Saturday, April 21, 2018

Paramahansa Yogananda


Awake: The Life of Yogananda Official Trailer 1 (2014) - Documentary HD

The Autobiography of a Yogi, Paramahansa Yogananda Chap 1

48

The Autobiography of a Yogi, Paramahansa Yogananda Chap 48 ( FINI )

Giving Voice to the Wisdom of the Ages

Paramahansa Yogananda - On Sleep


Nhơ' vê` Trịnh Công Sơn




Trịnh Công Sơn hát "Một Cõi Đi Về" - Singapore Tết 1998

Nghe Trịnh Công Sơn hát mộc Ở trọ, Tiến thoái lưỡng nan | Video clip

Video hiếm hoi về cuộc gặp gỡ của Trịnh Công Sơn, Trần Tiến, Phạm Duy

Cleve Baxter * Elmer Green (NHUNG GAN-KET VO-HINH)


Cleve Baxter 30 years later, Measuring Frequencies of Plants and Microbes


Elmer Green: Reflections on His Life

PETRUS KY' - NOI OAN THE KY; TRA` LY - TRUYEN NGAN CHON LOC...


234. Ấn phẩm đặc biệt của Nhã Nam “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ”

PETRUS KÝ – NỖI OAN THẾ KỶ
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
NXB Tri Thức 2016; Nhã Nam phát hành
Dày 615 trang; Bìa và giấy trắng đẹp; 
Hiện không còn trên thị trường; 
Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898-), tên hồi nhỏ là Trương Chánh Ký, sau này đổi tên đệm thành Trương Vĩnh Ký, hiệu Sĩ Tải; là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục học, và khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.
Pétrus Trương Vĩnh Ký sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 (tức năm Đinh Dậu, Minh Mạng thứ 17) tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre). Vĩnh Ký là con thứ ba (sau một anh cả và một người chị) của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu.
Ông có tri thức uyên bác, am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên đương thời ông được giới học thuật Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới. Ngoài ra, vì biết và sử dụng thông thạo 27 ngoại ngữ, nên ông trở thành một trong số ít những người biết nhiều thứ tiếng ở Việt Nam, và đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới.
Ông để lại hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật,… Riêng đối với nền báo chí Quốc ngữ Việt Nam, ông được coi là “ông tổ nghề báo Việt Nam”, người đặt nền móng, bởi ông chính là người sáng lập, là Tổng biên tập tờ báo quốc ngữ đầu tiên: Gia Định báo).
Lời bình về cuốn sách Petrus Ký – Nỗi Oan Thế Kỷ
“…Trải qua hơn một trăm năm với nhiều thăng trầm của lịch sử, lúc nào Trương Vĩnh Ký được tôn vinh và lúc nào bị phê phán. Trong lịch sử Việt Nam, việc bình luận, đánh giá không ít nhân vật lịch sử thường bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử như vậy. Nhưng xu hướng chung vẫn là sự thắng thế của kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc, khách quan và thái độ công minh trước lịch sử. Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió của Khen – chê, tôn vinh – phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối.
Cuốn sách của học giả Nguyễn Đình Đầu là một công trình tổng hợp bao gồm các trước tác tuyển chọn của Trương Vĩnh Ký và hệ thống theo thời gian các sách, báo nghiên cứu, phê bình Trương Vĩnh Ký kể cả khen và chê.
Trong sách, tác giả còn sưu tập và công bố một số tư liệu mới về Trương Vĩnh Ký, đóng góp thêm cơ sở dữ liệu về nhân vật lịch sử này.”
– giáo sư Sử học Phan Huy Lê –
“Petrus Ký là thông ngôn sứ đoàn An Nam sang thăm Pháp cuối năm 1863. Ông còn trẻ nhưng kiến thức sâu sắc và biết nhiều ngôn ngữ Á-Âu. Qua bài ‘Vương quốc Khmer hay Căm Bốt’ trong tạp chí này, ông chứng tỏ rất thông thạo Pháp văn như tiếng mẹ đẻ vậy.”
– Tạp chí Hội Địa lý Paris, 1863 –
“Petrus Ký là nhà ngữ học nổi tiếng của Nam Kỳ, hiện làm giám đốc trường Thông ngôn và giáo sư trường Hậu bổ, thông thạo 18 ngôn ngữ Á-Âu. Petrus Ký được tôn vinh là một trong 18 văn hào thế giới.”
– Tạp chí Le Biographe, 1873 – 1874 –
Hiện đã có sẵn tại SÁCH CŨ GIA ĐÌNH.
Giá bán 300k/cuốn.


