rắn làm sao cắn được cái "Không". Con thầm hiểu như thế nên con không cảm thấy đau đớn. Nhờ đó mà nét mặt con không biến sắc. 
Xá Lợi Phất hết lời khen ngợi Ưu Ba Tiên Na và thông báo cho Tỳ kheo, Tỳ kheo ni ở trong khu rừng tập họp và đưa Ưu Ba Tiên Na ra khỏi hang động. Khi nọc độc của rắn đã ngấm khắp cơ thể, Ưu Ba Tiên Na xã bỏ báo thân vào cõi tịch diệt Niết Bàn. trước các Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, Xá Lợi Phất ca ngợi Ưu Ba Tiên Na, do đạt được giới thân tuệ mạng nên có một cái chết thật đẹp, sắp chết mà sắc diện vẫn không bị biến đổi, tâm hồn lại rất bình thản, đáng cho người tu hành phải noi gương.
 Xá Lợi Phất Viên Tịch
Lại một hôm, khi nghe tin người lão hữu Mục Kiền Liên bị bọn lõa hình ngoại đạo ám hại tại thành Thất La Phiệt (tức Xá Vệ), lúc đang đi thuyết giáo. Xá Lợi Phất vô cùng buồn rầu, suốt mấy ngày liền. Bấy giờ Đức Phật, Xá Lợi Phất và một số Tỳ kheo ở tại thành Vương Xa¸, thấy Xá Lợi Phất vì thương bạn mà ủ rủ, Phật phải khuyên răn. Sau đó Phật tập họp tất cả tăng chúng báo cho tất cả biết tin Mục Kiền Liên đã vào Niết Bàn và nhân đó Phật cũng báo cho chúng Tăng hay sau ba tháng nữa là Phật sẽ vào Niết Bàn. Cùng lúc nhận được hai tin buồn, Mục Kiền Liên đã chết một cách bi thảm và Phật cũng sắp ra đi, lòng Xá Lợi Phất vô cùng chua xót. Bởi thế liền ngày hôm đó, Xá Lợi Phất xin được về quê thăm mẹ và nhập Niết Bàn trước Phật. Vì theo Xá Lợi Phất trong quá khứ các đệ tử hàng đầu đều nhập Niết Bàn trước vị giáo chủ đương thời. Hơn nữa, Ngài không muốn chứng kiến cảnh đau buồn khi Phật nhập Niết Bàn.
Sau khi tạ từ Đức Phật và giáo đoàn, Xá Lợi Phất lên đường về quê nhà tại thôn Ca La Tỳ Ma Ca với một Sa di tên là Quân Đầu, lúc nầy Ngài đã 80 tuổi, mẹ của Ngài cũng đã ngoài 100 tuổi. Vì đã 40 mươi năm xa cách, mẹ con gặp nhau trong cảnh mừng mừng tủi tủi ... dù đã già bà vẫn xem Tôn Giả như hồi còn thơ ấu, bà sai cháu gái là Ưu Ba Ly Bà Đa thu dọn cho Tôn Giả một căn phòng thật khang trang. Ngay trong đêm gặp mẹ già ngoài vấn đề giảng giải đạo lý của Đức Phật, Xá Lợi Phất bày tỏ tâm sự: trước là về quê thăm mẹ, sau cũng xin phép mẹ được từ giả cõi đời tại quê nhà. Tuy có đau buồn nhưng bà Xá Lợi cũng thấy vinh dự có được một người con đạo cao đức trọng, biết trước ngày giờ rời bỏ xác thân để sửa soạn giờ biệt ly vô cùng chu đáo. Sau đêm tâm sự với mẹ già, Ngài cho gọi dân làng đến để bố giáo và tỏ lời từ biệt. Trước dân làng, trước môn đồ tứ chúng và có cả vua A Xà Thế, Ngài bày tỏ tâm tình thiết tha yêu quê hương xứ sở và đem giáo pháp của Phật khuyên bảo mọi người.
Xá Lợi Phất bày tỏ mục đích ra đời của Phật là: Vì một đại sự nhân duyên chỉ rõ tri kiến Phật cho chúng sinh. Con nguời cần tiến tu Giới, Định, Tuệ để giải thoát sinh tử luân hồi. Nhưng trước hết phải xây dựng con người, tạo lập một quốc gia xã hội an bình tốt đẹp là chính yếu, con người nên noi gương từ bi nhẫn nhịn của Phật để sinh hoạt. Vào đến nữa đêm, mọi vật hoàn toàn yên lặng, Ngài lạy chào mẹ già, vua A Xà Thế và tất cả những người hiện diện rồi nhập đại định Niết Bàn. Sau khi làm lễ Trà Tỳ, Sa di Quân đầu mang hàI cốt Ngài trở về trình với Đức Phật. Để giáo đoàn được chiêm bái và nhân thể tán dương Xá Lợi Phất, Đức Phật tập họp đại chúng Tỳ kheo lại và dạy rằng:
· Đây là hài cốt của Xá Lợi Phất, một bậc trí tuệ hàng đầu. Xá Lợi Phất là người đã tiếp thu trọn vẹn giáo pháp cao huyền của ta được truyền bá đầu tiên ở phương Bắc, đó là công lao của Xá Lợi Phất. Trí tuệ của Xá Lợi Phất thật là trí tuệ cao tuyệt, trừ Đức Phật ra không ai bì kịp. Qua trí tuệ đó, Xá Lợi Phất đã thành tựu đạo nghiệp. Bậc đại trí nầy đã chứng pháp tính, ít muốn biết đủ, siêng năng dũng mãnh, tiến tu thiền định, không cố chấp trước, đối với ngoại đạo luận bàn vô ngại, hoằng truyền chính pháp lợi lạc mọi người, thoát ly sanh tử khổ đau, chứng nhập Niết Bàn. 
Trong hàng Thánh chúng nay trong mười đại đệ tử của Phật, Xá Lợi Phất đứng hàng đầu, vì đạo Phật là đạo của trí tuệ. Mục đích của Phật là khai thị cho chúng sanh cáI tri kiến của chư Phật (Kinh Pháp Hoa-Phẩm Tựa). Mặt khác với triết lý của đạo Phật, thuyết duyên sinh là một thuyết thâm áo nhất. Đạo Phật giải thích sự hiện hữu của mọi hiện tượng, sự vật khách quan, thế giới hữu hình qua thuyết duyên sinh, sự vật sinh sinh hóa hóa, liên hệ chằng chịt với nhau, Kinh Hoa Nghiêm gọi là trùng trùng duyên khởi. Cái nầy có thì cái kia có, cái nầy diệt thì cái kia diệt. Có lần Tỳ kheo Mang Đồng Tử hỏi Đức Phật về thế giới thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên, Phật cho là không nên hý luận nhưng không vì thế mà Phật không giải thích thế giới hiện tượng. Chính thuyết duyên sinh nầy đã giải thích sự sinh tồn của vũ trụ vạn vật. Xá Lợi Phất đã thấu rõ thuyết duyên sinh. Bởi thế Xá Lợi Phất là bậc Trí Tuệ Đệ Nhất đứng đầu trong hàng Thánh chúng.
Nhờ có trí tuệ số một biện tài vô ngại, Ngài đã chinh phục được các Luận sư của Bà La Môn ở phương Bắc Ấn Độ, khi Ngài đến Ma Kiệt Đà để xây dựng Tinh Xá Kỳ Viên. NgoàI trí tuệ, Ngài còn là nhà kiến trúc đại tài. Tôn giả đã thiết kế và trực tiếp chỉ đạo xây dựng Tinh Xá Kỳ Viên. Đây là trung tâm sinh hoạt văn hóa ngang hàng với trung tâm văn hoá Kiều Tát La, thời Phật còn ở Ấn Độ có hai trung tâm văn hóa lớn nhất là Ma Kiệt Đà và Kiều Tát La. Khi Đức Phật còn tại thế, Xá Lợi Phất được tín nhiệm và được cử đi bố giáo đầu tiên.

Vì ngoài trí tuệ biện tài, Ngài còn am tường mọi tập tục, truyền thống của dân tộc Ấn Độ, hơn nữa là ngôn ngữ đương thời của Ấn Độ, thời cổ đại tư tưởng tôn giáo đã nhiều mà ngôn ngữ các địa phương không phải là một. Bởi thế Ngài mới đại diện Phật tuyên dương giáo pháp khi Phật còn hiện diện. Mặt khác, Xá Lợi Phất còn là vị có phẩm hạnh cao, khi bị chỉ trích là đã thọ thức ăn bất tịnh, con người khinh mạn, bị Lục quần chiếm chỗ ngủ nghỉ ... Ngài vẫn từ áI khoan dung không tranh chấp thù oán. Trí tuệ đã cao mà từ ái lại bao la, Xá Lợi Phất được giáo đoàn kính nể. Đề Bà Đạt Đa là một con người có nhiều tác oai tác quái, đòi thay Phật lãnh đạo giáo đoàn, nhưng đối với Xá Lợi Phất vẫn kính sợ hơn cả Phật. Sau hết Ngài là con người tha thiết với quê hương với thôn xóm, với mẹ già, với mọi người dân quê. Khi 80 tuổi, Ngài quay về với quê hương để ban bố giáo pháp cho tất cả mọi người rồi mới vào Niết Bàn.
Nhìn chung, với những người xuất gia theo Phật để được gọi là toàn bích phải được đầy đủ 3 đức: An Đức, Trí Đức và Đoạn Đức. Xá Lợi Phất đã thể hiện trọn vẹn, cho nên xứng đáng là vị đứng đầu trong giáo đoàn của Phật. Nhưng không vì đạo nghiệp giải thoát mà quên mất mẹ già, quê hương thôn xóm, dù đã 80 tuổi Ngài vẫn về quê nhà truyền bá nếp sinh hoạt vị tha vô ngã... Xá lợi Phất xứng đáng là một biểu tượng cho tất cả mọi người noi theo.

<><<
Tôn giả XÁ LỢI PHẤT 
(Sariputra - Sariputa) 
(Vị thượng thủ có trí tuệ siêu việt nhất)
1.- TRƯỚC VÀ SAU KHI RA ĐỜI:
Thành Vương Xá (Rajagrha - Rjagaha) là kinh đô của vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha), ở miền Nam Ấn Độ. Cách thành này chừng vài dặm, có một thôn trang tên là Ca La Tí Noa Ca (Nalaka), rừng trúc xinh tươi, non xanh nước biếc, cảnh trí thật là u nhã. Đó là quê hương của tôn giả Xá Lợi Phất, vị đệ tử có trí tuệ lớn của đức Phật.
Xá Lợi Phất được sinh ra trong một gia đình thuộc dòng Bà la môn. Thân phụ của tôn giả đã từng là một luận sư nổi tiếng của đạo Bà la môn. Thân mẫu tôn giả, trong thời gian mang thai tôn giả thì tâm trí trở nên linh mẫn khác thường, đến nỗi ông em ruộy của bà là Câu Hi La (Kausthila - Kotthita), vốn dĩ cũng là một tay nghị luận cự phách đương thời mà cũng phải chịu thua bà. Bởi vậy, ông rất lấy làm hổ thẹn, phải bỏ nhà mà đi. Ông biết rằng, chị mình đã chịu ảnh hưởng của cái bào thai, và đứa bé đang nằm trong bụng mẹ kia, sau này nhất định sẽ là một bậc có trí tuệ hơn người; nếu mình không cố công học hỏi thêm thì thế nào cũng phải thua kém đứa cháu ấy, rồi người ta cười cho thì sao! Cho nên sau khi rời khỏi nhà, ông đã đi khắp nơi tìm các bậc minh sư để cầu học. Ông chuyên cần cho đến nỗi móng tay mọc dài mà không có thì giờ để cắt, khiến cho ai ai cũng gọi ông là Trường Trảo Phạm Chí (Dirghanakha - Dighanakha - ông thầy tu móng dài). - Về sau, nhân thấy Xá Lợi Phất qui y làm đệ tử Phật,ông cũng xuất gia theo Phật làm sa môn.
Khi lên tám tuổi, Xá Lợi Phất đả làu thông kinh sử. Lúc bấy giờ, ở nước Ma Kiệt Đà có hai anh em Cát Lợi và A Già La, đều là hàng trưởng giả. Một hôm, họ thết tiệc lớn khoản đãi quốc vương, thái tử, các vị đại thần, cùng các vị luận sư. Trong phòng bày tiệc, tất cả chỗ ngồi của khác đều được qui định rõ ràng, tùy theo thân danh và địa vị từng người; thế mà cậu bé tám tuổi Xá Lợi Phất kia, không biết sợ sệt ai hết, đã dám ngang nhiên leo lên chỗ ngồi cao quí dành có các vị luận sư để ngồi. Lúc đầu, các vị đại thần và luận sư thấy thế thì cứ cho Xá Lợi Phất vì còn là con nít không biết, gì, cho nên không thèm nói năng gì tới. lại còn cho đám đệ tử trẻ tuổi của họ đến chơi với cậu; nhưng một lúc sau, nghe cách nói năng của Xá Lợi Phất rất là khác thường, ngôn từ rõ ràng, khúc chiết, nghĩa lí tinh tường, rành mạch, thì các các quan đại thần, các vị đại luận sư đều lấy làm kinh ngạc, khen ngợi và bái phục, riêng quốc vương thì vô cùng hoan hỉ, liền truyền lịnh lấy ngay một thôn trang thưởng cho Xá Lợi Phất. Cậu thần đồng tám tuổi ấy thật đã làm rạng rỡ cho gia đình, và chính ngay thân phụ của cậu, vốn là một danh gia đương thời, cũng phải công nhận rằng sự thông minh tài trí của ông không thể sánh kịp với đứa con cưng quí của mình.
2.- BẬC THẦY CHÂN CHÍNH:
Xá Lợi Phất lớn lên, trở thành một thanh niên cao lớn, nét mặt thanh tú, đôi mắt có thần, tay dài quá gối, được di truyền của thân phụ, cho nên cũng có cái phong độ của một nhà học giả trứ danh. Trong giới học thuật bấy giờ, không ai là không biết đến đại danh của chàng thanh niên “hậu sinh khả úy” đó.
Năm hai mươi tuổi, Xá Lợi Phất xin phép song thân đi du phương học đạo, tìm cầu chân lí. Đầu tiên, chàng đến xin học với một thầy Bà la môn tên là San Xà Da (Sanjavairattiputra - Sanjayabelatthiputta). Một thời gian sau, vì thấy San Xà Da không đủ khả năng làm thỏa mãn ước vọng của chàng, Xá Lợi Phất lại muốn từ giã thầy để đi nơi khác.
Lúc bấy giờ, trong số bạn học, có một thanh niên tên Mục Kiền Liên (Maudgalyayana - Moggallana), là người bạn tri kỉ duy nhất của chàng. Chàng bèn nói ý tưởng của mình cho Mục Kiền Liên biết, và Mục Kiền Liên cũng có ý tưởng giống như vậy. Hai người liền quyết định rời học viện của San Xà Da và tự mình chiêu tập đồ chúng để lập nên một học viện mới. Cả hai người đều tự cho rằng, trên thế gian không còn ai thông minh tài trí hơn họ, cho nên không còn ai có đủ tư cách và khả năng xứng đáng để làm thầy họ nữa.
Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, không những tuổi tác xấp xỉ bằng nhau, mà tư tưởng và trình độ học vấn cũng không khác nhau mấy. Cả hai người cùng có chí nguyện quyết tìm cầu chân lí. Họ thương kính nhau, ở cùng nhau, và cư xử với nhau thật vô cùng hòa hợp. Từ đây, họ chỉ cùng học hỏi với nhau và dạy dỗ đồ chúng ở trong học viẹn, ngoài ra, trong toàn cõi Ấn Độ, họ không còn thấy có bất cứ nhà học giả nào đáng kể dưới mắt họ. Cho đến một hôm Xá Lợi Phất bỗng nhìn thấy thầy A Thị Thuyết (hay A Thuyết Thị, A Xả Bà Thệ, Át Bệ, Asvajit - Assaji, là một trong năm vị tì kheo đầu tiên xuất gia làm đệ tử Phật, đã từng nhiều năm tu khổ hạnh, đến khi được nghe Phật dạy về giáo lí “Bốn Sự Thật” thì chứng quả thánh) trên một đường phố trong kinh thành Vương Xá ...
Dáng vẻ của thầy A Thị Thuyết trông trang nghiêm làm sao! Mỗi cử chỉ đi, đứng của vị tì kheo ấy đều tỏ rỏ oai ghi tế hạnh. Thoạt nhìn thấy, Xá Lợi Phất bỗng cảm thấy tâm hồn rúng động. Thật kinh ngạc, thật kì lạ, không thể tả được! Không dằn được thắc mắc Xá Lợi Phất liền bước đến trước mặt A Thị Thuyết, chào hỏi một cách cung kính:
- Xin lỗi ngài cho tôi hỏi thăm, ngài tên là gì và đang cư ngụ tại đâu?
Thaây A Thị Thuyết trả lời:
- Xin cám ơn ngài đã hỏi thăm. Tôi tên là A Thị Thuyết đang cư ngụ tại tu viện Trúc Lâm (Venevana - Veluvana) ở phía ngoài kinh thành cách đây không xa lắm. (Có thuyết nói rằng, lúc Xá Lợi Phất gặp đại đức A Thị Thuyết thì tu viện Trúc Lâm chưa được xây cất; đức Phật và chúng tăng đang cư trú trong một khu rừng ở ngoại ô phía Nam thành Vương Xá - Chú thích của người dịch).
- Bậc tôn sư của ngài là ai? Và thường dạy ngài những đạo lí gì?
- Thầy tôì là người thuộc dòng họ Thích Ca, người ta thường Người là Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài thường dạy cho chúng tôi về chân lí của vũ trụ và nhân sinh, mà kẻ trí óc cạn cợt như tôi thì không thể nào hoàn toàn lãnh hội hết được. Giáo lí Thầy tôi thường giảng dạy mà tôi ghi nhớ nhiều nhất là như vầy: 
 “Các pháp do nhân duyên mà sinh,
 Và cũng lại do nhân duyên mà diệt”.
Và Người còn dạy:
“Tất cả các hành nghiệp đều là vô thường,
Đều là pháp sinh diệt.
Và một khi chấm dứt được sự sinh diệt,
Thì có được sự an lạc trong cảnh giới niết bàn tịch tịnh”.
Thật tôi không biết diễn tả thế nào để nói lên được lòng cảm kích của chúng tôi đối với những lời giáo huấn của Thầy chúng tôi!
Xá Lợi Phất cảm thấy như trời long đất lở khi vừa nghe được danh xưng “đức Phật” cùng giáo pháp của Ngài do từ miệng thầy A Thị Thuyết nói ra! Như ánh sáng chói lòa của mặt trời chiếu ngay trước mắt, bao nhiêu đám mây nghi ngờ về các vấn đề vũ trụ nhân sinh tích tụ từ trước đến nay bỗng dưng đều được quét sạch. Hai người đi với nhau thêm một quãng đường để đàm đạo. Đi bên cạnh vị tì kheo vừa mói gặp lần đầu mà Xá Lợi Phất cảm thấy như là bạn tâm giao đã lâu đời. Sau đó, Xá Lợi Phất xin cáo từ, và hứa với A Thị Thuyết thế nào cũng sớm đến tu viện để xin yết kiến đức Phật.