 I. VĂN HỌC:
A. Giải A:
1. Trần Xuân Toàn – Nghiên cứu văn học “Ngôn ngữ văn học dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương”
2. Lộc Xuyên Đặng Quý Địch – Biên khảo Văn học “Tấc lòng”
3. Triều La Vĩ – Tập thơ “Nhật ký đêm”
4. Lê Ân – Tập thơ “Ru thai”
5. Trần Như Luận – Tiểu thuyết “Thầy Gotama và 8.000 đệ tử”
6. Nguyễn Mỹ Nữ – Tập truyện ngắn “Tiếng hát liêu điêu”
7. Mai Thìn – Tập thơ “Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình
8. Lệ Thu – Tập thơ “Điềm đạm Việt Nam” (50 bài thơ mới sáng tác và in lần đầu)
9. Văn Trọng Hùng – Tập thơ “Hầu chuyện tiền nhân”
10. Trà Ly – Truyện dịch “Truyện ngắn thế giới chọn lọc”



http://binhdinh.gov.vn/inetcloud/portal/main/page/gov/chitietdanhmuc.ivt?intl=vi&id=5a66ec305954820fd7e5195e

Thầy Gotama và 8000 đệ tử


VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC TIỂU THUYẾT THẦY GOTAMA VÀ 8000 ĐỆ TỬ CỦA TRẦN NHƯ LUẬN
 Thay gotama va 8000 de tu - khong nen
Bài viết của TRẦN MINH NGUYỆT
 https://xunauvn.org/2014/09/03/thay-gotama-va-8000-de-tu/
Tôi có duyên lành đọc tác phẩm Thầy Gotama và 8000 đệ tử của nhà văn Trần Như Luận do nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành.               Đây vừa là một tiểu thuyết lịch sử, vừa là một tiểu thuyết luận đề. Với lối viết phi tuyến tính xen lẫn với tuyến tính, những tình tiết cô đọng, sâu lắng, nhà văn đã dẫn tôi vào một không gian bàng bạc sương mù. Đó là sự mù mịt của một Ấn Độ cổ, nơi mà con người quá tin và quá dựa dẫm vào thần linh. Thầy Gotama đã ra đời trong bối cảnh đó. Thầy đã dẫn dắt chúng sinh vượt qua cuộc biến thiên vô tận của cuộc đời đầy ngã chấp và sự u mê ám chướng.
Tiểu thuyết đã tái hiện một Ấn độ cổ với nhiều nước lớn, nhỏ như Magadha, Kosala, Sakka. Tác giả đã giúp tôi có thêm nhiều kiến thức về phong tục tập quán, về cuộc sống con người của một thời. Và đặc biệt tôi rất có ấn tượng về một số nghi lễ… Chẳng hạn lễ cưới của hoàng tử Nanda, lễ tang của vua Suddhodana, những tục lệ cúng tế thần linh…
Đọc tiểu thuyết tôi nhận ra rằng giáo pháp của Thầy Gotama dẫn con người đến với tự do, nhân bản. Thầy Gotama là vị giáo chủ duy nhất trên thế gian không nhân danh thần linh hay Thượng Đế mà chỉ nhân danh con người. Tất cả những gì mà Ngài đạt được không phải do thần linh ban tặng, mà hoàn toàn do nỗ lực và trí tuệ của con người. Theo thầy Gotama, con người là tối thượng, là chủ nhân của chính mình. Chính tư tưởng này đã giúp con người thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thế lực thần linh.
Nhà văn Trần Như Luận đã dùng một cách riêng để lí giải giáo lí của Thầy Gotama làm cho người đọc dễ dàng tiếp cận hơn so với những cách diễn đạt trước đây. Tôi đã hiểu thấu đáo hơn về: Bát chánh đạo, tứ diệu đế, tứ vô lượng tâm, luân hồi, niết bàn, tánh không… Đặc biệt, tiểu thuyết đã giúp tôi hiểu hơn về Vô Ngã. Chừng nào vô minh chưa được tận diệt thì  phiền não, đau khổ sẽ bám mãi theo ta.
Tiểu thuyết được nhà văn thể hiện với đa tuyến nhân vật. Mỗi tuyến nhân vật gắn liền với những số phận, những câu chuyện, khiến tôi hiểu thêm về bốn chữ “Sát, dâm, đạo, vọng” của cuộc sống trần gian luôn đầy rẫy những phỉnh gạt, cám dỗ và sa ngã…  “Sát, dâm, đạo, vọng” là những lối dẫn con người vào mê cung. Đạo pháp chính là cánh cửa giải thoát.
Các nhân vật như Pasenadi, Ajatasattu, Savastika, Punna, Sarit, Yasa, Alavaka… đã liên tục chìm đắm trong sát, dâm, đạo, vọng; nhưng may thay cuối cùng tất cả đều nhận ra rằng những gì mình sở hữu được cũng giống như bóng trăng dưới đáy nước. Nước xao động, trăng vỡ theo từng làn sóng vọng tâm. Cuối cùng Lối Đạo đã mở tung cõi lòng của họ, giải thoát mọi hệ lụy, tập nhiễm.
Các vị đại đệ tử của Thầy Gotama như Sariputta, Moggallana, Kondanna, Maha Kassapa….  đều lần lượt thoát khỏi vô minh và bể luân hồi. Họ không còn vướng mắc, không còn bị giới hạn, bị ràng buộc nữa. Họ đã thoát khỏi những ngọn lửa: tham, sân, si, mạn, nghi, sanh, lão, bệnh, tử và phiền não.
Xét về bút pháp, nhà văn luôn hóa thân thành đa tuyến nhân vật, nhưng ở tuyến nhân vật nào cũng thể hiện một cách xuất sắc. Về cách biểu đạt, tôi rất thích những đoạn văn tả cảnh, ví dụ đoạn tả ánh trăng lúc thầy Gotama ngồi dưới tán cây pippala: “Trăng dường như đang chót vót đâu tận sườn núi Meru. Trăng vẫn là trăng của mọi hôm, nhưng sao đêm nay trăng đẹp lạ đẹp lùng. Trăng lung linh huyền ảo trên bầu trời tít tắp. Trăng hồn nhiên tung tẩy nơi hàng hàng lớp lớp sóng lăn tăn lấp lánh trên mặt sông. Trăng óng ả như một tấm lụa kasi mượt mà, bất tận. Trăng thả hồn lơ lửng, chập chờn trên tấm kasaya màu vàng ánh. Trăng hiền hòa chiếu rọi lên gương mặt từ bi, phúc hậu của thầy. Chẳng nơi nào là không vương đầy trăng, nhuốm đầy trăng, ngập đầy trăng”.
Nhiều trang trong tiểu thuyết có một cách diễn đạt khá đặc sắc. Chẳng hạn, nói về sự dày dò, ray rứt của nhân vật Savastika, một gã thợ săn, sau thành tướng cướp, rồi về già mới ân hận, tác giả viết: “Thầy ơi! Tôi khổ quá. Đời tôi đầy rẫy sai lầm và tội lỗi. Đời tôi là một chuỗi dài thất bại. Tôi là một gã thợ săn tầm thường. Tôi săn thú rừng thì gặp tang thương và chết chóc. Tôi săn cái đẹp thì gặp mong manh và bội bạc. Tôi săn những cảm xúc mê li thì gặp phù du, giả tạo. Tôi săn tài sản thì gặp nỗi âu lo, sự phản trắc và nỗi hoang tàn. Tôi săn tìm sự bình an thì gặp bao điều bất trắc. Thầy thử nghĩ coi, tôi nên săn tìm thứ gì trên cõi đời vớ vẩn, đáng chán này nữa đây?”.
Gấp tiểu thuyết lại, trong thăm thẳm tâm tư tôi vẫn còn ăm ắp hình ảnh của Thầy Gotama và các đệ tử. Tôi hiểu rằng con đường trần gian sinh tử giống như một dòng sông luân lưu bất tận. Dưới mặt nước phẳng lặng kia ắt hẳn đầy những rong rêu, cặn bã. Họa chăng chỉ có Đạo là con đường giải thoát toàn triệt. Tôi xin mượn một đoạn văn trong tiểu thuyết để nói lên tâm trạng của mình khi nghĩ về cuộc đời lắm gian truân này: “Đời sống tựa hồ như dòng nước chảy trôi vào vô tận. Đó là một cuộc đi lang thang bất định, không ngừng. Ngày nào còn tiếp nhận nước bùn đục ngầu của sự u mê ám chướng và lòng say đắm thế tục thì ngày đó dòng đời còn trôi chảy mãi không thôi. Vòng luân hồi sinh tử chỉ chịu ngừng thật sự khi sự u mê và lòng say đắm ấy bị cắt đứt hoàn toàn bởi một nỗ lực thật phi thường. Nỗ lực đó trước hết phải là nỗ lực của chính chúng ta”.
T.M.N