Xá Lợi Phất bương bả trở về học viện. Mục Kiền Liên xem thấy thần sắc Xá Lợi Phất sao mà khác thường, nét vui mừng hớn hở lộ ra trên mặt bạn hôm nay thật chưa từng thấy bao giờ! Bèn hỏi dò:
-Xá Lợi Phất! Sao? Có việc gì hứng thú lắm mà hôm nay trông bạn vui vẻ quá vậy?
- Mục Kiền Liên! Tôi mừng quá! Trong đời, đây là lần đầu tiên tôi thấy cao hứng như vậy! Này, tôi nói cho bạn biết nhé, tôi đã tìm thấy bậc tôn sư của chúng mình rồi! ...
Mục Kiền Liên trố mắt:
- Này, đứng nói như vậy, trên đời này lại còn ai có thể làm thầy chúng ta nữa chứ!
- Có chớ, có! Đó là đức Phật! Tôi xin nhắc lại, đó là đức Phật! 
Rồi Xá Lợi Phất đem tất cả những gì đã nghe được từ thầy A Thị Thuyết về đức Phật và giáo pháp của Ngài, nói lại cho Mục Kiền Liên nghe. Hai người bạn, một người thuật và một người nghe, trong giây phhút quí báu ấy, đều vô cùng vui sướng, cảm động đến nỗi nước mắt chảy ràn rụa.
Pháp “nhân duyên”, người thường nghe đến thì không hiểu là gì, nhưng khi lọt vào tai của một người có trí tuệ và đang tìm cầu chân lí như Xá Lợi Phất thì khác hẳn. Ông cảm thấy như công phu tụ học của mình trong bao nhiêu năm qua đều trở thành rỗng tuếch! Điều đó không sai, bởi vì, chỉ có người nào thấy rõ được “nhân duyên” thì mới thấy rõ được Phật pháp.
Liền ngày hôm sau, Xá Lợi Phất đã cùng Mục Kiền Liên, dẫn theo hai trăm đồ chúng của họ, cùng đến tu viện Trúc Lâm xin xuất gia theo Phật. Đức Phật rất hoan hỉ, vì biết rằng, từ ngày thành đạo, đến nay mới có được hai người đệ tử đích thực có khả năng, có thể tiếp thọ chân lí do mình truyền đạt; trong khi đó thì Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng biết chắc chắn rằng, cho đến hôm nay mình mới đích thực có được bậc Thầy chân chính!
3.- GIÁM ĐỐC CÔNG TRƯỜNG XÂY CẤT TU VIỆN KÌ VIÊN:
Sau khi Xá Lợi Phất xuất gia theo Phật thì uy tín của tăng đoàn mạnh mẽ thêm lên. Tôn giả rất được Phật tin cẩn. Tôn giả đã là người đầu tiên được Ngài giao cho sứ mạng lên miền Bắc để giáo hoá, nhân tiện quản đốc công trình xây cất tu viện Kì Viên (Jetavana).
Nhắc lại, trong hai năm đầu sau ngày đức Phật thành đạo, công việc hoằng hóa của đức Phật chỉ mới phát triển ở khu vực phía Nam sông Hằng trong phạm vi các vương quốc Ca Thi (Kasi) và Ma Kiệt Đà. Lúc bấy giờ, ở kinh thành Xá Vệ (Sravasti - Savatthi) của vương quốc Kiều Tát La (Kosala), thuộc miền Bắc Ấn Độ, có một vị trưởng giả tên là Tu Đạt (Sudatta). Nhân duyên cơ ngộ, một hôm nhân xuống Vương Xá thăm người thân mà được diện kiến đức Phật. Vì lòng ngưỡng mộ, ông đã xin qui y Tam Bảo và thỉnh nguyện Phật cho phép ông được xây cất một ngôi tu viện ở kinh thành Xá Vệ - quê hương ông - để cúng dường Phật và tăng đoàn làm cơ sở tu học và hoằng pháp ở phương Bắc.
Sau khi dùng “vàng ròng trải đất”, mua được khu vườn cây của thái tử Kì Đà (Jeta) tại thành Xá Vệ, trưởng giả Tu Đạt liền trở lại Vương Xá xin Phật cho một vị tì kheo lên đó để trông coi công việc xây cất tu viện. Phật pháp đối với dân chúng Xá Vệ thật là mới mẻ. Nơi đó lại có đông đảo ngoại đạo hoạt động; cho nên người được cử lên đó không những phải đủ sức quán xuyến công việc xây cất tu viện, mà còn phải có đủ khả năng hàng phục ngoại đạo. Vì thấy rõ điều đó, đức Phật đã giao nhiệm vụ ấy cho Xá Lợi Phất, và tôn giả đã cùng với Tu Đạt lên đường đi về phương Bắc ...
Đúng như đức Phật đã lượng định trước, công việc xây cất được khởi công không lâu thì ma nạn liền đến. Vì lòng đố kị, vì lo sợ Phật giáo bành trướng, rất đông giáo sĩ ngoại đạo đã cùng đến yêu cầu trưởng giả Tu Đạt hủy bỏ ý định xây tu viện để cúng dường Phật; không những thế, họ còn bảo Tu Đạt không được tin theo đức Phật nữa. Nhưng trưởng vốn đã đặt niềm tin sâu sắc nơi đức Phật rồi, thì dù cho ngoại đạo muốn nói năng thế nào đi nữa, ông cũng không đổi ý. Quí vị giáo sĩ ngoại đạo bèn thay đổi kế hoạch. Họ thách tôn giả Xá Lợi Phất công khai tranh luận với họ; vì họ tin rằng, với cách này, chắc chắn họ sẽ đánh bại được Xá Lợi Phất để cho Tu Đạt sáng mắt ra mà tỉnh ngộ. Khi biết được tin này, trưởng giả lo sợ vô cùng. Ông nghĩ rằng rằng, một mình tôn giả Xá Lợi Phất thì làm sao có thể thắng được số giáo sĩ ngoại đạo đông đảo như vậy! Ông bèn đến yết kiến tôn giả để tỏ lộ tâm trạng lo lắng của mình; nhưng khi nghe điều ấy, tôn giả đã không chút gì tư lự, lại còn tỏ ra hết sức vui mừng, vì đối với tôn giả, đây mới chính là một cơ hội thật tốt để hoằng dương giáo pháp.
Ngày giờ và địa điểm mở cuộc tranh luận đã được ước định. Bên phía ngoại đạo cử ra vài mươi vị luận sư để đối chọi với chỉ một mình tôn giả Xá Lợi Phất.
Nên biết rằng, trong cuộc tranh luận này, về số lượng, tuy đại diện đức Phật chỉ có một mình tôn giả Xá Lợi Phất, nhưng trên thực lực thì một Xá Lợi Phất ấy cũng đủ để đánh bại hàng ngàn, hàng vạn các vị luận sư ngoại đạo. Tôn giả là một vị đệ tử ít có ai sánh kịp trong số các đệ tử của Phật. Lại nữa, chúng ta hẳn còn nhớ, tôn giả vốn xuất thân từ một gia đình Bà la môn, mà tổ phụ và thân phụ đều là những bậc học giả, luận sư lỗi lạc trong giới Bà la môn. Ngay từ lúc nhỏ, tôn giả đã hưởng thụ được trọn vẹn cái di sản tinh thần đó của ông, cha, đã từng tinh thông mọi điển tịch ngoại đạo; lớn lên lại gặp cơ duyên xuất gia theo Phật và đã chứng quả thánh, thì còn chọn ai hơn được tôn giả để đối phó với ngoại đạo trong trường hợp này! Cho nên, không cần nói chúng ta cũng biết được rằng, tôn giả Xá Lợi Phất đã thắng quí vị luận sư ngoại đạo trong cuộc thử thách này. 

Có điều đáng nói, sau cuộc tranh luận công khai ấy, quí vị giáo sĩ ngoại đạo đã thấy rõ được chân lí, phá bỏ kiến chấp, đồng lòng xin tôn giả Xá Lợi Phất giới thiệu họ được gặp Phật và qui y theo Phật tu học. Cũng nhân cơ hội này mà rất đông đảo quần chúng được biết đến Phật pháp và đều xin qui y Tam Bảo. Riêng trưởng giả Tu Đạt thì vui mừng hớn hở, càng khâm phục tôn giả Xá Lợi Phất, ông lại càng cảm kích oai đức của Phật. Lúc đó, tuy đức Phật vẫn còn đang hành hóa ở phương Nam, mà ánh sánh chân lí đã rọi chiếu đến phương Bắc.
Công trình xây cất tu viện Kì Viên được tiến hành rất nhanh chóng. Theo đồ án do tôn giả Xá Lợi Phất thiết kế, tu viện gồm có mười sáu gian nhà rộng lớn dùng cho những sinh hoạt tập thể như giảng đường, hội trường; sáu mươi gian nhà nhỏ dùng làm phòng ngủ, phòng tĩnh dưỡng, phòng rửa mặt, kho chứa vật dụng v.v...; ngoài ra còn có các sân vận động, sân tắm, ao nước, v.v...
Một hôm, khi tu viện xây cất sắp xong, tôn giả chỉ lên hư không nói với Tu Đạt:
- Trưởng giả Tu Đạt! Hãy nhìn kìa! Trên không trung hiện ra những gì, ông thấy không?
Tu Đạt lấy làm lạ đáp:
- Thưa tôn giả, con có thấy gì đâu!
- À phải rồi, nếu dùng nhhục nhãn thì không thể thấy được những cảnh này đâu. Bây giờ ông hãy nương vào thiên nhãn của tôi mà nhìn lại một lần nữa nhé!
- Thưa tôn giả, con đã thấy rồi. Con thấy có rất nhiều điện đẹp đẽ, trang nghiêm. Tu Đạt rất làm sung sướng nói với Xá Lợi Phất như vậy.
- Đó là cung điện ở cõi trời Lục Dục, để dành cho ông đấy. Ở đây ông xây tu viện để cúng dường đức Phật dùng làm cơ sở hoằng pháp; dù tu viện chưa hoàn tất, nhưng cung điện dành cho ông ở cõi trời Lục Dục thì đã hoàn thành rồi.
- Thưa tôn giả, cung điện của cõi trời Lục Dục nhiều như thế thì về sau con nên ở cung trời nào tốt hơn?
- Ở cung trời Đao Lợi thì mạng sống rất dài, lại có ý thức và siêng năng trong việc tu hành Phật đạo, cho nên rất ít khi bị đọa lạc.
- Vậy thì trong đời tương lai con nguyện được sinh về cung trời Đao Lợi.
Trong lúc Tu Đạt nói lời ấy thì bao nhiêu cung điện khác dần dần biến mất, chỉ còn lại cung trời Đao Lợi là sáng rỡ huy hoàng. Tu Đạt thấy thế thì vô cùng vui mừng. Đó là việc có một không hai trong đời ông từ trước đến giờ.
4.- TÂM ĐẠI THỪA KHÔNG THỐI CHUYỂN:
Nói đến việc trư3ơng giả Tu Đạt, nhân xây cất tu viện cúng dường Phật mà có thể nương vào thiên nhãn của tôn giả Xá Lợi Phất để nhìn thấy được đến các cung trời, tưởng cũng nên nhắc lại trường hợp đặc biệt của cặp mắt Xá Lợi Phất trong một câu chuyện tiền thân của tôn giả cách sáu mươi tiểu kiếp về trước, khi tôn giả đang tu hạnh bồ tát.
Thuở đó, trong khi phát tâm tu hạnh bồ tát, Xá Lợi Phất đã rất chú trọng đến hạnh bố thí. Để thực hiện hạnh bố thí, Xá Lợi Phất không những phát nguyện giúp cho mọi người tài vật, nhà cửa, ruộng vườn, mà thậm chí còn hi sinh đến cả thân thể và tính mạng nữa. Tâm nguyện chân thành của Xá Lợi Phất lúc đó đã làm cảm động đến cả trời đất. Bấy giờ có một vị trời muốn thử tâm đạo của Xá Lợi Phất bèn hóa hiện làm một gã thanh niên tuổi chừng hai mươi, đứng bên đường chờ Xá Lợi Phất đi ngang qua. Khi Xá Lợi Phất vừa tới trước mặt thì gã thanh niên liền khóc lóc kêu gào thảm thiết. Xá Lợi Phất thấy thế thì động mối thương tâm, bèn an ủi hỏi han:
- Này cậu! Có chuyện gì mà cậu đứng đây khóc lóc thảm thiết quá vậy?
- Xin ông đừng hỏi làm gì! Tôi dù có nói chuyện này với ông cũng chỉ vô ích mà thôi.
- Cậu ạ! Tôi là kẻ tu hành, có tâm nguyện giúp đỡ những ai bị đau khổ. Chỉ cần cậu nói rõ cái hoàn cảnh bất hạnh của cậu, nếu khả năng tôi có thể làm được gì để giúp đỡ thì tôi tức khắc làm cậu vừa ý ngay.
- Tôi biết chắc chắn là ông thể giúp gì được cho tôi đâu! Tài sản ở thế gian tôi không hề thiếu thốn, chỉ vì mẹ tôi bịnh quá nặng, không thể tìm thuốc chữa mà tôi đau đớn đến phải khóc lóc thảm thiết như vầy. Theo lời thầy thuốc bảo thì tôi phải đi tìm cho được một con mắt sống của một người tu hành đem về làm thuốc thì chứng bệnh hiểm nghèo của mẹ tôi mới chữa khỏi được. Tôi vừa đi vừa nghĩ, đến như con mắt sống của một người bình thường còn chưa dễ kiếm, huống hồ là của một người tu hành! Nghĩ đến điều khó khăn này, rồi nghĩ đến mẹ bịnh nằm trên giường, vừa rên siết vừa trông ngóng con mau đem con mắt về làm thuốc, mà lòng tôi đau như cắt ...
- Cậu ạ! Không có gì khó khăn cả. Vừa rồi tôi đã nói với cậu về cái tâm nguyện của tôi. Tôi chính là một kẻ tu hành, và mắt của tôi đúng là mắt của một người tu hành. Tôi xin biếu cậu một con mắt của tôi để cậu đem về làm thuốc chữa bịnh cho bà cụ.
Gã thanh niên vui mừng nhảy nhót:
- Thật sao! Ông hoan hỉ cho tôi một con mắt sao?
- Bao nhiêu tài sản tôi đã đem bố thí cho người hết rồi. Tôi đang muốn tiến thêm một bước nữa trên đường tu hạnh bồ tát là bố thí đến thân thể tôi, nhưng khổ nỗi là chưa có ai cần tới. Hôm nay gặp được cậu tội thật thấy mãn nguyện. Tôi vui sướng lắm và cảm ơn cậu vô cùng. Vậy cậy hãy dùng cách nào đó để lấy con mắt của tôi đi!
Nhưng gã thanh niên không chịu, nói:
- Không được đâu,! Làm như vậy thì có vẻ như tôi cưỡng đoạt con mắt của ông. Tôi không dám. Ông đã tự nguyện cho tôi thì xin ông hãy tự móc nó ra trao cho tôi.
Xá Lợi Phất cho lời nói của gã thanh niên là có lí, bèn hạ quyết tâm, nén đau đớn, đưa tay móc con mắt bên trái ra, trao tận tay gã, và nói:
- Xin đa tạ cậu đã giúp tôi hoàn thành tâm nguyện. Cậy hãy đem con mắt này về nhà đi!
Gã thanh niên đưa tau tiếp lấy con mắt do Xá Lợi Phất trao cho, nhưng bỗng hét to:
- Thật là vô dụng! Tôi đâu có bảo ông móc con mắt bên trái làm gì! Bịnh của mẹ tôi, theo thầy thuốc bảo, phải dùng con mắt bên phải mới được!
Nghe thế, Xá Lợi Phất lại cho mình quả là đồ vô dụng. Ông tự trách mình sao đã không hỏi trước cậu ta cho cẩn thận. Giờ thì đã lỡ rồi. Phát tâm thì phải cho trọn vẹn; cứu người thì phải hết lòng. Thế thì ta phải móc luôn con mắt bên phải cho cậu ta mới được! Ông bèn an nủi gã thanh niên:
- Cậu đừng giận! Vừa rồi vì tôi quá hấp tấp mà đã quên hỏi cậu trước cho rõ ràng. Tôi đã biết lỗi. Con mắt bên phải của tôi vẫn còn đây, để tôi móc ra đền lại cho cậu đem về làm thuốc chữa bịnh cho mẹ cậu.
Nói xong, Xá Lợi Phất lại cố nén đau đớn, móc luôn con mắt bên phải trao cho gã thanh niên. Tiếp lấy con mắt, không một lời cám ơn, gã lại còn đưa con mắt lên mũi ngửi ngửi, rồi ném mạnh xuống đất và mắng:
- Ông mà là người tu hành gì! Con mắt của ông sao mà hôi thúi khó ngửi quá thì làm sao có thể làm thuốc chữa bịnh cho mẹ tôi được!
Mắng xong, gã lại dùng chân đạp lên con mắt của Xá Lợi Phất. Lúc đó tuy không còn trông thấy gì được nữa, nhưng tai Xá Lợi Phất vẫn nghe biết rõ mọi chuyện. Ông đã nghe gã thanhh niên kia mắng ông. Ông đã nghe tiếng chân gã dẫm đạp lên con mắt của ông đã cho gã. Ông than thầm: “Chúng sinh thật khó độ; tâm bồ tát thật khó phát! Thôi ta cũng không nên vọng tưởng về việc tiến tu hạnh đại thừa nữa làm gì, mà hãy cứ theo con đường tự lợi cũ là hơn”. Vừa nghĩ như vậy thì bỗng trên hư không xuất hiện rất nhiều thiên chúng, đồng thanh nói với Xá Lợi Phất rằng:
- Hỡi vị hành giả kia! Người không nên thối chí như vậy. Gã thanh niên vừa rồi chính là một vị trời hóa hiện để thử đạo tâm của người đấy thôi. Người hãy giữ vững tâm nguyện và hãy tinh tấn dõng mãnh hơn nữa trên đường tu hành!
Nghe mấy lời ấy, Xá Lợi Phất lại tự lấy làm hổ thẹn, tâm bồ tát lại phát sinh mạnh mẽ. Trải qua sáu mươi tiểu kiếp, Xá Lợi Phất vẫn không thối chuyển trên đường tu học, cho đến hôm nay được gặp Phật là liền chứng thánh quả, có được thiên nhãn thông.
5.- NHẬN THỨC ĂN KHÔNG TRONG SẠCH:
Xá Lợi Phất xứng đáng là vị đệ tử hàng đầu của đức Phật. Tôn giả là bậc có trí tuệ hơn người, thần lực trội chúng, mà đối với đức Phật thì trăm điều đều y thuận, chưa từng làm trái lời dạy nào của Ngài. Bởi vậy, trong tất cả đệ tử, tôn giả là người được được tín nhiệm nhất.
Trong lần đầu tiên trở về thăm quê hương Ca Tì La Vệ (Kapilavastu - Kapilavatthu) sau ngày thành đạo, đức Phật đã cho La Hầu La (Rahula) xuất gia theo tăng đoàn tu học. Chính Xá Lợi Phất đã truyền giới sa di cho La Hầu La. Đức Phật cũng đã bảo La Hầu La tôn Xá Lợi Phất làm thầy, phải luôn luôn kề cận để được tôn giả dạy dỗ cho.