Công dụng và ý nghĩa của những Thần chú

https://nguoiphattu.com/tu-hoc/mat-tong/6832-cong-dung-va-y-nghia-cua-nhung-than-chu.html

nguoiphattu.com - Những người hành trì Kinh Đại Thừa Phật Giáo đều có tụng các Thần Chú trong các thời khoá nhằm mục đích tiêu trừ nghiệp chướng oan khiên, thêm được phước lành tăng trưởng.
 Ý nghĩa chữ Thần Chú như trước đã giải thích là lời nói bí mật của chư Phật (Mật ngôn hay Phật ngôn), lời nói đặc biệt này chỉ có các đức Phật trong mười phương nghe biết mà nó không phải là thứ ngôn ngữ thường tình của các chúng sanh trong ba cõi sử dụng, cho nên những thứ ngôn ngữ này người phàm phu không thể nào hiểu rõ. Những ai muốn chư Phật, chư Bồ Tát trong mười phương gia hộ những khổ đau của cuộc đời chỉ cần hành trì Thần Chú được chỉ dẫn sẽ được linh ứng theo sở cầu.
Thần Chú của Mật Tông có nhiều loại và mỗi loại có công dụng riêng, nhưng các Thiền Gia trong các Thiền Môn chỉ chọn khoảng một số Thần Chú để sử dụng trong các buổi lễ như Cầu An, Cầu Siêu, Sám Hối, v.v... gồm có Thần Chú Lăng Nghiêm, Thần Chú Đại Bi và mười Thần Chú khác gọi là Thập Chú. Ý Nghĩa và công dụng các Thần Chú nói trên được giải thích như sau :
1)- Chú Lăng Nghiêm :
Công dụng của Thần Chú Lăng Nghiêm, theo Triết Lý Đạo Phật hay Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm trong Phật Học Phổ Thông Khoá VI và VII của Hoà Thượng Thích Thiện Hoa, trang 255 và 266 đức Phật nói : "Nếu người nào nghiệp chướng nặng nề không thể trừ được, ông (chỉ ông A Nan) nên dạy họ chí tâm trì chú Lăng-nghiêm này thì các nghiệp chướng đều tiêu diệt" và đức Phật nói tiếp : "Sau khi ta diệt độ các chúng sanh đời sau, nếu có người trì tụng chú này thì các tai nạn: thủy tai, hoả hoạn, thuốc độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, quỉ quái, v.v... đều chẳng hại được".
Chúng ta muốn đạt thành những ý nguyện cho cuộc sống được an lạc và thành quả trên con đường giác ngộ giải thoát thì phải chuyên cần hành trì thâm nhập Chú Lăng Nghiêm này để nhờ thần lực chuyển hoá. Điều đó chính đức Phật đã nói trong Kinh Lăng Nghiêm : "Ma Đăng Già là kẻ dâm nữ, không có tâm tu hành còn được thành quả Thánh, huống chi các ông là bậc Thanh văn, có chí cầu đạo vô thượng, lại trì tụng chú này, thì quyết định thành Phật rất dễ, cũng như thâu gió tung bụi, chẳng có khó gì."
2) - Chú Đại Bi :
Theo Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni giải thích : "Hồi đời quá khứ vô lượng ức kiếp, có đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời vì ngài Quán Thế Âm mà nói ra chú Đại Bi này. Lúc đó Ngài mới trụ bực Sơ Địa, sau khi nghe chú này rồi thì siêu chứng lên bậc Bát Địa liền, Ngài thấy hiệu nghiệm như vậy liền phát đại nguyện rằng: "Nếu qua đời vị lai có thể đem thần chú này ra làm lợi ích cho chúng sanh thì cho thân Ngài sanh ra ngàn cái tai ngàn con mắt," v.v...nguoiphattu.com
Ngài nguyện vừa xong thì quả nhiên tay mắt đều đầy đủ tất cả và lại được chư Phật Phóng quang soi đến thân Ngài, đồng thời soi khắp vô biên thế giới. Khi ấy Ngài lại phát nguyện nữa rằng : "Người nào nếu trì tụng chú này mỗi đêm 5 biến thì đặng tiêu hết những tội nặng sanh tử trong trăm ngàn vạn ức kiếp, đến lúc mạng chung thì có thập phương chư Phật hiện thân tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ. Bằng như người nào trì tụng chú này mà sau còn đọa vào ba đường ác và chẳng đặng sanh về cõi Phật hay chẳng đặng những pháp Tam Muội, chẳng biện tài, sở cầu không toại chí, nếu có mấy sự ấy, thì chú này không được xưng là Đại Bi Tâm Đà La Ni". Chỉ trừ những người tâm không thiện, chí không thành và lòng hay nghi thì không thấy hiệu nghiệm được liền mà thôi.
Theo Nhị Khoá Hiệp Giải của Hoà Thượng Thích Khánh Anh, trang 74 giải thích : "Thuở ấy, đức Quán Thế Âm rất kín nhiệm phóng ra hào quang lớn chiếu cả mười phương các cõi nước đều rực rỡ thành màu vàng ròng; rồi chấp tay bạch Phật rằng: Tôi có thần chú.... Đại Bi tâm Đà La Ni, nay tôi muốn nói ra để cho các chúng sanh đều đặng an lạc, vì nó có hiệu lực : tiêu trừ bệnh hoạn, tuổi sống lâu dài, thêm điều lành, dứt hết các tội, được toại tâm với sự mong cầu, nên được Phật hứa cho thuyết chú."
Đây là những sự linh ứng và diệu dụng của Thần Chú Đại Bi.
3)- Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni :
Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện nên Ngài bạch với Phật xin Ngài thuyết chú này. Những người trì tụng mà rõ được nghĩa thâm mật của chú này thì cái thắng lợi ấy cũng thí như cây như ý sanh ra những ngọc bảo châu như ý, tuỳ nguyện muốn cầu việc gì cũng được.
Lúc Bồ Tát thuyết chú này rồi, sáu chưởng chấn động, cung điện của Ma Vương đều nổi lửa cháy sợ hãi không cùng, các loài độc ác chúng sanh đều lăn nhào té ngã, còn những kẻ thọ khổ trong địa ngục và ngạ quỷ thì đều đặng sanh về cõi Trời.nguoiphattu.com
Người nào nhứt tâm trì tụng chú này thì các thứ tai nạn đều được tiêu trừ mà đến lúc lâm chung lại được thấy đức Phật A Di Đà và Ngài Quán Thế Âm tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ.
4) - Thần Chú Tiêu Tai Cát Tường :