Một hôm sau khi La Hầu La theo Xá Lợi Phất đi khất thực trở về, đức Phật trông thấy nét mặt La Hầu La không được vui. Sau giờ ngọ trai, Ngài bèn gọi La Hầu La đến gần hỏi xem trong lòng có gì không vừa ý. La Hầu La cúi đầu thưa:
- Bạch Thế Tôn! Thân phận con chỉ là một chú tiểu, lẽ ra thì không được nói lỗi lầm của bậc trưởng thượng, nhưng nếu không nói thì không ai hiểu được hoàn cảnh của bọn sa di chúng con.
- Ừ, có việc gì con cứ việc nói ra đi!
- Bạch Thế Tôn! Khi các bậc trưởng thượng dẫn chúng con đi thọ thực, quí vị thí chủ cúng dường cho quí ngài toàn thức ăn hảo hạng; còn với bọn sa di chúng con thì họ chỉ cho toàn những thức ăn quá tệ. Con nghĩ, thân thể của mọi người đều cần thức ăn giống nhau, đâu có phân biệt tuổi tác hay giới hạnh. Các bậc trưởng thượng của chúng con chỉ biết thọ dụng sự cúng dường của thí chủ mà không có lòng thương chiếu cố đến chúng con, đã để cho quí vị thí chủ sinh tâm phân biệt trong khi cúng dường.
- Chỉ một việc nhỏ như vậy mà con cũng không nhẫn được hay sao?
- Xin đức Thế Tôn thương xót mà không trách mắng con. Bạch Thế Tôn, ăn uống có đủ chất dinh dưỡng thì thân thể mới khỏe mạnh, khí lực mới tăng trưởng do đó mà tâm mới an lạc để tinh tấn tu tập. Thực sự thì chúng con ngày nào cũng chỉ ăn toàn các thức ăn thiếu dinh dưỡng, cho nên thân thể ngày càng mệt mỏi, khiến cho tâm ý ít khi được chuyên nhất để hành trì hữu hiệu.
Đức Phật cũng thấy những điều La Hầu La nói là đúng sự thật, nhưng vẫn dạy:
- Này La Hầu La! Con rời bỏ hoàng cung đi theo tăng đoàn có phải là vì để nhận sự cúng dường chăng?
- Dạ không phải như vậy, bạch Thế Tôn! Con gia nhập tăng đoàn là để học đạo tu hành.
- Vậy thì con đâu có cần gì phải nói về chuyện ấy. Nếu chỉ vì việc học đạo tu hành thì dù chúng ta có được thí chủ cúng dường chỉ một hột mè hay một hột bắp cũng vẫn là đầy đủ. Thôi con hãy lui đi, hãy lấy việc tu hành làm trọng, đừng để tâm đến chuyện ăn uống nữa!
Tuy đức Phật dạy La Hầu La như vậy, nhưng Ngài cũng thấy việc thí chủ cúng dường tăng chúng với tâm phân biệt là không phải. Bởi vậy, sau khi La Hầu La đi rồi, Ngài lại cho mời Xá Lợi Phất đến. Ngài dạy:
- Thầy Xá Lợi Phất! Hôm nay thầy đã nhận được các thức ăn không trong sạch, thầy có biết không?
Tôn giả nghe Phật bảo thế thì thất kinh, bèn chạy ra ngoài, đem bao nhiêu thức ăn vừa ăn xong cho ói ra hết, rồi trở vào thưa với Phật:
- Bạch Thế Tôn! Từ khi theo Thế Tôn xuất gia đến giờ, con luôn luôn y theo cách thức khất thực do Thế Tôn chỉ dạy mà hành trì . Con chưa bao giờ trái lời Thế Tôn để xin những thứ đồ ăn không trong sạch.
Tâm ý của tôn giả thế nào thì đức Phật đã thấy rõ, cho nên Ngài giải thích:
- Thầy Xá Lợi Phất! Như Lai biết rất rõ là thầy luôn luôn hành trì pháp chế khất thực thật đúng cách, nhưng đối với tinh thần hòa ái trong nếp sống tăng đoàn thì mình không nên chỉ biết có mình. Pháp chế luôn luôn phải bình đẳng, mà lợi lộc thì cũng phải chia sẻ đồng đều; hơn nữa, là bậc trưởng thượng trong chúng thì lúc nào cũng nên thương yêu và quan tâm săn sóc các thầy tì kheo nhỏ tuổi cũng như các chú sa di chưa trưởng thành! Một điều điển hình là trong lúc đi khất thực, quí thầy nên để tâm đến họ.
Nghe Phật dạy, Xá Lợi Phất đã hiểu rõ sự việc. Tôn giả rất cảm kích đối với lòng từ ái của Phật đối với các đệ tử, nguyện tiếp nhận, ghi nhớ và hành trì lời Phật dạy.
6.- KẺ PHẢN BỘI PHẢI SỢ SỆT:
Trong số đệ tử của Phật có một vị tì kheo tên là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), vốn là em họ của Phật. Khoảng mười năm sau khi theo Phật xuất gia, ông bị ma nghiệp làm mê muội tâm linh, đã phản bội đức Phật và tách rời tăng đoàn của Phật.
Một ôm sau giờ ngọ trai, đức Phật và chúng tăng cùng nghỉ ngơi trong giảng đường, bất ngờ, Đề Bà Đạt Đa đến yêu cầu Phật trao quyền lãnh đạo giáo đoàn lại cho ông ta. Đứchật không chấp thuận. Ông bèn la hét giận dữ, nhưng ngài vẫn yên lặng. Ông lại kêu gọi chúng tăng hãy đi theo ông ta. Lúc ấy, em của ông, tôn giả A Nan (Ananda), đứg dậy tiến đến trước mặt ông nói:
- Xin sư huynh đừng có vọng tưởng. Vì sư huynh là bậc huynh trưởng của tôi, nên khi nghĩ đến những tội lỗi nặng nề sư huynh đã tạo ra, nghĩ đến sự đọa lạc mà sư huynh phải chịu trong tương lai, tôi cảm thấy vô cùng xót xa. Đức Thế Tôn là bậc đại từ bi, một người nhu sư huynh thì đâu thể nào so sánh được. Nếu hôm nay mà có hai sư huynh Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên ở đây thì nhất định là sư huynh không thể buông lung như thế được ...
Sau đó, với sự ủng hộ nhiệt tình của vua A Xà Thế (Ajatasatru - Ajatasattu), Đề Bà Đạt Đa đã dùng nhiều cách như uy hiếp, hoặc đem lợi lộc dụ dỗ, để níu kéo một số đệ tử của Phật đi theo ông; đó là những vị tì kheo mới xuất gia, nhẹ dạ, lòng tin chưa vững chắc, thấy có lợi lộc và uy thế của vua là đi theo.
Một hôm, nhân lúc các tì kheo đệ tử của Phật bỏ theo Đề Bà Đạt Đa và các đệ tử riêng của Đề Bà Đạt Đa nhóm họp tại một nơi nọ, Xá Lợi Phất bỗng xuất hiện. Với một phong cách đầy uy lực và trang nghiêm, tôn giả nói với họ:
- Thưa quí huynh đệ! Tôi có mặt ở đây hôm nay cốt xin hỏi quí huynh đệ một câu: Quí thầy xuất gia tu hành là chính vì để thọ nhận sự cúng dường hay là vì sự tu học?
Tất cả đồng trả lời:
- Chỉ vì sự tu học, vì muốn thoát khỏi biển khổ sinh tử.
- Nếu đã như vậy thì tại sao qui huynh đệ không đi theo con đường chân chánh do đức Phật chỉ dạy, mà lại đem cái lòng tin thuần khiết, tôn quí của mình dâng cho kẻ hoàn toàn bị dao động bởi lợi dưỡng vật chất? Xin qui huynh đệ hãy tỉnh ngộ?
Trong khi tôn giả nói những lời ấy thì từ trên thân thể tôn giả xuất hiện muôn đạo hào quang sáng rỡ. Trong hào quang ấy lại hiện ra từ dung của đức Phật, khiến cho tất cả chúng tì kheo lạc lối ấy bỗng nhiên đều quì cả xuống và nói lên lời sám hối. Tôn giả bèn đưa tất cả trở về lại với tăng đoàn.
Đem lại sự hòa hợp cho tăng đoàn là một công lao vô cùng to lớn của tôn giả Xá Lợi Phất. Đức Phật hết sức khen ngợi. Riêng Đề Bà Đạt Đa, ông không sợ đức Phật mà lại rất sợ Xá Lợi Phất.
Về sau, vì tội nghiệp quá thâm trọng nên Đề Bà Đạt Đa phải đọa vào địa ngục. Vua A Xà Thế thì sớm biết ăn năn hối lỗi nên đã được cứu độ. Còn tôn giả Xá Lợi Phất thì càng được tăng đoàn kính trọng.
7.- TIẾP NHẬN MỘT PHÁP MÔN CỨU ĐỘ CHÚNG SINH:
Một lúc nọ đức Phật ngự tại tu viện Kì Viên. Vì thương xót chúng sinh mãi phiêu bạt trong biển khổ sinh tử không nơi nương tựa, luân hồi trong sáu nẻo mà không biết được một nơi nào có an lạc hạnh phúc chân thật để quay về, cho nên Ngài muốn nói một pháp môn để cứu độ; đó là giới thiệu cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà (Amita) và cách thức rất dễ hành trì để được vãng sinh về cõi ấy, nhưng lại sợ những người có căn cơ thấp kém, tin không tới mà không chịu tiếp nhận, Ngài bèn quyết định chọn tôn giả Xá Lợi Phất làm đối tượng nói pháp. Trong số thính chúng lúc bấy giờ cũng gồm đủ những người có các căn cao, vừa, thấp, nhưng vì Ngài biết rõ rằng, chỉ có vị đại trí tuệ ấy mới biết được cái cảnh giới thật thanh tịnh, thật trang nghiêm của cõi Cực Lạc, và mới có được lòng tin chân thật nơi đức Phật A Di Đà. Ngài dạy:
- Này Xá Lợi Phất! Cách thế giới của chúng ta thật xa về phương Tây, có một thế giới tên là Cực Lạc. Vị giáo chủ chu thế giới ấy là đức Phật A Di Đà, hiện tại đang nói pháp. Thầy Xá Lợi Phất! Vì sao cõi đó tên là Cực Lạc? Bởi vì cõi đó cái gì cũng viên mãn, ở đâu cũng an lạc, không giống như thế giới Ta Bà có quá nhiều khiếm khuyết, quá nhiều thống khổ của chúng ta ở đây. Ở cõi nước ấy, nói về thiên nhiên thì đất đai bằng phẳng. sự vật dồi dào, trong sạch, ngay thẳng, đẹp đẽ; nói về nhân quần xã hội thì mọi thứ tiện ích và nhu yếu cho đời sống con người đều sẵn có đầy đủ, và người ta chỉ dùng đến khi nào cần thiết. Khắp cõi nước ấy, chỗ nào cũng như là đô thị với những kiến trúc đường hoàng, tề chỉnh, chỗ nào cũng là vườn hoa tươi đẹp muôn màu. 

Thầy Xá Lợi Phất! Chỉ cấn nhất tâm trì niệm danh hiệu đức Phật A Di Đa và siêng năng tu học ba mươi bảy phẩm trợ đạo, vun trồng phước đức thì trong tương lai nhất định sẽ được đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về thế giới ấy của Ngài. Chúng sinh ở thế giới Ta Bà này, nếu muốn thoát khỏi những khổ não của sinh tử luân hồi thì chỉ cần phát nguyện cầu được vãng sinh về thế giới đó. Như Lai đã từng bảo A Nan lễ bái đức Phật A Di Đà và thầy ấy cũng đã từng thấy được từ quang của Ngài. Đại chúng hãy tin tưởng sâu sắc vào pháp môn khó tin mà Như Lai vừa nói ra; đó mới xác thật là con đường được cứu độ của chúng sinh.
Tôn giả Xá Lợi Phất hoàn toàn không có chút gì hoài nghi về những điều đức Phật vừa nói. Tôn giả và toàn thể đại chúng đều tin tưởng sâu sắc nơi pháp môn này.
8.- ĐỨC NHƯỜNG NHỊN:
Tôn giả Xá Lợi Phất, đối với giáo pháp của đức Phật thì một mực tin tưởng, tôn kính và thực hành; đối với công việc hoằng pháp thì hết sức chuyên cần; nhưng đối với cá nhân mình thì không bao giờ kể đến công lao; có những khen thưởng, lợi lộc gì cũng nhường cho người khác.
Một lần nọ, đức Phật dẫn chúng tăng đi hành hóa. Lúc về đến thành Xá Vệ thì nhóm tì kheo thường được đại chúng gọi là “lục quần tì kheo”, đã cố đi thật lẹ để về tu viện Kì Viên trước mọi người. Họ tranh nhau chiếm hết các chỗ ngủ nghỉ tương đối tốt trong chúng, kể cả tịnh thất của tôn giả Xá Lợi Phất. Họ bảo: “Đây là chỗ của đức Phật, thầy ta, ta có quyền cư trú”. Hôm đó Xá Lợi Phất lại về rất trễ. Khi về đến tu viện, trông thấy tịnh thất của mình đã bị nhóm “lục quần tì kheo” chiếm ngụ, tôn giả không phiền hà gì cả, bèn ra gốc cây tĩnh tọa suốt đêm đó. Sáng sớm đức Phật dậy, nghe tiếng ho húng hắng ở ngoài gốc cây. Ngài hỏi:
- Thầy nào ngoài đó? Sao không tĩnh tọa ở trong nội thất?
Tôn giả thưa:
- Bạch Thế Tôn! Con là Xá Lợi Phất. Vì hôm qua số huynh đệ theo Thế Tôn về tu viện đông quá, các phòng ốc đều không còn chỗ trống nên con tạm nghỉ ở gốc cây một đêm.
Đức Phật nghe vậy thì khen ngợi tôn giả là người có đức nhường nhịn. Tuy vậy, Ngài cũng tạp họp đại chúng để dạy bảo. Ngài hỏi:
- Này quí thầy! Trong giáo đoàn chúng ta, những ai xứng đáng được dùng giường tốt nhất, được hưởng thọ các đồ ăn thức uống ngon nhất?
Đại chúng đều trả lời khác nhau. Người thì cho là những vị tì kheo xuất thân từ hoàng gia quí tộc; người thì cho là những vị tì kheo xuất thân từ chủng tộc Bà la môn; người thì cho là những vị tinh tấn tu hành và chuyên cần bố giáo. Cuối cùng Phật dạy:
- Này quí thầy! Ngày xưa trong núi Tuyết có một con chim, một con vượn và một con voi cùng kết bạn sống chung với nhau. Tuy vậy, vì thân thể, súc vóc và trí khôn của chúng đều khác nhau, nên con nào cũng tự cao tự đại, không tôn kính lẫn nhau. Về sau cả ba đều tự biết như vậy là không phải, cho nên đã cùng thỏa thuận với nhau là con nào tuổi tác cao nhất thì được hai con kia tôn kính và nghe lời dạy bảo. Nhờ vậy, sau khi mạng chung, chúng đều được chuyển sinh về các cõi lành. Cũng vậy, nếu quí thầy biết tôn kính các bậc trưởng thượng thì chẳng những trong hiện tại được mọi người khen ngợi mà đời sau sẽ được sinh về các cõi lành. Này quí thầy! Trong giáo pháp của Như Lai không có các giai cấp cao thấp, nhưng có các vị trưởng lão mà pháp lạp cũng như giới lạp đều cao, đáng phải được đại chúng tôn kính, cúng dường, phụng sự và lễ bái. Chính những vị trưởng lão ấy mới xứng đáng được dùng giường tốt nhất, được ưởng thọ các đồ ăn uống ngon nhất.
9.- HẾT LÒNG KHEN NGỢI MỘT CÁI CHẾT THẬT ĐẸP:
Tuy là một vị trưởng lão đã chứng quả thánh, nhưng tôn giả Xá Lợi Phất vẫn tỏ lòng kính trọng đối với quí vị phụ nữ đạt được những thành quả cao quí trong việc tu học.
Một hôm, lúc đang ngồi thiền trong một khu rừng ở ngoại ô kinh thành Vương Xá, bỗng tôn giả nghe tiếng kêu lớn của ni sư Ưu Ba Tiên Na (Upasena) cũng đang ngồi thiền ở một hang núi gần đó. Tôn giả lập tức tìm đến nơi. Thấy tôn giả, ni sư thưa:
- Bạch thầy! Vừa mới đây, trong lúc đang ngồi thiền, con cảm thấy như có con gì đang bò trên người con. Mới đầu con không chú ý đến, nhưng sau thì con biết đó là một con rắn cực độc, và nó đã cắn con. Chắc chắn là con sắp chết. Trong thời khắc ngắn ngủi này còn lại này. Xin thầy hoan hỉ tìm các mời quí thầy và quí ni sư trong vùng này đến đây cho con được từ biệt.
Trong lúc nói lên những lời này, ni sư Ưu Ba Tiên Na thật bình tĩnh, không hề hoảng hốt, đau buồn như thể không có việc gì xảy ra. Xá Lợi Phất nghĩ là tình trạng không đến nỗi nào, cho nên nói:
- Tình trạng không đến nỗi nghiêm trọng đến thế đâu, ni sư ạ! Người bị rắn độc cắn thì sắc diện biến đổi ngay. Tôi thấy sắc diện của ni sư vẫn không có chút gì thay đổi.
- Bạch thầy! Thân thể con người là do “tứ đại” và “ngũ uẩn” tập hợp cùng các nhân duyên khác mà thành, nó không có chủ thể, vốn là vô thường, là không; đó là đạo lí mà con đã thể ngộ được. Vậy thì con rắn làm sao có thể cắn cái “không" được?
Xá Lợi Phất bấy giờ biết rõ ni sư Ưu Ba Tiên Na đã thật sự đạt đạo. Tôn giả tán thán:
- Ni sư nói rất đúng; và như thế là ni sư đã thoát khỏi được sự đau đớn của thể xác, đã dùng huệ mạng của mình để duy trì sắc diện không biến đổi.
Nói xong, tôn giả tức tốc đi thông báo cho quí vị tì kheo và tì kheo ni đang tu tập quanh vùng. Họ liền tụ họp về hang núi, cùng dìu ni sư Ưu Ba Tiên Na ra khỏi hang. Lúc bấy giờ, nọc độc của rắn đã chạy khắp châu thân, tì kheo ni Ưu Ba Tiên Na, thần sắc vẫn an nhiên như không hề có việc gì xảy ra, liền nhập niết bàn. Đứng trước con người giải thoát đó, đại chúng đều hoan hỉ tán thán. Tôn giả Xá Lợi Phất nói với mọi người:
- Người tu hành điều phục được tâm ý thì xem cái chết của thể xác như đổ bỏ chén nước độc, như bịnh nặng được lành. Sắp chết mà tâm ý vẫn bất động, thần sắc vẫn an nhiên là vì người đã dùng con mắt trí tuệ để nhìn các tướng trạng của thế gian, đã vượt ra khỏi ngôi nhà lửa. Thật là tuyệt đẹp!
Lời tán thán của tôn giả Xá Lợi Phất dành cho tì kheo ni Ưu Ba Tiên cũng tức là cái nhìn của Phật Giáo đối với sự chết. Những vị tu hành đạt đạo trong Phật Giáo đều có cái nhìn đối với cái chết hoàn toàn giống nhau như vậy.