Theo Kinh Tiêu tai Cát Tường : "Khi Phật ở tại từng trời Tịnh Cư nói với các thiên chúng cùng các vị quản lý 28 ngôi sao và 12 cung thần rằng : "Có chú Xí Thạnh Quảng Đại Oai Đức Đà La Ni" của Phật Ta La Vương đã nói hồi trước. Ta nay thuyết ra đây là pháp để trừ những tai nạn. Nếu trong Đế đô quốc giới có các vị đặc trách sao yêu tinh đến làm những điều chướng nạn, hay những vị đặc trách sao quan hệ bổn mạng của nhân loại có gì bất tường phải lập đạo tràng, rồi khắc ký mà niệm chú này 108 biến thì tai chướng tức thời trừ diệt hết."
5) - Thần Chú Công Đức Bảo Sơn :
Theo Viên Nhơn Vãng Sanh có dẫn chứng Kinh Đại Tập nói rằng : "Nếu người tụng chú này một biến thì công đức cũng như lễ Kinh Đại Phật Danh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến (45.400), còn như phạm tội nặng đang đọa vào địa ngục A Tì mà nhứt tâm trì tụng chú này thì trong lúc mạng chung chắc đặng sanh về bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh bên cõi Tịnh Độ mà đặng thấy Phật A Di Đà."
6) - Thần Chú Phật Mẫu Chuẩn Đề :
Câu chú này trích trong Kinh Chuẩn Đề. Bốn câu kệ đầu là : "Khể thủ quy y Tô tất Đế," v.v... cho đến "Duy nguyện từ bi thùy gia hộ" là của Ngài Long Thọ Bồ Tát. Trong bốn câu kệ :
* Câu đầu là nói về Pháp Bảo : câu hai là nói về Phật Bảo; câu thứ ba là nói về Tăng Bảo; câu thứ tư là nói mình xin nhờ ơn sự gia hộ của Tam Bảo.
* Khể thủ quy y Tô Tất Đế : nghĩa là cúi đầu quy kính Pháp Viên Thành (pháp nhiệm mầu). Chữ Tô Tất Đế : nguyên tiếng Phạn là Susidhi, Tàu dịch là Diệu Thành Tựu, nghĩa là một pháp có năng lực thành tựu được hết thảy sự lý và thành tựu đặng hết thảy tâm nguyện của chúng sanh rất mầu nhiệm.
* Đầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi (cu đê) : nghĩa là thành tâm đảnh lễ bảy trăm ức Phật. Chữ "Cu Chi" hay là "Cu Đê", nguyên tiếng Phạn là "Koti", Tàu dịch là bách ức, nghĩa là trăm ức; cho nên trên đây nói "thất cu chi" tức là số bảy trăm ức vậy.
* Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề : nghĩa là con nay xưng tán đức Đại Chuẩn Đề. Chữ "Chuẩn Đề", nguyên tiếng Phạn là "Candi", Tàu dịch có hai nghĩa : 1) Thi Vi, 2) Thành Tựu.
Thi Vi : nghĩa là lời nguyện rộng lớn đúng nơi lý và dùng đại trí để dứt vọng hoặc, vì đủ các nhơn hạnh để ra làm việc lợi tha cho chúng sanh, nên gọi là Thi Vi.
Thành Tựu : nghĩa là từ nơi pháp không mà hiện ra pháp giả rồi thành tựu đặng pháp tịch diệt.
Sở dĩ Chú này xưng là "Phật Mẫu Chuẩn Đề" là nói : Pháp là thầy và thiệt trí, là mẹ của chư Phật, cho nên bảy trăm ức Phật đều dùng pháp "Chuẩn Đề Tam Muội" mà chứng đạo Bồ Đề.
Trong kinh Chuẩn Đề nói rằng : Khi Phật ở vườn Kỳ Đà vì có tứ chúng bát bộ đông đủ, Ngài nghĩ thương những chúng sanh đời mạt pháp sau này, tội dày phước mỏng, nên mới nhập "Chuẩn Đề Định" mà thuyết thần chú như vầy:nguoiphattu.com
Nam Mô Tát Đa Nẩm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha, Án, Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề, Ta bà Ha.