(Có sách nói, Ưu Ba Tiên Na là một vị tì kheo, em của tôn giả Xá Lợi Phất. - Chú thích của người dịch).
10.- LÒNG KHOAN THỨ:
Ngày tháng trôi qua, tuổi ngày một cao, năm đó tôn giả Xá Lợi Phất đã gần tám mươi. Tuy vậy, vì tâm nguyện hoằng pháp độ sinh vẫn mạnh mẽ, tôn giả đã không ngần ngại tuổi già sức yếu, không quản gian nan khó nhọc, cho nên, sau khi khóa an cư mùa mưa vừa chấm dứt tại tu viện Kì Viên, tôn giả liền xin phép đức Phật đi du phương hóa đạo. Phật hứa khả, đồng thời khen ngợi trước đại chúng cái tinh thần vì đạo và vì người của tôn giả.
Tôn giả rời tu viện không bao lâu thì bỗng một vị tì kheo đến trước đức Phật thưa rằng:
- Bạch Thế Tôn! Đại đức Xá Lợi Phất lần này đi vân du không phải với tâm niệm chân chính, không phải vì hoàng dương Phật pháp, mà chính vì đại đức đã khinh khi làm nhục con, rồi sinh ra hổ thẹn, không muốn nhìn thấy mặt con nữa, cho nên kiếm cách ra đi mà thôi.
Việc nói xấu người khác ở sau lưng như vậy đã làm cho đức Phật không hài lòng. Ngài bèn cho người tức tốc theo mời tôn giả Xá Lợi Phất quay về tu viện. Tôn giả vào thẳng giảng đường hầu Phật. Bấy giờ, trước mặt đông đủ đại chúng, Ngài hỏi tôn giả:
- Thầy Xá Lợi Phất! Sau khi thầy rời tu viện không lâu, có một thầy lên đây nói với Như Lai rằng, chính thầy đã khinh khi làm nhục thầy ấy, việc đó có thật không?
Tôn giả cung kính thưa:
- Bạch Thế Tôn! Từ khi con xuất gia theo Thế Tôn tu học, đến nay đã gần tám mươi tuổi. Con nhớ rất rõ, trong suốt khỏng thời gian này, con chưa từng sát hại một sinh mạng; chưa từng nói một lời hư vọng; ngoài việc tuyên dương chân lí ra, con chưa hề nói đến các chuyện lợi, hại, được, mất, hoặc bàn luận về sở trường hay sở đoản của bất cứ một người nào. Trong ba tháng an cư vừa qua, ngày ngày con đều sám hối, không hề để mất chánh niệm. Tâm con trong vắt như ngọc bích, không có một mảy may bất bình, thì có lí nào con lại dám khinh khi làm nhục người khác! BạchThế Tôn! Bùn đất quả thật là có đức nhẫn nhục. Bất luận là đồ vật dơ dáy dến thế nào nó cũng không cự tuyệt; nó nhận tất cả những thứ như phân, nước tiểu, máu, mủ, đờm, dãi v.v... như nhận thức ăn ngon ngọt. tấm lòng của đối với mọi người mà con xin bộc bạch trước Thế Tôn hôm nay, cũng giống như bùn đất vậy. 

Bạch Thế Tôn! Dòng nước trong kia, bất kể là đồ vật tốt xâu, nó đều rửa sạch; tấm lòng của con đối với mọi người không hề có niệm yêu ghét, giống như dòng nước kia vậy. Bạch Thế Tôn! Cây chổi dùng để quét sạch rác bụi. Trong lúc quét, nó không lựa chọn rác tốt rác xấu. Tấm lòng của con đối với mọi người cũng như cây chổi vậy, không hề có niệm phân biệt. Bạch Thế Tôn! Tâm con thường xuyên an trú trong chánh niệm, quyết không thể khinh suất đến nổi làm nhục thầy ấy. Trong khi con thưa những lời này với Thế Tôn thì con đã tự biết tâm của con thế nào; và chắc hẳn vị tì kheo kia cũng đã tự biết tâm của mình. Nếu quả thật là con có lỗi thì con sẽ xin sám hối trước thầy ấy để cho tâm con không bị ray rứt.
Bằng thái độ khiêm cung nhưng cương nghị, tôn giả Xá Lợi Phất đã bày tỏ tấm lòng chân thành của mình trước đức Phật, khiến cho toàn thể đại chúng, không ai là không cảm động. Đức Phật bèn bảo vị tì kheo đã hủy báng Xá Lợi Phất:
- Thầy đã hủy báng một vị trưởng lão thì không thể không sám hối. Thầy đã có ý làm cho tăng đoàn khởi lên cuộc tranh luận, và như thế tức là thầy không có tinh thần xây dựng sự hòa hợp cho tăng đoàn. Nếu thầy không chân thành hối lỗi thì rồi đây sẽ phải chịu quả báo đau khổ không cùng.
Vị tì kheo kia nghe lời Phật dạy, vội vàng đến quì trước Phật, khẩn cầu:
- Bạch Thế Tôn! Đại đức Xá Lợi Phất quả thật là bậc cao thưọng. Đối với một vị có trí tuệ và hùng lực như vậy mà con đã không biết hộ trì và học tập, lại còn đem lòng tật đố, xin Thế Tôn thương xót, cho con được cơ hội sám hối tội lỗi! 
Một cách từ hòa, đức Phật bảo:
- Thầy hãy đến xin sám hối với thầy Xá Lợi Phất!
Vị tì kheo kia liền đến quì trước Xá Lợi Phất. Tôn giả lấy tay rờ đầu vị tì kheo và dịu dàng bảo:
- Trong giáo pháp của đức Thế Tôn, sự sám hối thật vô cùng hữu ích. Làm người ai cũng có thể lầm lỗi, nhưng có lỗi mà biết sửa đổi thì đó là việc lành rất lớn. Hôm nay tôi chấp nhận sự sám hối của thầy, từ nay thầy đừng bao giờ phạm lỗi nữa!
Thái độ và ngôn từ của Xá Lợi Phất đã làm cho đại chúng hoàn toàn an lạc.
11.- NHẬP KIM CƯƠNG ĐỊNH:
Lúc ấy đức Phật ngự tại tu viện Trúc Lâm ở ngoại ô kinh thành Vương Xá. Một hôm tôn giả Xá Lợi Phất đang nhập định kim cương trong núi Kì Xà Quật (Grdhrakuta - Gijjhakuta) thì có hai con quỉ đến gần. Nguyên đó là hai con quỉ đang trấn thủ ở núi này, một con thì hiền lành tên là Ưu Ba Ca La và một con thì hung ác tên là Già La. Khi thấy Xá Lợi Phất đang ngồi nhập định, con quỉ dữ bảo con quỉ hiền rằng:
- Này Ưu Ba Ca La, ta muốn đánh nát đầu ông sa môn kia quá!
Quỉ hiền cản ngăn:
- Đừng nói bậy! Vị sa môn kia là đệ tử của đức Phật. Ông ta là người thông minh trí tuệ số một mà uy đức thần lực cũng cao thâm. Nếu ngươi có ý đồ xấu xa đối với ông thì trong tương lai sẽ vĩnh viễn trầm luân, chịu khổ báo vô lượng.
- Ngươi sợ sa môn lắm vậy sao! Chính sa môn là bọn dễ ăn hiếp nhất trên đời này. Để ngươi xem, chỉ một quyền này của ta là cái đầu ông ấy sẽ nát vụn như cám!
- Đúng như ngươi nói, ta rất sợ quí vị sa môn! Tuy họ là những người có thể ăn hiếp được, nhưng đó là vì họ tu hạnh nhẫn nhục. Mặc dù vậy, đức lực của họ uy mãnh vô cùng, nếu ngươi đánh họ, họ chỉ có thể bị đau đớn trong chốc lát, nhưng còn ngươi thì sẽ vĩnh viễn khổ đau ...
Nhưng dù con quỉ hiền nói gì thì con quỉ dữ vẫn không thèm nghe theo. Nó liền vung tay, nhắm ngay đỉnh đầu tôn giả đánh xuống! Con quỉ hiền không dám nhìn, bèn ẩn thân đi mất. Nói thì chậm chứ cú đánh của con quỉ dữ lúc đó lẹ lắm. Tôn giả bỗng cảm thấy như có chiếc lá rụng trên đầu, bèn xả định, mở mắt ra thì thấy một con ác quỉ mình mẩy máu me dầm dề, và liền đó, nó đọa ngay vào địa ngục.
Tôn giả đứng dậy, y áo chỉnh tề, trở về tu viện Trúc Lâm bái kiến đức Phật. Thấy tôn giả, đức Phật hỏi:
- Thầy Xá Lợi Phất! Thân thể thầy có được an khang không?
- Bạch Thế Tôn! Con vẫn không có bịnh hoạn gì cả, mà chỉ cảm thấy hơi đau trên đầu mà thôi.
- Thầy Xá Lợi Phất! Hôm nay vì thầy nhập kim cương định nên quỉ Già La đã không thể đả thương thầy được; nếu không thì, thầy biết không, một cái đánh của nó có thể chẻ hai núi Tu Di! Thế mới biết, thần lực của kim cương định lớn lao là như vậy, tất cả quí thầy nên tinh tấn tu trì.
12.- XIN PHẬT CHO PHÉP NHẬP NIẾT BÀN TRƯỚC:
Lúc bấy giờ Phật đang ngự trong một khu rừng thuộc làng Trúc Phương, ở ngoại ô thành Tì Xá Li (Vaisali- Vesali). Hôm đóm sau thời pháp thoại, đức Phật đã thông báo cho toàn thể đại chúng biết rằng, trong ba tháng nữa Ngài sẽ nhập niết bàn. Lời thông báo đó của Ngài đã làm cho mọi người kinh hoàng, sửng sốt, và đau buồn cực độ. Riêng Xá Lợi Phất thì xót xa đến nỗi không muốn nhìn thấy đức Phật nhập niết bàn. Trong lúc thiền định, tôn giả quán niệm: “Trong quá khứ, các vị đệ tử thượng thủ của chư Phật đều nhập niết bàn trước chư Phật. Ngày nay mình cũng là đệ tử thượng thủ của Phật, vậy mình cũng nên nhập niết bàn trước Phật".
Nghĩ thế, tôn giả bèn xuất định, đến quì trước đức Phật, thưa:
- Bạch Thế Tôn! Giờ đây con muốn nhập niết bàn, xin Thế Tôn hứa khả cho.
Đức Phật chăm chú nhìn Xá Lợi Phất, hồi lâu mới hỏi:
- Vì sao thầy muốn nhập niết bàn sớm vậy?
- Bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã bảo, không còn bao lâu nữa Thế Tôn sẽ nhập niết bàn. Thế Tôn đã ban cho quá nhiều ân đức lớn lao, làm sao con cầm lòng được khi nhìn thấy Thế Tôn nhập niết bàn! Vả lại, Thế Tôn đã từng dạy, trong quá khứ, các vị đệ tử thượng thủ của chư Phật đều nhập niết bàn trước chư Phật, thì con nghĩ, nay cũng vậy, đây chính là lúc con nên nhập niết bàn. Xin Thế Tôn từ bi hứa khả.
- Thầy muốn nhập niết bàn tại đâu?
- Bạch Thế Tôn! Làng Ca La Tí Noa Ca là quê hương của con, nơi đó, thân mẫu con nay đã trên một trăm tuổi và vẫn còn khỏe mạnh. Con muốn về đó để thăm thân mẫu con lần cuối, sau đó con sẽ nhập niết bàn ngay trong căn phòng mà trước kia thân mẫu đã từng sinh dưỡng con.
- Thầy đã muốn thế thì Như Lai cũng không thể ngăn cản được. Có điều, thầy là đệ tử thượng thủ của Như Lai, vậy trước khi lên đường, thầy cũng nên có vài lời giáo huấn để lại cho đại chúng.
- Bạch Thế Tôn! Từ vô lượng kiếp con đã mong cầu được sinh nhằm vào thời đại có Phật trụ thế, và cuối cùng, kiếp này con đã được mãn nguyện. Niềm vui mừng được gặp Phật của con thật trên đời không gì có thể so sánh được! Trong hơn bốn mươi năm qua, nhờ ơn Thế Tôn từ bi dạy bảo mà một người ngu si như con đã mở được con mắt trí tuệ, thấy rõ được chân lí. Niềm hoan hỉ và lòng cảm kích của con đối với Thế Tôn thật không thể dùng ngôn từ của thế gian để diễn ta hết được. Giờ đây, không còn bao lâu nữa con sẽ từ giã cõi đời. Nhờ hưởng thọ nước pháp cam lộ của Thế Tôn mà con giải thoát được tất cả những ràng buộc của thế gian, không còn khổ não, và nhập vào cảnh giới niết bàn tự tại. Bạch Thế Tôn! Đó là mấy lời từ biệt của con, xin Thế Tôn cho con được đảnh lễ!
Tôn giả đảnh lễ đức Phật. Không khí trong giảng đường lúc bấy giờ thật nghiêm trang, trầm mặc ... Đức Phật bảo Xá Lợi Phất:
- Thầy Xá Lợi Phất! Tất cả những gì Như Lai đã giảng nói, thầy đều đã lĩnh hội. Bây giờ Như Lai thọ kí cho thầy: Trong đời vị lai, thầy sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, giáng thế giáo hóa chúng sinh để hoàn thành đạo quả vô thượng.
Đức Phật nói xong liền bảo đại chúng tiễn tôn giả Xá Lợi Phất lên đường. Chư tăng đều cầm hương hoa tiễn đưa tôn giả. Họ đi thành hàng, thật yên lặng, thật trang nghiêm, nhưng cũng thật buồn! Hầu như không ai cầm được nước mắt ...
13.- NHỮNG LỜI SAU CÙNG VỚI ĐẠI CHÚNG:
Đại chúng yên lặng đi theo tôn giả Xá Lợi Phất được một khoảng đường thì tôn giả dừng bước. Đại chúng cũng dừng bước theo. Tôn giả xoay mặt lại đối trước đại chúng, cung kính nói:
- Tôi xin cảm tạ tất cả đại chúng. Quí vị tiễn tôi đến đây như vậy là đủ rồi. Bây giờ xin phép quí vị cho một mình chú Quản Đầu theo tôi, còn tất cả quí vị xin trở lại tu viện để tiếp tục tu học. Thưa đại chúng! Việc tu học là thiết yếu hơn hết, tôi hi vọng quí vị luôn luôn nổ lực, tinh tấn để chóng thoát khỏi những ràng buộc của ưu bi khổ não và nhập vào thế giới của tự tại, giải thoát. Đức Thế Tôn xuất hiện ở thế gian cũng giống như bông ưu bát la nở hoa, hàng mấy ngàn năm mới có một lần. Được sinh làm người đã là việc khó, mà được có lòng tin chân chính, chắc thật, tinh khiết, thuần thành nơi Tam Bảo lại càng khó hơn. Nay chúng ta đã được sống đời xuất gia phạm hạnh, được đức Thế Tôn tự thân dạy dỗ, đó là việc hiếm có trong cả trăm ngàn muôn ức kiếp. Tất cả mọi sự đều là vô thường. Xin quí vị một lòng tu tập tinh cần mãi mãi để vượt thoát khổ đau và đạt được niết bàn tịch tịnh. Đó mới là nơi an trú vĩnh viễn của chúng ta. Tôi cũng rất trông mong quí vị, hãy vì đức Thế Tôn mà tuyên dương rộng rãi giáo pháp của Người. Tất cả hãy vì phúc lợi của nhân sinh chứ đừng vì danh lợi của riêng cá nhân mình. Xin bái biệt!
Nghe mấy lời của tôn giả, đại chúng vô cùng xúc động. Họ đều biết rằng, lần ra đi này của tôn giả sẽ là lần ra đi vĩnh viễn. Tôn giả sẽ không bao giờ trở lại nữa, Cho nên những lời của tôn giả hôm nay cũng chính là những lời nhắn nhủ sau cùng của tôn giả để lại cho họ. Không ai là không cung kính, không ai là không ngậm ngùi thương tiếc! Bởi vậy, dù tôn giả đã nhắc lại lời cáo biệt và xin đại chúng quay gót, nhưng ai cũng quyến luyến, cứ yên lặng đứng tại chỗ, không nỡ rời tôn giả. Không biết làm sao hơn, tôn giả đành quay lưng bước đi ... Và đại chúng vẫn đứng yên lặng nhìn theo ... Họ nghĩ đến sự việc “từ nay sẽ không ai còn được nhìn thấy bậc trí tuệ đệ nhất ấy nữa!”, bất giác mọi người đều rơi lệ! Dù đại chúng đều là những vị đã giác ngộ, nhưng tình người, tình đạo và tình bạn vẫn luôn luôn là những thứ tình cảm chân thật trong lòng mọi người.
14.- CỐ HƯƠNG:
Sau khi bái biệt đức Phật và tăng đoàn, trên đường về cố hương, trong lòng tôn giả Xá Lợi Phất đã khởi sinh nhiều suy nghĩ; nhưng không vì vậy mà bị loạn động, trái lại, tâm ý tôn giả bấy giờ như trở nên sáng rỡ hơn bao giờ hết. Tôn giả thấy mình như đang đứng trên đỉnh ngọn Tuyết Sơn, và toàn thể vũ trụ lúc ấy đều nổi hiện rõ rệt trong tâm trí; bất giác tôn giả cảm khái vô hạn ...
Khi về gần đến làng cũ thì mặt trời cũng vừa lặn, chỉ còn một vệt ráng đỏ ở chân trời, tôn giả bèn ngồi xuống một bên đường để nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, người cháu của tôn giả là Ưu Bà Li Bà Đa chạy tới đảnh lễ, nhân đó tôn giả hỏi:
- Bà nội có ở nhà không cháu?
- Thưa tôn giả, bà nội cháu có ở nhà.
- Cháu hãy về thưa với bà là bác vừa trở về!
- Dạ! 
- Cháu thưa với bà hãy cho người quét dọn sạch sẽ căn phòng khi xưa bà đã sinh ra bác. Bác ngồi nghỉ ở đây một lúc rồi sẽ về.
- Dạ!
Người cháu đâu có biết tôn giả về nhà để làm gì, cho nên chỉ một mực vâng dạ và chạy mau về nhà để thưa lại cho bà nội biết.
Đã lâu lắm rồi Xá Lợi Phất chưa từng về thăm nhà, nay đột nhiên được tin con về thì cụ bà vui mừng không kể xiết. Tuy bây giờ Xá Lợi Phất đã 80, nhưng đối với cụ bà thì tôn giả vẫn là đứa con thơ của mình như tự thuở nào ... Quét dọn sạch sẽ căn phòng ngày xưa đã sinh ra Xá Lợi Phất ư? Thật lạ lùng! Nhưng niềm vui sắp được gặp con ngay trong chốc lát nữa đây đã choáng hết tâm hồn cụ, đâu cần phải thắc mắc điều gì!
Căn phòng vừa được quét dọn sạch sẽ xong thì tôn giả cũng vừa về tới. Cụ bà cùng cả nhà đều vui mừng đến chảy nước mắt. Cụ nói:
- Cuối cùng rồi đại đức cũng đã về!
Tôn giả cũng tỏ nỗi vui mừng được gặp lại mẹ và mọi người trong nhà. Nhưng liền đó thì tôn giả thưa ngay với cụ bà về ý định của mình để cho bà cụ và mọi người trong nhà rõ. Cụ bà nghe thế thì kinh hoàng tột độ! Tôn giả vội trấn tỉnh:
- Xin mẹ hãy bình tĩnh. Sự nhập niết bàn của con là điều nên hoan hỉ, vì nó khác với cái chết của người thường. Lúc này tâm con hoàn toàn yên ổn và sáng suốt. Đời này con đã may mắn được gặp Phật và được hóa độ, được cứu ra khỏi cái biển mê sinh tử, được giải thoát khỏi những khổ đau của phiền não, hoàn toàn không còn một sự sợ hãi nào. Hôm nay con về đây là để nhập niết bàn. Xin mẹ hãy hoan hỉ lên, trong đời ai lại không có lúc chết, nhưng nếu chết không mê muội để thường trú trong cảnh giới niết bàn tịch tịnh như con hôm nay thì đó là hạnh phúc lớn lao.
Cụ bà tuy rất buồn nhưng cũng hiểu được những điều tôn giả vừa nói. Cụ thấy rõ được sự đẹp đẽ cùng sự tự do giải thoát của con mình trong lúc chuẩn bị lìa đời, bất giác trong tâm cụ cũng khởi lên niềm hoan hỉ vô biên. Cụ ước mong sao đến lúc cụ lâm chung cũng được như vậy ...
Bấy giờ tôn giả tụng lại những bài pháp ngữ của đức Phật cho cụ bà và mọi người nghe. Cụ bà rất hiểu tâm ý của tôn giả, liền nói:
- Đại đức nói rất đúng, vượt thoát sinh tử, tâm không mê muội đi vào cảnh giới niết bàn là hạnh phúc vô thượng. Mẹ rất hoan hỉ. Thôi đại đức hãy đi nghỉ một chốc.
Cụ bà tuy nói thế nhưng mắt vẫn rơi lệ, liền trở về phòng riêng ...
15.- NIẾT BÀN:
Sau khi cụ bà và mọi người đã ra ngoài hết, tôn giả bảo chú thị giả Quản Đầu:
- Con hãy sang phòng bên cạnh nghỉ đi, một mình thầy ở đây được rồi.
Đến nửa đêm hôm ấy thì tin tức “tôn giả Xá Lợi Phất về quê để nhập niết bàn" đã được truyền đi khắp làng. Phần đông dân làng đều đã qui y Tam Bảo, nghe thế đều lập tức kéo nhau đến tụ tập trước nhà tôn giả; thậm chí, vua A Xà Thế lúc đó đang có mặt trong kinh thành Vương Xá, nghe tin cũng tức tốc dẫn triều thần cùng đến. Tất cả mọi người đều mong được chiêm ngưỡng tôn giả lần chót cũng như được nghe những lời giảng dạy sau cùng của tôn giả. Chú thị giả Quản Đầu thấy thế, sợ mọi người làm kinh động đến tôn giả, liền ra sắp xếp chỗ ngồi cho họ, xin họ ngồi yên lặng để chờ tôn giả tiếp kiến.
Đêm đã khuya lắm rồi, mọi người vẫn ngồi im lặng chờ đợi! Người ta trông thấy một cây đền dầu trong căn tịnh thất của tôn giả, ngoài ra thì hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động nào ...
Cho đến khi trời rạng sáng, tôn giả gọi Quản Đầu, hỏi:
- Có ai đến ở ngoài phải không?
Dạ phải! Dân làng nghe nói thầy về đây để nhập niết bàn nên đến cầu kiến rất đông; cả đức vua cũng đến nữa.
- Vậy à! Con ra mời quí vị ấy vào cả trong này.
Quản Đầu liền ra ngoài mời vua A Xà Thế và mọi người vào nhà. Những người từ trước chỉ nghe tên mà chưa từng thấy mặt tôn giả, bây giờ được dịp này, họ mừng rỡ vô cùng. Tuy vậy, họ vận không vội vàng hấp tấp, tuần tự đi vào nhà trong im lặng, không hề gây tiếng động. Khi căn phòng đã đầy người, những người không vào được thì đứng lại ở ngoài cửa trong im lặng. Khi đại chúng đã yên vị, tôn giả lên tiếng:
- Quí vị đã đến thật đúng lúc. Tôi cũng đang muốn gặp quí vị để thăm nhau lần cuối cùng. Hơn bốn mươi năm qua tôi măy mắn được xuất gia theo Phật, hoặc những khi tu học ở bên cạnh Người, hoặc những lúc vâng mệnh đi các nơi hành hóa, chưa bao giò tôi khởi lên một niệm không vui đối với vị ân sư ấy; trái lại, niềm cảm kích của tôi đối với Người cứ càng ngày càng dâng cao. Đối với giáo pháp sâu rộng như biển cả của Người vẫn còn nhiều điều tôi chưa lãnh hội trọn vẹn được; hôm nay nghĩ đến mà tôi thấy hổ thẹn trong lòng. Điều tôi muốn nói với quí vị hôm nay, là xin quí vị ghi nhớ rằng, chúng ta sinh ta đời được gặp Phật trụ thế là việc khó khăn vô cùng, muôn ngàn kiếp không dễ gì có được. Cho nên quí vị phải vâng theo lời dạy của Người mà tinh tấn tu học. Của báu trong biển Phật pháp tuy rất nhiều, nhưng nếu quí vị không hết lòng tìm cầu thì không thể nào có được. Tôi không còn gì để nắm giữ nữa. Hôm nay tôi muốn nhập vào cảnh giới niết bàn tịch tịnh, vĩnh viễn thường trú trong cái vũ trụ bất sinh bất diệt. Xin cáo biệt quí vị!
Tôn giả nói xong, nằm nghiêng bên trái, an trú trong đại định, rồi nhập niết bàn! Mới trước đó nghe tôn giả nói, nhìn sắc diện an tịnh của tôn giả, có ai biết đó là người sắp lìa trần! Bởi vậy vua A Xà Thế và đại chúng đều cung kính, bội phục và thương cảm vô cùng ... 
16.- TINH THẦN VĨNH VIỄN TẠI NHÂN GIAN:
Sau khi tôn giả Xá Lợi Phất nhập diệt được bảy ngày, Quản Đầu bèn đưa nhục thân của tôn giả lên hỏa đàn để làm lễ trà tì; rồi lại thỉnh xá lợi của tôn giả đem về chỗ Phật đang ngự. (Bấy giờ là cuối mùa an cư thứ 45, Phật đang ngự tại vùng ngoại ô thành phố Tì Xá Li, và đó là mùa an cư cuối cùng trong đời đức Phật - Chú thích của người dịch). Trước hết Quản Đầu đi tìm tôn giả A Nan và thuật lại sơ qua sự việc. Mặt đầm đìa nước mắt, tôn giả A Nan dẫn Quản Đầu đến hầu Phật để trình lên một cách cặn kẻ về sự viên tịch của tôn giả Xá Lợi Phất. Đức Phật im lặng lắng nghe. Quản Đầu trình xong, vì quá bi thương, tôn giả A Nan lại khóc thành tiếng. Đức Phật phải trấn tỉnh:
- Thầy A Nan! Thầy không nên bi thương quá như vậy! Thầy Xá Lợi Phất viên tịch không phải là điều cao quí sao!
A Nan cung kính thưa:
- Bạch Thế Tôn! Su huynh Xá Lợi Phất của chúng con là người có trí tuệ cao tột, chuyên trì giới luật, oai nghi nghiêm mật, có biện tài thuyết pháp, suốt đời nhiệt tình với sự nghiệp hoằng hóa độ sinh, điều đó không phải chỉ có chúng con biết, mà tất cả nhân gian đều xưng tán. Nay đột nhiên sư huynh chúng con không còn tại thế nữa, vì nghĩ đền tiền đồ của chánh pháp, của giáo đoàn ngàn năm về sau, cho nên con rất đau buồn. Không những chỉ một mình con đau buồn mà tất cả mọi người, ai cũng không cầm lòng được!
Đức Phật lại an ủi:
- Thầy Xá Lợi Phất tuy không còn tại thế nữa nhưng giáo pháp vẫn còn đó. Vô thường vốn là thật tướng của thế gian, cũng như sự sinh diệt vốn là đạo lí tự nhiên của vũ trụ. Không còn bao lâu nữa chính Như Lai cũng sẽ nhập niết bàn! Quí thầy lúc đó cũng đừng nên thất vọng, vì giáo pháp của Như Lai vẫn còn nguyên vẹn chứ không mất theo Như Lai. Dù hàng ngàn, hàng vạn năm về sau, nếu bất cứ ai giữ được lòng tin chắc thật nơi Như Lai thì Như Lai vẫn luôn luôn có mặt trong tâm trí họ và hộ trì họ. Quí thầy nên nương dựa vào chánh pháp mà không nên nương dựa vào ai khác.
Dạy xong mấy lời, đức Phật tiếp lấy xá lợi tôn giả Xá Lợi Phất do Quản Đầu dâng lên, đưa ra trước đại chúng, Ngài dạy tiếp:
- Quí vị tì kheo! Linh cốt này đây, mới mấy ngày trước thì chính là vị Đại Trí Xá Lợi Phất. có trí tuệ rộng lớn vô biên, trừ Như Lai ra thì không ai có thể sánh bằng. Thầy ấy đã chứng ngộ được pháp tánh, sống đời thiểu dục, tri túc, thường tu tập thiền định, luôn luôn dũng mãnh, tinh tấn, nhiệt tình vì giáo pháp và vì nhân sinh, công năng hàng phục ngoại đạo và tuyên dương chánh pháp thật cao dầy. Thầy Xá Lợi Phất đã hoàn toàn dứt trừ mọi khổ não, chứng được đạo quả giải thoát. Này quí thầy! Hãy chiêm ngưỡng đi! Đây là xá lợi vị trưởng tử của Như Lai!
Đức Phật nói lời ấy xong thì tất cả đại chúng không ai bảo ai đều cúi đầu thành kính đảnh lễ trước xá lợi của tôn giả Xá Lợi Phất.
Tôn giả Xá Lợi Phất tuy đã viên tịch, nhưng tinh thần của ngài vẫn vĩnh viễn tồn tại ở thế gian ... 
 http://thuvienhoasen.org/a10414/01-ton-gia-xa-loi-phat
Xem Thêm: 
Thập Đại Đệ Tử, HT. Thích Tinh Vân - Việt dịch: Như Đức
<><<<><
XÁ LỢI PHẤT
TRÍ TUỆ ĐỆ NHẤT
1- TRƯỚC VÀ SAU ĐẢN SANH
Tại nước Ma-kiệt-đà ở Nam Ấn Độ, cách thủ đô Vương Xá khoảng hai ba dặm, có một thôn trang tên Ca-la-tý-nỏa-ca, rừng đẹp trúc cao, núi xanh sông biếc, thật là một địa phương u tịnh, và đó cũng là quê hương của ngài Xá-lợi-phất.
Xá-lợi-phất sanh trong gia đình Bà-la-môn, thân phụ Đề-xá là luận sư nổi danh trong giáo đoàn Bà-la-môn. Thân mẫu khi mang thai Ngài, trí tuệ trội vượt hơn mọi phụ nữ tầm thường (Theo truyền thuyết đó là do ảnh hưởng của thai nhi).
Em trai thân mẫu là Câu-hy-la, cũng rất giỏi nghị luận, nhưng mỗi khi cùng với bà chị đàm đạo, đều bị cạn lời bí lối, chẳng dám cầm cự phải thoái lui. Ông xấu hổ rời nhà ra đi, biết rằng đứa bé trong bụng chị mình ngày sau sẽ là một người đại trí tuệ, nếu tự mình không tiến hơn, mai sau cậu chẳng bằng cháu, thiên hạ sẽ cười cho thối óc. Do đó, ông đi khắp nơi tìm thầy học hỏi, nghiên cứu miệt mài đến nỗi móng tay ra dài mà không dám nghỉ để cắt. Người đương thời đặt cho ông danh hiệu là Trường Trảo Phạm Chí (Sau này khi Xá-lợi-phất quy y Phật, ông cũng quy y theo làm Sa-môn).
Vào năm tám tuổi, Xá-lợi-phất đã có thể giải suốt mọi thư tịch. Thời ấy, trong nước Ma-kiệt-đà, có hai anh em trưởng giả, anh tên Cát-lợi, em tên A-già-la, mở tiệc đãi đằng vua quan, thái tử, các vị luận sư… ca vũ nhạc kịch, luận cổ bàn kim. Đại hội quy định, ai ngồi theo chỗ đó, chỉ có cậu bé Xá-lợi-phất trèo lên bảo tọa của luận sư cao tột, bên cạnh không người nào dám ngồi, mà chẳng hề sợ sệt. Ban đầu, mấy ông đại luận sư cho đó là một tên thiếu niên vô tri, không thèm đếm xỉa đến, sai các đệ tử nhỏ tuổi đến thù đáp, nhưng gặp Xá-lợi-phất lời lẽ khúc chiết, nghĩa lý thích hợp, làm kinh ngạc bốn phía. Lúc ấy các đại luận sư mới khâm phục, khen ngợi rối rít, quốc vương cũng đẹp dạ, đem luôn một thôn trang phong tặng Xá-lợi-phất.
Ấu thơ tám tuổi đã xuất đầu lộ diện trong trường hợp như thế, phụ thân tuy nổi danh học giả, cũng tự cảm nhận: Thông minh tài trí của mình không bằng cậu con yêu.
2- LÃO SƯ CHÂN CHÁNH
Đến tuổi trưởng thành, người trong nước đều biết đại danh Xá-lợi-phất. Dáng người cao lớn, dung mạo thanh tú, mắt sáng như sao, tay dài quá gối, Xá-lợi-phất thừa hưởng truyền thống học giả của phụ thân nên cũng rất có phong độ học giả. Giới học thuật đương thời không ai không biết đến chàng thanh niên hậu sanh khả úy này.
Đến năm hai mươi tuổi, Xá-lợi-phất từ giã quê hương phụ mẫu, lên đường tìm sư học đạo. Ban đầu, chàng đến bái yết vị Bà-la-môn nổi danh San-xà-dạ làm thầy, nhưng học chưa được bao lâu, chàng cảm thấy học vấn của thầy không đủ đáp ứng cho sức tìm hiểu của mình, bèn tính chuyện cáo từ. Bạn đồng học lúc bấy giờ, chỉ có Mục-kiền-liên là tâm giao, Xá-lợi-phất đem ý định của mình nói cho bạn nghe, và Mục-kiền-liên cũng cảm thấy như vậy. Cả hai bèn quyết định ly khai San-xà-dạ, thành lập riêng một học đoàn, chiêu tập đồ đệ. Hai chàng tuổi trẻ yên chí rằng trên đời này không có người trí thức nào sánh kịp mình, và cũng chẳng có ai đủ tư cách làm thầy mình.
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên tuổi tác tương đương, sức học và tư tưởng cũng gần gũi, cả hai đều có chí nguyện tìm cầu chân lý, nên tình cảm rất hòa hợp. Sức tự tu và dạy học, học giả trên toàn cõi Ấn Độ không có ai vừa mắt hai chàng.
Một ngày nọ, trên con đường đến thành Vương Xá, Xá-lợi-phất gặp một vị đệ tử Phật, Tỳ-kheo A Thị Thuyết. A Thị Thuyết là một trong năm vị Tỳ-kheo đầu tiên quy y Phật, Ngài đã trải qua nhiều năm khổ hạnh, đến khi nghe Phật nói pháp Tứ Đế, liền chứng Thánh quả. Ngài có thái độ trang nghiêm, đi đứng oai nghi, Xá-lợi-phất một phen thấy qua trong lòng sanh kinh ngạc, không thể ngăn nổi sự tò mò đến trước hỏi luôn:
- Xin lỗi, cho phép tôi hỏi thăm đạo giả, chẳng hay Ngài tên gì? Hiện ở đâu ?
- Đa tạ! Tôi tên A Thị Thuyết, ở Trúc Lâm tinh xá ngoài thành không xa.
- Thầy của Ngài là ai? Bình thường dạy Ngài đạo lý gì?
Xá-lợi-phất khi hỏi câu này thật là khẩu khí của một trưởng giả. A Thị Thuyết chậm rãi trả lời:
- Thầy tôi là bậc đại Thánh Thích-ca Mâu-ni xuất sanh từ dòng họ Thích. Ngài dạy về chơn lý của vũ trụ nhơn sanh, kẻ ít học như tôi không thể lãnh hội trọn vẹn, nhưng tôi còn nhớ, đạo lý của Ngài thường giảng là:
                        Các pháp do nhân duyên sanh
                        Các pháp do nhân duyên diệt.
Cũng dạy rằng: “Các hạnh vô thường, là pháp sanh diệt, sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui.” Đối với lời dạy của bậc Đạo sư, thật khó diễn tả được hết cảm kích của chúng tôi.
Xá-lợi-phất được nghe danh hiệu Phật-đà và giáo pháp của Ngài, dường như trời long đất lở, như sáng ngời mặt trời trước mắt, tất cả mối nghi ngờ về vũ trụ nhân sinh đều biến mất, chàng đứng bên đường đàm đạo với A Thị Thuyết như là bạn tri kỷ trăm năm, và sau cùng ước hẹn, sẽ đến bái phỏng đức Phật.
Xá-lợi-phất về đến nơi, Mục-kiền-liên thấy bộ dạng hân hoan của bạn, liền hỏi thăm:
- Xá-lợi-phất, có việc gì trông bạn có vẻ cao hứng đến thế?
- Mục-kiền-liên! Đây là dịp cao hứng đệ nhất trong đời tôi, thật hoan hỷ, tôi báo cho bạn biết, tôi đã tìm gặp vị Lão sư của chúng ta.
- Bạn nói gì thế, ai là người có thể làm thầy chúng ta?
- Phật-đà! Đó chính là đức Phật-đà!
Xá-lợi-phất liền đem những lời của A Thị Thuyết về đức Phật và giáo pháp, kể lại cho Mục-kiền-liên nghe, người kể, người nghe đều không ngăn được xúc động, bất giác rơi lệ.
Pháp nhân duyên, người bình thường nghe sẽ không lãnh hội được ra sao, nhưng đối với người tìm cầu chân lý như Xá-lợi-phất, thì phải ném hết những công phu tu hành từ nhiều năm nay. Có thể nói không lầm rằng người nhận thức được pháp nhân duyên mới có thể nhận thức được Phật pháp.
Ngày hôm sau, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đem hai trăm đồ chúng, đồng đến Trúc Lâm tinh xá, quy y dưới tòa đức Phật. Đức Phật cũng rất hoan hỷ, Ngài biết rằng chân lý mình chứng ngộ đến hôm nay mới gặp đúng người có thể tiếp thọ, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cũng cảm thấy mình đã gặp đúng bậc minh sư.
3- GIÁM ĐỐC CÔNG TRÌNH KỲ VIÊN
Sau khi Xá-lợi-phất quy y Phật, lực lượng Tăng đoàn bắt đầu tăng thêm. Đức Phật rất tin dùng Xá-lợi-phất. Người thứ nhất vâng lãnh sứ mạng sang phương Bắc hoằng pháp, và trông coi việc xây cất Kỳ Viên tinh xá, là Xá-lợi-phất.
Trúc Lâm tinh xá nằm ở Ma-kiệt-đà, Nam Ấn Độ, còn trong thời gian Phật thành đạo hai năm đầu, ở phương Bắc không có một căn cứ để thuyết pháp. Nhân duyên kỳ ngộ, Tu-đạt trưởng giả ở thành Vương Xá nước Kiều-tát-la (Kosala) phương Bắc, nhân đến phương Nam thăm người quen, được gặp thánh nhan của Phật, liền phát tâm quy y, và phát tâm kiến lập một tinh xá ở phương Bắc cúng dường Phật để khắp rưới nước cam lồ.
Trưởng giả Tu-đạt dùng vàng ròng trải khắp mặt đất mua vườn hoa của Thái tử Kỳ-đà làm nơi kiến tạo tinh xá. Ông thỉnh Phật cử cho một người thiết kế và trông coi công việc. Đức Phật biết chính Ngài không có nhân duyên đến phương Bắc, ở đấy toàn là ngoại đạo. Đến đấy không những chỉ hướng dẫn việc xây cất tinh xá, mà còn phải hàng phục chúng ngoại đạo. Vì thế, Xá-lợi-phất cùng Tu-đạt đến thành Xá-vệ trước.
Tinh xá vừa khởi công không bao lâu, quả không lầm, ma nạn khởi lên. Nhiều nhóm ngoại đạo ganh ghét sự phát triển của Phật giáo, đến yêu cầu Tu-đạt bỏ ý định xây dựng tinh xá cúng Phật, thậm chí bảo ông đừng tín ngưỡng Phật-đà.
Tu-đạt là người đã lãnh thọ pháp ân của Phật, dù bất cứ thế nào ông cũng không nghe theo lời của ngoại đạo, họ bèn nghĩ đến việc biện luận với đệ tử Phật, ngài Xá-lợi-phất. Họ chắc rằng đánh đổ Phật giáo, để làm cho Tu-đạt tỉnh ngộ. Tu-đạt nghe qua tin này rất kinh sợ, nghĩ thầm một mình ngài Xá-lợi-phất làm sao tranh biện nổi với từng ấy ngoại đạo?
Ông rầu rĩ báo cho Xá-lợi-phất biết ý định của bọn họ, trái lại Ngài rất hoan hỷ, đây chính là cơ hội tốt nhất để Ngài thay Phật tuyên dương giáo pháp.
Đã ước định về thời gian, địa điểm mở cuộc đại hội biện luận, ngoại đạo cử mười vị luận sư danh tiếng, bên nhà Phật chỉ có một ngài Xá-lợi-phất. So sánh về lực lượng, bên Phật giáo tuy ít, nhưng một mình ngài Xá-lợi-phất có thể hạ ngàn vạn ngoại đạo. Xá-lợi-phất là đệ tử vô tỷ trong hàng đệ tử Phật, lại xuất thân từ gia đình Bà-la-môn, ông nội, phụ thân đều là những luận sư danh tiếng trong Bà-la-môn giáo, đều là học giả bậc nhất của toàn cõi Ấn Độ. Học vấn của Xá-lợi-phất đã thừa hưởng truyền thống danh giá đó, Ngài tinh thông tất cả kinh điển ngoại đạo, và hiện tại là người đắc Thánh quả. Chọn Xá-lợi-phất để tranh luận với ngoại đạo, thiệt là không còn ai hơn.
Trong trường biện luận, khỏi phải nói Xá-lợi-phất thắng lợi hoàn toàn, có một số ngoại đạo tiếp thu chân lý, đều xin nhờ Xá-lợi-phất giới thiệu, trở lại quy y bậc đại thánh. Đức Phật chỉ ngồi ở phương Nam mà ánh sáng oai đức đã chiếu trùm đến phương Bắc.
Phen này Xá-lợi-phất hướng dẫn trên cả ngàn vạn người quy y Phật, Tu-đạt đến lúc này mới nở lỗ mũi, càng khâm phục Xá-lợi-phất, càng cảm kích oai đức của Thế Tôn.
Việc xây cất Kỳ Viên tiến rất mau, theo thiết kế của ngài Xá-lợi-phất, trù liệu có mười sáu giảng đường dành cho đại hội giảng kinh, lại có mười sáu tiểu đường, chia ra làm phòng ngủ, nhà khám bệnh, nhà tắm, nhà kho… Ngoài ra còn có sân vận động, ao tắm, suối nước giặt giũ…
Lúc tinh xá sắp hoàn thành, Xá-lợi-phất nói với Tu-đạt:
- Trưởng giả! Ông nhìn xem, trên trời xuất hiện những gì kia?
- Thưa Tôn giả! Con chẳng thấy có gì cả – Tu-đạt thất vọng trả lời.
- Chẳng có gì lạ, mắt thường không thể thấy được những biểu hiện, bây giờ ông nương sức thiên nhãn của tôi, xem lại một lần nữa.
- A! Tu-đạt vui mừng kêu lên: - Thưa Tôn giả con thấy có nhiều cung điện trang nghiêm rực rỡ.
- Đó là cung điện của sáu cõi trời Dục giới, vì ông cúng dường tinh xá cho Phật thuyết pháp, tinh xá tuy chưa hoàn thành, nhưng cung điện của ông trên sáu cõi trời đã sớm dành sẵn cho ông.
- Nhưng, trong sáu cõi trời ấy nhiều những cung điện đến thế, con phải ở cõi trời nào mới tốt?
- Cõi trời Đao Lợi thọ mạng rất lâu, biết tu hành, siêng năng trong Phật đạo, khó đọa lạc. Xá-lợi-phất giải thích cho Tu-đạt nghe.
- Vậy sau này con nhất định nguyện về cõi Đao Lợi.
Khi Tu-đạt nói xong, những cung điện kia dần dần ẩn mất, chỉ có cung điện của cõi trời Đao Lợi sáng rực đẹp đẽ hiện ở không trung. Tu-đạt thấy rồi rất mừng rỡ, trong cuộc bình sanh chưa bao giờ được như vậy.
4- KHÔNG THOÁI CHUYỂN TÂM ĐẠI THỪA
Nhân chuyện trưởng giả Tu-đạt cúng dường tinh xá cho Phật, nhờ thần lực thiên nhãn của ngài Xá-lợi-phất thấy được cung điện cõi trời. Về đôi mắt của tôn giả, trong thời quá khứ tu nhân sáu mươi kiếp về trước khi Ngài tu khổ hạnh, có một sự kiện liên quan đến đôi mắt ấy.
Xá-lợi-phất phát tâm tu đạo Bồ-tát hành hạnh bố thí của Đại thừa, Ngài không những nguyện đem nhà cửa, ruộng vườn, tài sản… những vật sở hữu nơi thân vui lòng bố thí, tối hậu cho đến thân thể, mạng sống, cũng không tiếc một mảy may, nguyện bố thí cho người.
Phát tâm nguyện chơn thiết như vậy, làm kinh động trời đất, bèn có một Thiên nhơn đến thử đạo tâm của Ngài.
Thiên nhơn biến thành một thanh niên khoảng hai mươi tuổi, ngồi chờ trên đường Xá-lợi-phất thường đi qua. Thanh niên vừa thấy Ngài đi đến bèn lớn tiếng khóc rống, Xá-lợi-phất thấy vậy bất nhẫn, đến trước mặt an ủi hỏi han:
- Úy da! Này cậu kia, vì sao ngồi đây khóc lóc trông thương tâm như vậy?
- Ông đừng hỏi lôi thôi, nói cho ông nghe cũng chẳng được gì.
- Tôi là Sa-môn học đạo, phát nguyện cứu giúp khổ nạn cho chúng sanh. Anh cần gì nếu tôi có sẵn, tôi sẽ giúp anh mãn nguyện.
- Ông chẳng thể giúp tôi được đâu, tôi khóc đây chẳng phải vì thiếu tài vật thế gian, mà vì mẹ tôi mang bệnh không thể trị được, thầy thuốc nói cần phải có con mắt của người tu để hòa thuốc, bệnh mẹ tôi mới lành. Con mắt của người đời đã khó kiếm, con mắt của người tu làm sao chịu cho tôi? Nghĩ đến mẹ già rên rỉ trên giường bệnh chờ thuốc, tôi bất chợt đau đớn mà phát khóc đó ạ!
Chuyện đó đâu khó gì, tôi vừa nói với anh, tôi là Sa-môn kia mà, tôi sẽ bố thí cho anh một con mắt để cứu bệnh nan y cho mẹ anh.
Thanh niên vui mừng nhảy lên.
- Ý! Ngài bố thí cho tôi một con mắt?
- Tất cả tài sản của tôi đều bố thí hết, chính lúc muốn tiến một bước trên hạnh Đại thừa tôi nguyện đem thân ra bố thí. Đang khổ sở vì chẳng gặp ai nhận, nay gặp lúc anh đang cần, tôi được mãn nguyện tâm đạo, tôi rất vui mừng cảm ơn anh, anh nên tìm cách lấy con mắt của tôi đi.
Sáu mươi tiểu kiếp trước trong tâm thầy tu Xá-lợi-phất nghĩ rằng: “Ta có hai con mắt, bố thí cho người một con, còn một con mắt cũng đủ thấy đường, đối với mình cũng chẳng trở ngại chi”.
Ngài bảo thanh niên tìm cách lấy con mắt đi, thanh niên không chịu, nói:
- Thiệt chẳng nên, làm sao tôi dám cưỡng đoạt con mắt của ông? Như lời ông phát nguyện thì ông tự móc mắt ra mà cho tôi.
Xá-lợi-phất nghe nói có lý, liền quyết tâm, dũng mãnh chịu đau, lấy tay móc ngay con mắt bên trái ra, đưa tận tay thanh niên và nói:
- Đa tạ anh đã giúp tôi thành tựu tâm nguyện, anh hãy cầm lấy!
Thanh niên cầm con mắt la lên:
- Hỏng bét! Ai biểu ông móc con mắt trái ra đây. Bệnh của mẹ tôi, phải dùng con mắt bên phải mới tốt.
Xá-lợi-phất nghe nói, thiệt là hỏng tuốt, Ngài tự trách mình không hỏi kỹ rồi hãy móc mắt, bây giờ làm sao? Cho con mắt bên trái, còn con mắt bên phải để xài, nếu cho luôn con mắt bên phải sẽ không thấy gì ráo. Thật đáng kính phục, Xá-lợi-phất không bao giờ trách người, Ngài nghĩ tiếp, phát tâm phát cho triệt để, cứu người cũng cứu triệt để, khó gặp được người nhận thí để thành tựu đạo hạnh của mình, nên móc con mắt bên phải cho người mới xong. Xá-lợi-phất nghĩ như vậy rồi bèn an ủi thanh niên:
- Anh đừng nóng ruột, vừa rồi tại tôi hấp tấp không kịp hỏi nên móc lộn con mắt, bây giờ tôi biết rằng, thân thể này là hư huyễn vô thường. Tôi còn con mắt bên phải, tôi xin móc luôn cho anh làm thuốc chữa bệnh cho mẹ anh.
Xá-lợi-phất nói xong, lại quyết tâm một phen nữa, mạnh dạn chịu đau móc luôn con mắt bên phải cho thanh niên nọ.
Thanh niên cầm con mắt Xá-lợi-phất không thèm nói một lời cám ơn, đưa con mắt lên ngửi một cái, quăng luôn xuống đất, mắng:
- Ông là thầy tu cái gì? Con mắt hôi rình khó ngửi, làm sao nấu thuốc cho mẹ tôi dùng!
Thanh niên mắng xong còn lấy chân chà lên con mắt của Xá-lợi-phất.
Tuy không thấy, nhưng lỗ tai còn thính, Ngài nghe lời thanh niên mắng mỏ, nghe tiếng chân thanh niên chà đạp con mắt của mình, Ngài thở dài, nghĩ thầm: “Chúng sanh khó độ, tâm Bồ-tát khó phát, ta chẳng dám vọng tưởng tiến tu Đại thừa, ta nên quay lại chú trọng việc tu hành tự lợi thôi!”
Trong tâm Ngài vừa khởi ý niệm ấy, tức thời trên không trung xuất hiện rất nhiều Thiên nhơn nói với Xá-lợi-phất:
- Tu đạo giả! Ngài đừng chán nản, người thanh niên lúc nãy là do Thiên nhơn chúng tôi đến thử thách Bồ-tát hạnh của Ngài, Ngài phải dũng mãnh tinh tấn lên, theo như tâm nguyện mình mà tu học.
Xá-lợi-phất nghe nói rất xấu hổ, tâm Bồ-tát lợi tha khởi phát trở lại, ngay lúc ấy thành tựu được đạo tâm bất thoái.
Từ sáu mươi tiểu kiếp đến nay, Xá-lợi-phất không ngừng học đạo, đời này được gặp Phật, chứng Thánh quả, do đó được Thiên nhãn thông.
5- THỌ THỨC ĂN BẤT TỊNH
Xá-lợi-phất là thủ tọa trong hàng đệ tử Phật, đại trí đại tuệ, thần lực siêu quần, Ngài đối với đức Phật thật là bách y bách thuận, đối với lời chỉ dạy của Phật chưa từng cãi lời.
Đức Phật đối với các đệ tử, tín nhiệm nhất là Xá-lợi-phất, sau ngày thành đạo, lần trở về cố hương Ca-tỳ-la thứ nhất, gặp La-hầu-la muốn xuất gia, đức Phật bảo ông bái Xá-lợi-phất làm thân giáo sư, theo Xá-lợi-phất thọ giới Sa-di.
Một hôm, Xá-lợi-phất dắt Sa-di La-hầu-la đi khất thực trở về, đức Phật thấy vẻ mặt của La-hầu-la không vui, biết trong tâm ông có chuyện bất bình, bèn gọi ông đến gần, hỏi ông trong lòng bất mãn việc gì.
Sa-di La-hầu-la cúi đầu tỏ ý không vui, giọng nói bất mãn:
- Phật-đà! Con là Sa-di, đáng lẽ không nên nói lỗi bậc Thượng tọa, nhưng nếu không nói thì không ai biết hoàn cảnh của Sa-di chúng con.
- Sự việc như thế nào? Ông giải thích ta nghe.
- Phật-đà! Các vị Thượng tọa và Trung tọa dẫn chúng con ra ngoài thành khất thực, tín chúng cúng dường các vị ấy toàn những món ngon thượng đẳng, còn hàng Sa-di sơ học chúng con, chỉ bố thí toàn cơm trộn xác mè, rau rừng lộn lạo. Thân thể con người đối với việc ăn uống đâu có phân biệt tuổi tác và giới hạnh, đều có nhu cầu giống nhau. Các vị trưởng lão ngoài sự thọ dụng của riêng mình, không có lòng từ bi đoái hoài đến chúng con, khiến tín chúng cúng dường sanh tâm phân biệt.
- Việc ấy đâu đáng gì để nói, chỉ có chút tiểu sự mà ông không thể nhẫn!
- Phật-đà! Xin Ngài từ bi đừng trách mắng chúng con, được ăn dầu mè và tô lạc mới có thể tăng trưởng khí lực, thân thể khỏe mạnh mới có thể an tâm tinh tấn tu hành, còn chúng con mỗi ngày ăn xác mè và rau rừng, dinh dưỡng không đủ, lâu ngày thân thể mỏi mệt, thường chẳng có thể chuyên tâm tu trì.
Đức Phật nghe La-hầu-la nói, cũng công nhận là đúng, tuy nhiên Ngài cũng răn dạy:
- La-hầu-la! Ông rời hoàng cung gia nhập Tăng đoàn là vì thọ sự hảo cúng dường phải không?
- Thưa không! Bạch Thế Tôn, con vào Tăng đoàn là vì để học đạo tu hành.
- Vậy thì ông mới nói chuyện gì đó? Như nếu nghĩ đến việc tu hành, thì khi thọ nhận của tín thí một hạt mè, một hạt cơm cũng thấy là đầy đủ. Ông đi mà lo tu hành, đừng quá quan tâm đến việc ăn uống.
Tuy dạy bảo La-hầu-la như thế, nhưng Ngài cũng biết tín chúng khi cúng dường có khởi tâm phân biệt, trong lòng không vui. Ngài kêu Xá-lợi-phất đến sau khi bảo La-hầu-la lui ra, hỏi:
- Xá-lợi-phất, hôm nay ông thọ đồ ăn bất tịnh, ông biết không?
Xá-lợi-phất nghe nói kinh hãi, lập tức cho những thức ăn hôm nay ói hết ra đất và bạch Phật:
- Thưa Thế Tôn! Từ lúc con quy y với Ngài, con vẫn y pháp khất thực của Phật mà xin ăn, con không hề trái phạm mà xin thức ăn bất tịnh.
Phật biết rõ tâm Xá-lợi-phất, giải thích:
- Việc khất thực của riêng ông, ta biết là hoàn toàn không trái phép, nhưng Tăng đoàn có lục hòa, không nên chỉ biết riêng mình. Về pháp chế nên bình đẳng, lợi ích cũng đều nhau, làm bậc trưởng lão nên thường thương tưởng để ý đến các Tỳ-kheo nhỏ tuổi và Sa-di, khi khất thực nên chú ý đến họ.
Đức Phật dạy xong, Xá-lợi-phất đối với lời dạy không có một chút bất bình, đều cảm kích lãnh thọ.
6- KHIẾN KẺ PHẢN BỘI KINH SỢ
Trong hàng đệ tử Phật, có một Tỳ-kheo tên Đề-bà-đạt-đa, ông ta vốn là đường đệ của Phật khi Ngài còn làm vương tử, sau khi theo Phật xuất gia được mười năm, bị ma quỷ làm mê mờ tâm trí, bèn phản lại đức Phật, tách rời khỏi Tăng đoàn.
Một hôm, sau khi đức Phật đi khất thực về, cùng các đệ tử nghỉ ngơi tại giảng đường, Đề-bà-đạt-đa ngang nhiên dẫn đầu nhóm bè đảng đến yêu cầu Phật nhường quyền lãnh đạo Tăng đoàn cho ông.
Phật chẳng hề trả lời, mặc cho Đề-bà-đạt-đa la lối om sòm, Phật vẫn im lặng nhường lời, Đề-bà-đạt-đa lại kêu gọi các Tỳ-kheo đi theo ông. A-nan là bào đệ của ông, lúc ấy mới nói:
- Xin anh đừng hồ đồ, anh là huynh trưởng của tôi, tôi nghĩ đến anh tạo tội nặng như thế, tương lai sẽ bị đọa mà cảm thấy ghê sợ. Đức Phật là bậc đại từ bi, con người như anh không thể sánh với Ngài. Nếu hôm nay có mặt Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên ở đây, chắc chắn không để cho anh tung hoành như vậy.
Sau đó, Đề-bà-đạt-đa dùng các phương pháp uy hiếp, dùng lợi lộc dụ dỗ các đệ tử Phật, có một số người lòng tin không vững, vì tham mê sự cúng dường nồng hậu của vua A-xà-thế đối với Đề-bà, đổi lòng đi theo ông.
Ngày nọ, đang khi các phản đồ cùng với số đệ tử của Đề-bà-đạt-đa nhóm họp một chỗ, Xá-lợi-phất uy nghiêm đi đến và hỏi:
- Này quý vị, tôi hỏi quý vị một câu, quý vị xuất gia tu đạo là vì thọ cúng dường? Hay vì tu đạo?
Đại chúng đồng đáp:
- Vì mục đích tu đạo, vì muốn thoát ly sanh tử.
- Nếu như vậy, các ông không tu theo chánh đạo của đức Phật, lại để cho lòng tin thuần khiết tôn quý của mình bị lay động vì chút vật chất cỏn con, các ông phải mau mau phản tỉnh giác ngộ mới được.
Khi Xá-lợi-phất nói lời ấy, từ thân mình phóng ra muôn đạo kim quang, trong đó hiển hiện từ dung của Phật, các Tỳ-kheo phản bội và môn đồ của Đề-bà thấy rồi đều quỳ xuống sám hối, Xá-lợi-phất lại dẫn họ trở về Tăng đoàn.
Đức Phật từ đó càng tin cậy Xá-lợi-phất, Ngài có công lớn trong sự hòa hợp Tăng đoàn. Đề-bà-đạt-đa không sợ Phật, mà rất sợ Xá-lợi-phất.
7- LÃNH THỌ ĐẠO CỨU KHỔ
Khi đức Phật ở Kỳ Viên tinh xá, thương cho chúng sanh trôi nổi trong biển khổ sanh tử không chỗ nương cậy, nghĩ đến mọi loài luân hồi trong sáu nẻo không có một nơi trở về an vui, hạnh phúc, Ngài muốn nói lên pháp môn cứu độ nhưng sợ hạng căn cơ thấp kém nhỏ hẹp không thể tin tưởng thọ trì. Sau cùng, chọn lựa cặn kẽ, Ngài quyết định: Dùng trí tuệ của Xá-lợi-phất chắc chắn sẽ thông hiểu được cõi Cực lạc trang nghiêm thanh tịnh, chắc chắn có thể lãnh thọ tín ngưỡng Phật A-di-đà. Trong chúng hội tuy có đủ ba hạng căn cơ thượng, trung, hạ nhưng đức Phật chọn Xá-lợi-phất làm đương cơ để nói lên một pháp môn dễ thực hành mà sáng tỏ. Đức Phật dạy: “Xá-lợi-phất! Ở phương Tây, cách thế giới của ta rất xa xôi, có một thế giới tên là thế giới Cực Lạc. Ở đó có vị giáo chủ là đức Phật A-di-đà đang thuyết pháp.
Xá-lợi-phất! Thế giới ấy tại sao gọi là thế giới Cực Lạc? Vì thế giới ấy không giống thế giới Ta-bà này có nhiều xấu xa, nhỏ hẹp, đau khổ. Chúng sanh ở quốc độ đó chỉ có đầy đủ không hề thiếu thốn, chỉ có an vui không hề đau khổ, cho nên gọi là thế giới Cực Lạc. Cõi ấy cảnh vật bằng phẳng, sạch sẽ, giàu có. Người trong nước về phần ăn mặc, đi đứng, thuốc men… đều tùy theo nhu cầu mà đầy đủ tiện nghi. Những người ấy đều là các bậc thượng thiện ở chung một cõi. Phong cảnh như một rừng hoa tuyệt mỹ, kiến trúc như đô thị nguy nga.
Xá-lợi-phất! Chỉ cần nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, gieo trồng nhân duyên phước đức, tu học ba mươi bảy phẩm trợ đạo, tương lai sẽ được Phật A-di-đà tiếp dẫn, được vãng sinh về nước của Ngài.
Xá-lợi-phất! Chúng sanh ở thế giới Ta bà nếu muốn thoát khỏi khổ não trong sáu đường luân hồi, chỉ nên phát nguyện cầu được sanh về cõi ấy. Ta từng bảo A-nan lễ bái Phật A-di-đà, ông ấy cũng từng được thấy đức Phật kia phóng hào quang lớn, các ông nên tin pháp môn khó tin mà ta vừa nói, đó thật là con đường cứu khổ.”
Đức Phật nói xong, Đại trí Xá-lợi-phất không hề có một niệm hoài nghi. Tôn giả và đại chúng đều tin sâu pháp môn Tịnh độ của Phật A-di-đà.
8- ĐỨC HẠNH NHẪN VÀ NHƯỜNG
Xá-lợi-phất đối với giáo pháp của đức Phật luôn tôn kính và phụng trì, đối với việc bố giáo chưa từng thoái chí, chỉ đối với riêng mình thì vinh nhục khen chê đều chẳng lưu tâm, thảy đều nhường nhịn.
Có một hôm, đức Phật dẫn đại chúng đi bố giáo và trở về thành Xá-vệ, lúc đó nhóm đồ đệ của Lục Quần Tỳ-kheo, đã nhanh chân đến Kỳ Hoàn tinh xá trước đức Phật và đại chúng, chiếm luôn những chỗ nghỉ ngơi tốt đẹp, ngay cả cư thất của Xá-lợi-phất cũng bị chiếm. Họ lại nói: Chỗ này là chỗ của thầy chúng ta, chỗ này là chỗ của chúng ta.
Xá-lợi-phất về sau đức Phật, ngày đó vì hơi chậm chân, khi về đến tinh xá thấy chỗ của mình bị Lục Quần Tỳ-kheo đã ở trước, không còn cách nào khác, Tôn giả bèn ra gốc cây ngồi thiền qua đêm. Sáng sớm, đức Phật dậy, nghe dưới gốc cây có tiếng ho hen, Ngài bèn hỏi:
- Ai ở đó? Sao không tịnh tọa trong phòng?
Xá-lợi-phất thưa:
- Bạch Thế Tôn! Con là Xá-lợi-phất, vì hôm qua có rất nhiều Tỳ-kheo theo Phật về tinh xá, tất cả phòng đều có người, con tạm ngủ dưới gốc cây một đêm cũng không sao.
Đức Phật nghe xong rất khen đức tốt nhẫn nhượng của Tôn giả, nhưng nhóm các Tỳ-kheo lại dạy:
- Các Tỳ-kheo! Ta hỏi các ông, trong giáo đoàn ta, người nào xứng đáng được thọ lãnh sàng tòa thượng đẳng, nước thượng đẳng, ẩm thực thượng đẳng?
Các Tỳ-kheo ồn ào bày tỏ ý kiến:
- Đó là Tỳ-kheo xuất thân từ dòng vua chúa!
- Đó là Tỳ-kheo xuất thân từ dòng giáo sĩ!
- Tỳ-kheo nào tu hành và có khả năng bố giáo mới xứng đáng được sàng tòa hạng nhất, nước và thực phẩm hạng nhất!
Sau khi nghe các câu trả lời lung tung, đức Phật nghiêm nghị bảo:
- Các Tỳ-kheo! Thuở xưa tại núi Tuyết có chim chá cô, con khỉ, con voi đồng ở chung. Tuy chúng là bằng hữu, nhưng vì thân thể, sức lực và trí khôn của mỗi con không đồng nhau, nên mạnh ai nấy tự cao tự đại, không tôn kính lẫn nhau. Sau biết như vậy là sai trái, mới cung kính và nghe lời răn dạy của loài lớn tuổi, đến khi thân hoại mạng chung, chúng đều sanh vào đường lành.
Các Tỳ-kheo! Các ông phải tôn kính bậc niên lão về pháp hạnh, hiện tại được người khen ngợi, về sau mới được sanh chỗ lành. Này các Tỳ-kheo! Trong giáo pháp ta không có giai cấp cao thấp, nhưng có bậc trưởng lão về pháp lạp và giới lạp, các ông phải cung kính, phụng sự, lễ bái. Các bậc trưởng lão ấy đáng được thọ sàng tòa đệ nhất, nước và thực phẩm đệ nhất .
Đức Phật nói như thế, đại chúng đều hiểu ý, Xá-lợi-phất rất cảm kích, đại chúng cũng rất cảm kích.
9- KHEN MỘT CÁI CHẾT ĐẸP
Xá-lợi-phất tuy là bậc trưởng lão chứng Thánh quả nhưng đối với người nữ tu hành thành tựu, cũng rất tôn trọng.
Ngày nọ, Tôn giả đang ngồi thiền trong một khu rừng gần thành Vương Xá, đang lúc buông hết để nhập chánh định, bỗng nghe Tỳ-kheo ni Ưu-ba-tiên-na ngồi thiền trong hang động đối diện lớn tiếng gọi Ngài, Ngài bước đến thì Ưu-ba-tiên-na nói:
- Thưa Tôn giả! Khi tôi đang tọa thiền, trên thân mình bỗng chạm nhằm vật gì, ban đầu tôi không lưu ý, sau mới biết là một loài rắn độc. Tôi đã bị nó cắn, thế nào cũng chết. Bây giờ thừa lúc chất độc chưa hoành hành, xin Ngài từ bi vì tôi tìm cách mời đại chúng đến cho tôi được cáo biệt!
Khi nói câu ấy, Ưu-ba-tiên-na không tỏ một chút gì kinh sợ, như là chẳng có việc gì xảy ra.
- Ở đây vừa xảy ra việc đó sao? Ta xem sắc mặt cô không có gì biến đổi. Nếu như bị rắn cắn, nhất định cô sẽ biến sắc.
Ban đầu Xá-lợi-phất cho là không có việc gì nên nói như thế. Ưu-ba-tiên-na trầm tĩnh đáp:
- Bạch tôn giả! Thân người là do tứ đại, ngũ uẩn hư vọng mà thành, không có chủ tể, vốn là vô thường, vốn là không. Tôi đã chứng được đạo lý ấy, độc xà làm sao cắn được cái “không”?
- Cô nói rất đúng, cô đã đến trình độ thoát khỏi mọi đau đớn của thân thể, cô dùng tuệ mạng của mình mà giữ gìn sắc mặt không biến đổi.
Xá-lợi-phất khen ngợi Ưu-ba-tiên-na và thông tri cho các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni tu tập gần đó, đem Ưu-ba-tiên-na ra khỏi động, nọc độc mới dần dần xâm nhập khắp người. Ưu-ba-tiên-na vô sự nhập Niết-bàn. Thấy được bậc giải thoát như thế, đại chúng rất tán thán, Xá-lợi-phất nói:
- Người tu hành điều tâm, tấn nhập Niết-bàn, đối với cái chết của thân mình, coi như bỏ một cái bát độc, như bệnh nặng được lành. Có cầu ắt có báo đáp, có chí nguyện nhất định thành, sắp chết không đổi sắc, đó là dùng mắt trí tuệ mà xem tướng thế gian, ra khỏi nhà lửa, thật là đẹp vô cùng.
Lời ngài Xá-lợi-phất khen Ưu-ba-tiên-na, cũng vốn là phương pháp quán sát của Phật giáo đối với chuyện tử sinh. Chuyện ấy trong con mắt người tu hành, xem giống như một đám mây qua.
10- LÒNG KHOAN DUNG RỘNG RÃI
Tuổi tác của Xá-lợi-phất tùy theo vô thường năm tháng gia tăng, Ngài đến lúc là một bậc cao niên tám mươi tuổi. Năm ấy, sau mùa an cư ở Kỳ Viên, vì việc hoằng pháp độ sanh, Ngài không nề tuổi già, không từ lao khổ, thỉnh cầu đức Phật cho phép Ngài đi du phương hóa đạo. Phật hứa khả và rất khen ngợi tinh thần vì người, vì giáo lý của Xá-lợi-phất.
Tôn giả rời tinh xá không bao lâu, có một Tỳ-kheo đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Xá-lợi-phất đi vân du hôm nay không phải vì tuyên dương Phật pháp, mà vì ông ấy đã làm nhục con, gặp mặt con thấy hổ thẹn muốn tránh mặt nên mới kiếm chuyện đi phương khác.
Đức Phật không thích kẻ phỉ báng người vắng mặt, nghe xong lập tức sai người mời Xá-lợi-phất trở lại, và ở trước đại chúng, Phật nghiêm nghị hỏi Xá-lợi-phất:
- Xá-lợi-phất, sau khi ông đi không lâu, có một Tỳ-kheo đến mách với ta rằng ông đã khi dể, nhục mạ ông ấy, có thật vậy không?
Xá-lợi-phất ôn hòa cung kính thưa:
- Bạch Thế Tôn! Từ khi con theo Ngài đến nay, nay là gần tám mươi tuổi, con nhớ con chưa từng sát hại sinh mạng, chưa hề nói lời hư vọng, chỉ trừ khi vì muốn tuyên dương chân lý, cũng chưa từng nói chuyện riêng tư lợi hại được mất của người, cùng người bàn tán tốt xấu. Hôm nay là ngày rốt sau của an cư, trong ba tháng qua, mỗi ngày con đều sám hối, không mất chánh niệm, tâm con trong lặng, không có một vẻ bất bình, con làm sao khinh thị người khác được ư?
Bạch Thế Tôn! Đất bùn hay nhẫn nhục, bất cứ vật gì nhơ uế đổ lên, đất không cự tuyệt. Phẩn tiểu, máu mủ, đờm dãi đất đều cam thọ cũng như kẹo ngon. Tâm con hôm nay bộc bạch trước đức Thế Tôn, nguyện như sức nhẫn nhục của đại địa, nguyện không trái nghịch ý người.
Dòng nước thanh tịnh, không kể vật sạch dơ hay cũ mới đều dùng nước để rửa sạch. Tâm con không yêu ghét, cũng như dòng nước.
Bạch Thế Tôn! Cây chổi dùng để quét bụi, khi quét dọn không chọn lựa tốt xấu, tâm con hôm nay thật là không hề khởi phân biệt tốt xấu. Con ở trong chánh niệm, quyết không hề khinh tiện vị Tỳ-kheo kia, con đối Phật mà nói lời này, con biết việc làm của con, Tỳ-kheo kia cũng biết việc làm của vị ấy. Như nếu con có lỗi, con xin hướng về Tỳ-kheo ấy sám hối để tâm con khỏi cắn rứt.
Vị trưởng lão gần tám mươi tuổi, đã đối trước Phật cáo bạch mọi việc như thật, đại chúng nghe qua đều cảm động.
Phật bảo ông Tỳ-kheo vu cáo kia:
- Ông có lỗi hủy báng trưởng lão, bây giờ không thể không sám hối. Ông đã có ý khiến Tăng đoàn phân vân, ông chẳng muốn cho Tăng đoàn hòa hợp. Nếu như ông không chí thành sửa đổi, sẽ bị khổ báo vô cùng!
Tỳ-kheo kia vội vàng quỳ trước Phật ai cầu sám hối:
- Bạch Thế Tôn! Tôn giả Xá-lợi-phất là người không lỗi chi, con đối với bậc Trí tuệ năng lực như thế mà không biết nhún mình học tập, lại sanh tật đố, xin Phật từ bi thương xót, cho con cơ hội đầu tiên sám hối.
Đức Phật trang nghiêm từ hòa bảo:
- Ông hãy đến sám hối Xá-lợi-phất.
Tỳ-kheo ấy phủ phục cúi đầu quỳ trước Xá-lợi-phất, Tôn giả bèn để tay lên đầu ông mà từ tốn nói:
- Tỳ-kheo! Trong giáo pháp của Phật, sám hối có sức mạnh vô cùng. Làm người ai không khỏi lầm lỗi? Biết lỗi liền sửa, đó là việc lành rất lớn. Tôi nhận sự sám hối của ông, từ đây về sau đừng tái phạm.
Thái độ và lời nói của Xá-lợi-phất, ai nghe cũng cảm động. Lòng quảng đại, tâm bình đẳng của Tôn giả thật là không kể kẻ oán người thân.
11- VÀO KIM CANG ĐỊNH
Khi đức Thế Tôn ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thành Vương Xá, tôn giả Xá-lợi-phất nhập Kim Cang tam-muội ở núi Kỳ-xà-quật. Trong núi có hai con quỷ một thiện một ác, một đứa tên Ưu-bà-ca-la, một đứa tên là Già-la. Chúng nhìn xa xa thấy Xá-lợi-phất đang ngồi kiết già tĩnh tọa, ác quỷ Già-la bèn nói với thiện quỷ Ưu-bà-ca-la.
- Này Ưu-bà-ca-la, ta sẽ đánh bể cái đầu của lão Sa-môn kia!
- Anh chớ nên nói như thế, vị Sa-môn ấy là đệ tử Phật, thông minh Trí tuệ số một và có thần lực, nếu như anh khởi ác tâm hại vị ấy, về sau sẽ trầm luân vĩnh cửu, chịu khổ vô cùng. Thiện quỷ Ưu-bà-ca-la can ngăn.
- Anh sợ lão Sa-môn ấy sao? Sa-môn là người rất dễ bắt nạt. Anh chú ý một chưởng của tôi, cái đầu Sa-môn lập tức nát như cám.
- Anh nói vậy chớ tôi thật kiêng nể Sa-môn, Sa-môn tuy là nhẫn nhục dễ bị lấn áp, nhưng các vị ấy có oai đức rất lớn. Anh mà đánh Sa-môn ấy, ổng tuy bị khổ nhứt thời, nhưng chúng ta sẽ vĩnh viễn bất an.
Thiện quỷ nói xong, ác quỷ vẫn không nghe liền tung chưởng đánh ngay đầu Xá-lợi-phất. Thiện quỷ không nỡ nhìn cảnh ấy, bèn tàng hình biến đi. Câu chuyện tuy nói dài dòng nhưng xảy ra chỉ trong nháy mắt, ác quỷ đánh tới, mà Xá-lợi-phất chỉ có cảm giác như một chiếc lá rơi trên đầu. Ngài mở mắt ra kịp thấy một con quỷ thất khiếu chảy máu rớt xuống địa ngục.
Xá-lợi-phất từ Kim cang tam-muội dậy, chỉnh y phục, đến vườn Trúc gặp Phật, Phật bèn hỏi:
- Xá-lợi-phất! Hôm nay, thân ông có việc gì không?
- Bạch Thế Tôn! Từ trước đến giờ con không có bệnh nặng, hiện tại trên đầu chỉ đau chút đỉnh.
- Xá-lợi-phất! Hôm nay, ông nhập Kim cang định rất tốt. Quỷ Già-la đánh trên đầu ông mà chẳng gây thương tích cho ông, phải biết quỷ Già-la mà đấm núi Tu-di cũng phải bể hai. Sức định Kim cang lớn mạnh như thế, Tỳ-kheo các ông cần phải tu trì.
Xá-lợi-phất thường dạo chơi trong Không tam muội và Kim cang tam-muội, tai nạn bên ngoài không thể làm hại Ngài tí nào.
12- XIN ĐƯỢC NHẬP NIẾT-BÀN TRƯỚC
Đức Phật ở trong rừng của thôn Trúc Phương, gần thành Tỳ-xá-ly, sau khi thuyết pháp xong liền báo cho mọi người một tin kinh hãi, đó là ba tháng nữa Ngài sẽ nhập Niết-bàn.
Mọi người đều buồn thảm, chuyện ấy không cần nói, Xá-lợi-phất cũng không thể nào nhìn thấy đức Phật Niết-bàn. Tôn giả ở trong định nghĩ thầm:
- Những đệ tử thượng thủ của chư Phật quá khứ đều nhập Niết-bàn trước, nay ta là đệ tử thượng thủ của Thế Tôn, ta nên nhập Niết-bàn trước Ngài.
Sau khi nghĩ như vậy, Xá-lợi-phất liền xả thiền đến trước Phật, quỳ thưa:
- Bạch Thế Tôn! Con nay muốn nhập Niết-bàn, xin đức Thế Tôn hứa khả.
Phật chú ý nhìn Xá-lợi-phất rất lâu, mới hỏi:
- Vì sao ông muốn nhập Niết-bàn mau như vậy?
- Bạch Thế Tôn, Ngài nói Ngài sẽ nhập Niết-bàn gần đây. Thế Tôn đã ban cho con pháp tình và ân huệ rộng lớn, làm sao con có thể thấy Thế Tôn vào Niết-bàn. Vả lại, Thế Tôn từng nói, các đệ tử thượng thủ của chư Phật quá khứ đều vào Niết-bàn trước các Ngài. Con thiết tưởng nay là đúng lúc con vào Niết-bàn, xin Thế Tôn từ bi hứa khả.
Xá-lợi-phất nói xong, rất có vẻ thương cảm nhưng vẫn không để mất phong độ an tịnh. Phật lại hỏi:
- Ông định vào Niết-bàn ở nơi nào?
- Ở cố hương của con, thôn Na-la-tý-nỏa-ca. Mẹ già trăm tuổi của con vẫn còn mạnh khỏe, con muốn về thăm mẹ già một lần. Và sẽ nhập Niết-bàn nơi phòng con đã được sinh dưỡng.
- Ta không cản ngăn ông, ông có thể làm theo ý mình, nhưng ông là đệ tử thượng thủ trong hàng đệ tử ta, nên đợi các chúng hội họp và lưu lại cho mọi người đôi lời giáo huấn.
Phật sai A-nan tập hợïp chúng Tỳ-kheo. Mọi người nghe tin Xá-lợi-phất cáo từ để vào Niết-bàn, đều mau mau vân tập. Trước tiên Xá-lợi-phất cáo biệt đức Phật:
- Thưa Thế Tôn, con từ quá khứ vô lượng kiếp, luôn luôn mong được sanh nhằm thời Phật ra đời, và rốt cuộc đã được mãn nguyện. Nỗi vui mừng khi gặp Phật chẳng có gì so sánh được. Trong bốn mươi năm, lãnh thọ lời dạy từ bi của Thế Tôn, khiến kẻ ngu si như con được mở mắt trí tuệ, giác ngộ chân lý, chứng Thánh quả. Ngôn từ và hình dung trong thiên hạ không thể diễn tả được sự cảm kích và vui mừng của con. Hôm nay, thời hạn lìa cõi tục của con gần kề, con sắp xả bỏ mọi ràng buộc thế gian, sắp sửa tấn nhập cảnh giới Niết-bàn tự do, tự tại. Như người gánh nặng đi xa, sắp được buông xuống. Con tự lấy làm vui mừng, con thừa thọ pháp thủy cam lồ của Thế Tôn, đã giúp con cởi mở sự trói buộc của ngũ uẩn, không còn thọ những khổ não các cõi nữa. Đây là lời từ giã cuối cùng đối với Thế Tôn, xin Ngài cho con đảnh lễ.
Xá-lợi-phất nói xong, gieo năm vóc sát đất, không khí rất trầm lặng nghiêm túc.
Phật gật đầu nói với Tôn giả:
- Xá-lợi-phất! Những lời giảng dạy của ta ông đã lãnh hội, nay ta thọ ký cho ông, tương lai ông sẽ thành Phật, hiệu là Hoa Quang Như Lai, sẽ trở lại nhân gian giáo hóa chúng sanh, thành tựu quả Phật tối cao.
Đức Phật nói xong, liền bảo đại chúng tiễn đưa Xá-lợi-phất một đoạn đường. Tôn giả đứng dậy đi lui ra cho đến lúc không còn nhìn thấy Thế Tôn, mới xoay mình lại bước đi.
Các Tỳ-kheo đều mang hương hoa đưa tiễn Tôn giả, đây là lúc đượm vẻ vắng lặng, trang nghiêm thê lương, phần lớn các Tỳ-kheo đều rướm lệ.
13- LỜI TẶNG SAU CÙNG
Các Tỳ-kheo đi theo tôn giả Xá-lợi-phất một đoạn không xa, Tôn giả dừng lại nói với mọi người:
- Quý vị hãy ngừng lại đây, không cần đưa tiễn thêm. Chỉ cần Sa-di Quân-đầu theo tôi mà thôi. Xin quý vị hãy trở về, tự mình gấp rút tu hành, mong rằng quý vị nỗ lực tinh tấn thoát ly ưu bi khổ não, mau vào cảnh giới giải thoát tự do.
Đức Thế Tôn xuất hiện trên thế gian này như hoa Ưu Đàm mấy ngàn vạn năm mới gặp kỳ nở hoa. Thân người khó được, tín tâm thuần khiết khó nuôi dưỡng, đời nay chúng ta được xuất gia lại được tự thân nghe Phật thuyết pháp, thật là việc hy hữu trong trăm ngàn vạn ức đời. Hy vọng đại chúng tinh tấn thêm lên. Các hành vô thường, cần yếu phải chiến thắng cái khổ vô thường đó, đạt đến cảnh giới Niết-bàn vô ngã, đó mới là nơi trở về vĩnh viễn chơn thật của chúng ta, đó mới là một thế giới an vui tịch tĩnh.
Tôn giả nói lời ấy xong, đại chúng nghĩ đến đây là lời tặng cuối cùng trong dịp tử biệt sinh ly, không nén nổi bi ai, mọi người đều khóc với Tôn giả:
- Tôn giả! Ngài là đệ tử thượng thủ của đức Thế Tôn, là bậc trưởng lão trong hàng Tỳ-kheo chúng con, về sau chúng con rất cần Ngài lãnh đạo trong công tác hóa đạo, vì sao Ngài sớm vào Niết-bàn như thế?
Xá-lợi-phất biết rõ tâm sự đại chúng, nhưng rất an tĩnh đáp:
- Xin các vị đừng thương cảm như thế. Thế gian này là vô thường, Phật đã chẳng thường nói với chúng ta như vậy sao? Núi Tu-di còn có lúc hoại, biển lớn còn có ngày khô cạn, cái chết của sắc thân Xá-lợi-phất tôi như hạt cải nhỏ xíu, đó là chuyện đương nhiên, đó cũng là thật tướng của thế giới.
Lời sau cùng tôi muốn dặn dò quý vị là cần phải nhất tâm tu đạo, thoát ly khổ hải, cần gấp về thế giới Cực lạc thanh lương. Đức Phật ngày xưa đã từng nói với tôi, quốc độ của Phật A-di-đà ở phương Tây là nơi giải thoát an lạc. Các vị nên niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng thì nguyện vọng của quý vị sẽ như ý.
Tôi lại mong quý vị tuyên dương lưu bố giáo pháp của Phật-đà, không nên so đo toan tính về danh lợi của riêng mình; không vì phước lợi cho quần sanh thì đừng xuất gia. Cho đến thời mạt pháp, đời đời kiếp kiếp chỉ cần có chúng sanh nghĩ đến việc cầu vui dứt khổ, giải quyết xong chuyện của chính mình, họ cũng có thể nối tiếp huệ mạng của Phật-đà.
Xá-lợi-phất nói xong, mọi người đều bi thương cảm động. Mỗi người đều biết đây là lần chia tay sau cùng với Tôn giả, về sau sẽ vĩnh viễn không thể tương phùng. Tuy Tôn giả bảo đại chúng trở lui, mà ai nấy đều bước theo Ngài. Ngài không thích thái độ lưu luyến như thế, lại một lần nữa cự tuyệt sự tiễn đưa của họ. Cuối cùng, mọi người phải dừng lại, nhìn theo bóng Tôn giả mất hút mà không nghĩ chuyện quay về. Nghĩ đến từ nay không còn gặp lại vị Trí tuệ đệ nhất, mà bất giác nước mắt rơi không ngừng. Các vị ấy tuy đã giác ngộ, nhưng nhơn tình và pháp tình không khác vậy.
14- HỒI GIA
Từ giã đức Phật và Tăng đoàn, Xá-lợi-phất chỉ dắt theo Sa-di Quân-đầu. Trên đường đi, trong tâm Tôn giả khởi lên những đợt sóng cảm nghĩ triền miên. Tuy nhiên như thế nhưng trong tâm Ngài vẫn không loạn động, phẳng lặng và sáng suốt như đứng lặng trên đỉnh Tuyết Sơn, toàn vũ trụ đều hiện rõ trong tâm.
Khi đó Xá-lợi-phất về đến cố hương, mặt trời nghiêng về Tây, trên thôn làng Ca-la-tý-nỏa-ca, một ráng mây hồng ở góc trời. Tôn giả ngồi nghỉ bên đường, thốt nhiên đứa cháu gái tên Ưu-bà-ly-bà-đa đến bên lễ bái, Tôn giả hỏi:
- Bà nội có nhà không?
- Bà nội không đi đâu cả.
- Cháu thưa với bà có ta trở về.
- Dạ!
- Thưa với bà cho người quét dọn căn phòng của ta sạch sẽ, ta sẽ nghỉ ở đó một đêm.
- Dạ!
Xá-lợi-phất về làm gì, đứa cháu nhỏ chẳng hề biết ất giáp, chỉ dạ lia lịa, vội chạy về thưa với bà, báo tin bá phụ hồi gia.
Mẫu thân của Tôn giả nghe tin con mình từ lâu không về nhà, nay về đến, rất vui mừng. Xá-lợi-phất tuy đã tám mươi tuổi, nhưng đối với tấm lòng của bà mẹ già một trăm tuổi, lúc nào cũng xem Tôn giả như đứa con nhỏ.
Bảo quét dọn căn phòng sanh dưỡng của Tôn giả sạch sẽ, mẫu thân Ngài rất lấy làm lạ, nhưng nỗi vui mừng mẹ gặp con khiến bà phấn khởi không căn vặn lý do.
- Bà nội! Hãy nghỉ đi, chúng cháu quét dọn cũng được rồi – Ưu-bà-ly-bà-đa nói.
- Mấy đứa bây làm nhanh nhanh, cẩn thận quét dọn cho thật kỹ, bác bây là người rất ưa thanh tịnh đó nghen!
Mặt trời khuất núi, Tôn giả về đến nhà, hỏi thăm từng người trong gia đình. Mẹ Ngài vui mừng đến rơi lệ, nói:
- Cuối cùng rồi con cũng trở về!
Xá-lợi-phất an nhiên nhìn mẹ, mỉm cười, và đem ý định trở về đây để nhập Niết-bàn báo cho mẹ cùng gia nhơn hay, ai nấy đều kinh hãi.
- Mọi người đừng bận tâm – Xá-lợi-phất nói –Thưa mẹ! Xin mẹ đừng coi cái chết của con giống như mọi người. Khi chết ai cũng khóc lóc, nhưng con vào Niết-bàn là việc rất vui mừng. Lúc này, thâm tâm con rất vui, rất an ổn. Một đời con được gặp bậc thầy cứu thế Phật-đà, nghe được giáo pháp và thực hành theo đó, con đã được cứu vớt khỏi biển sanh tử, đã được giải thoát từ trong phiền não không còn việc gì phải sợ hãi. Sở dĩ hôm nay con trở về vì để tấn nhập Niết-bàn. Con là đệ tử thượng túc của Phật, con phải vào Niết-bàn trước Ngài. Xin cả nhà yên lòng, đời người ai khỏi chết? Như con không chút mê mờ mà vào cảnh giới Niết-bàn thường trụ, đó thật là một hạnh phúc lớn lao.
Mẹ già trăm tuổi của Tôn giả nghe xong rất buồn, nhưng nghĩ đến con mình xả bỏ thế gian một cách tốt đẹp tự do giải thoát như vậy thì cũng đáng mừng. Bà nghĩ đến cái chết của mình trong tương lai cũng hy vọng được như Tôn giả, đem hết tâm tình hoan hỷ mà đón nhận.
Xá-lợi-phất lại đem lời dạy của Phật nói lại cho mẹ nghe, bà rất thông hiểu ý Tôn giả, nói với Ngài:
- Con giảng giải rất đúng, mẹ cũng vì con mà vui mừng. Không mê muội mà vào Niết-bàn, không còn cái khổ sanh tử là hạnh phúc trên hết. Con hãy nghỉ ngơi một chút đi!
Tuy bà nói vậy nhưng cũng rơi nước mắt mà về phòng.
15- NIẾT-BÀN
Mẹ và gia nhơn đi rồi, Tôn giả mới nói với Quân-đầu:
- Con hãy qua phòng bên kia, để một mình ta trong phòng này.
Tin Xá-lợi-phất trở về nhập Niết-bàn lan truyền trong thôn xóm. Đến canh ba, nửa đêm, những người trong thôn lân cận đã quy y với Phật đều tụ tập. Vua A-xà-thế cũng đem nhiều đại thần đến, ai cũng muốn được gặp Tôn giả lần cuối, viếng thăm và nghe lời thuyết pháp của Ngài.
Quân-đầu dẫn mọi người ngồi tại một nơi và bảo hãy đợi Tôn giả nghỉ ngơi xong sẽ tái kiến.
Đêm càng sâu càng vắng, nơi tịnh thất Tôn giả chỉ có một ngọn đèn sáng, ngoài ra không nghe một tiếng động nào.
Phương Đông dần sáng, Tôn giả gọi Sa-di Quân-đầu đến hỏi:
- Có người nào đến phải không?
- Thưa phải, nhiều người nghe tin Tôn giả nhập Niết-bàn đều đến xin được gặp, cả vua A-xà-thế cũng đến.
- Con mời họ vào đây.
- Họ rất mong được thấy Tôn giả.
Quân-đầu ra nói với mọi người, Tôn giả sẽ cùng mọi người tương kiến, ai nấy còn đang sợ rằng không được thấy Tôn giả hiện tiền, nghe nói vậy đều rất phấn khởi. Mọi người rón rén bước vào phòng Tôn giả, chẳng dám ho hen, bao quanh lớp trong lớp ngoài.
Cuộc gặp gỡ thật thiêng liêng. Tôn giả nói với mọi người:
- Các vị đến đây rất đúng lúc. Tôi cũng muốn gặp quý vị một lần này. Bốn mươi năm qua, tôi vâng lãnh lời chỉ dạy của đức Thế Tôn, đi các nơi giáo hóa, hoặc là tu học bên đấng đạo sư, tôi đối với Ân sư chưa hề có một niệm không vui, hoặc một chút bất mãn, tôi càng lúc càng cảm kích ân lớn của Ngài. Trên đời này, đối với giáo thị rộng lớn sâu xa như biển lớn của Thế Tôn, cũng còn có những chỗ thậm thâm tôi chưa hiểu hết, hôm nay nghĩ đến điều ấy thật là thiếu sót vô cùng. Tôi được mọi người tôn xưng là Trí tuệ đệ nhất, chẳng qua nhờ sức từ bi của Phật, vâng theo lời dạy mà hành trì, nỗ lực tinh tấn mà chứng Thánh quả.
Tôi nói như vậy, là muốn nhắc cho các ông biết rằng được gặp Phật ở đời là ngàn năm khó thấy, vạn năm không dễ hội ngộ, các ông phải mau mau theo lời Phật dạy mà tu học, bảo bối trong biển pháp tuy nhiều, các ông không tham cầu thì không được.
Tôi không còn chút gì chấp ngã, hôm nay cáo biệt các ông, tôi sẽ vào cảnh giới Niết-bàn tịch tịnh. Tôi nguyện theo sau Phật đến nơi bất sanh bất tử vĩnh viễn trường tồn.
Mọi người nghe Tôn giả thuyết pháp, thấy dáng mạo an tịnh của Ngài, ai có thể nghĩ rằng đây là người sắp rời bỏ cõi đời. Vua A-xà-thế và tất cả đều cung kính khâm phục và cũng rất thương cảm. Tôn giả an trụ trong định, nằm nghiêng bên hữu, vào cảnh giới Niết-bàn.
16- TINH THẦN CÒN MÃI TRÊN THẾ GIAN
Tôn giả Xá-lợi-phất nhập Niết-bàn được bảy ngày, Sa-di Quân-đầu đem hài cốt trà tỳ. Sau đó trở về chỗ Phật, kể hết sự tình cho A-nan nghe, A-nan rơi nước mắt, đưa Quân-đầu đến báo cáo tỉ mỉ với đức Phật, Thế Tôn yên lặng lắng nghe.
Quân-đầu báo cáo xong, đức Thế Tôn thấy A-nan rất đỗi bi thương, nước mắt đầm đìa, mới hỏi:
- A-nan! Ông buồn thảm lo lắng việc gì? Xá-lợi-phất nhập Niết-bàn điều ấy không quý báu ư? Ông ấy lãnh thọ giáo pháp của ta, rồi khi viên tịch đã đem hết chân lý đi không để lại chút gì sao?
A-nan cung kính chắp tay thưa:
- Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Con chẳng phải buồn rầu lo lắng điều ấy. Tôn giả Xá-lợi-phất phụng trì giới luật, Trí tuệ cao siêu, thuyết pháp khéo léo, mạnh mẽ bố giáo, Ngài luôn luôn nhiệt tình trong công tác, điều ấy không những chỉ chúng con biết mà chúng sanh cũng hoan hỷ xưng tán. Nghĩ đến hôm nay Tôn giả không còn nữa, vì sự lưu bố chánh pháp, vì sự tồn tại của giáo đoàn ngàn vạn năm sau, chịu ảnh hưởng sự Niết-bàn quá sớm của Tôn giả, chẳng phải riêng con lo lắng, con thiết tưởng cả đại chúng cũng đều buồn rầu lo lắng.
Đức Phật biết điều đó là đúng, nhưng điềm đạm an ủi A-nan:
- Ông chẳng nên lo nghĩ. Xá-lợi-phất tuy không còn nhưng chánh pháp chưa từng mất, vô thường xưa nay là thật tướng của thế gian, sanh diệt là lý đương nhiên. Đại thọ trước khi ngã, trước tiên gãy những cành lớn; núi báu trước khi hoại, thì tảng đá to hoại trước, Xá-lợi-phất là người nhập Niết-bàn đầu tiên trong chúng Tỳ-kheo, cũng là thuận theo pháp tự nhiên. Ta không bao lâu cũng nhập Niết-bàn. Các ông đừng thất vọng, giáo pháp của ta chưa từng theo ta mà mất đi. Ta sống mãi ngàn vạn năm trong lòng người tin tưởng, ta luôn chiếu cố đến họ. Các ông cần phải nương nơi pháp, nương nơi chân lý ta đã nói, không nên nương tựa vào ai khác. Tấn nhập Niết-bàn, qua thế giới Cực Lạc là công phu cần thiết đệ nhất .
Phật nói xong, nhận linh cốt Xá-lợi-phất từ tay Sa-di Quân-đầu, nói với đại chúng:
- Các Tỳ-kheo! Linh cốt này trước đây vài ngày còn vì chúng sanh thuyết pháp bố giáo, còn là Đại trí Xá-lợi-phất. Trí tuệ ông ấy rộng lớn vô biên, trừ Thế Tôn ra không ai sánh kịp. Ông ấy chứng ngộ pháp tánh, ít muốn biết đủ, dũng mãnh tinh tấn, thường tu thiền định, vì giáo vì người, hàng phục ngoại đạo, tuyên dương chánh pháp, ông đã chứng quả giải thoát, không còn khổ não.
Các Tỳ-kheo! Hãy xem đây! Đây là di thể do Thế Tôn đích thân cầm lấy.
Khi đức Phật nói lời ấy, bất giác đại chúng đều đảnh lễ linh cốt Tôn giả, cung kính gieo năm vóc sát đất.
Tôn giả tuy ra đi nhưng tinh thần còn mãi mãi trên thế gian.