Phật nói : Nếu trì chú này mãn chín mươi vạn (900.000) biến thì diệt trừ được các tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng; cho đến nhà thế tục chẳng luận tịnh hay uế, chỉ cần chí tâm trì tụng, liền được tiêu trừ tai nạn bệnh hoạn, tăng trưởng phước thọ. Khi tụng mãn 49 ngày, Bồ Tát Chuẩn Đề khiến hai vị Thánh thường theo người ấy hộ trì.
Nếu có người hoặc cầu mở trí tuệ, hoặc cầu chống tai nạn, hoặc cầu pháp thần thông, hoặc cầu đạo Chánh Giác, chỉ y theo pháp thiết lập đàn tràng, tụng đủ một trăm vạn (1.000.000) biến thì đặng đi khắp mười phương Tịnh Độ, phụng thờ chư Phật, nghe cả diệu pháp mà được chứng quả Bồ Đề.
7) - Thần Chú Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni :
Chú này trích trong Kinh Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà La Ni. Kinh ấy nói : "Đức Thích Ca Thế Tôn nghĩ thương chúng sanh đoản mạng trong đời vị lai, muốn cho thêm được thọ số, hưởng được hạnh phúc, nên Phật nói với Đại Trí Huệ Diệu Cát Tường Bồ Tát rằng: những nhơn loại ở trong cõi Diêm Phù Đề này thọ mạng chỉ đặng trăm tuổi, mà ở trong số đó lại có phần đông người tạo lắm điều ác nghiệp nên bị tổn đức giảm kỷ thác yểu chết non. Nếu như nhơn loại thấy đặng chú này, hoặc biên chép, hoặc ấn tống, hoặc thọ trì đọc tụng thì lại tăng thọ mạng sống ngoài trăm tuổi và qua đời sau mau chứng quả Bồ Đề."
8) - Thần Chú Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn :
Thần chú này được trích ra từ nơi Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức. Theo như trong kinh, đức Thích Ca Như Lai nói nếu có chứng bệnh gì mà cứ nhứt tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống vào thì các bệnh đều lành.
Còn như những người mà trọn đời thọ trì chú này thì đặng khỏi bệnh tật và được sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sanh về cõi Tịnh Lưu Ly. Nhưng phải biết rằng : chú này được gọi là "Quán Đảnh" là nói chú này do nơi đảnh quang của Phật mà thuyết ra. Người nào nếu thọ trì đọc tụng chú này mà đặng thanh tịnh ba nghiệp (thân, miệng, ý) thì hào quang Phật chiếu ngay đến nơi đảnh môn của người trì tụng ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy.
Nên biết ánh quang của Phật khác hơn ánh quang của ma, nguyên vì ánh quang của ma thì chói loà khiến cho người ta sợ hãi, còn ánh quang của Phật thì mát mẻ và làm cho ta vui mừng. Vậy ai là người thọ trì chú này hoặc niệm Phật cần phải phân biệt rõ hai cái ánh quang nói trên. Chớ đừng thấy ánh quang của ma lập lòe trước mắt như ngoại đạo nhìn nến, như kẻ nhìn nhang kia mà nhận lầm cho là thấy tánh.
9)- Thần Chú Quán Âm Linh Cảm Chơn Ngôn :
Đức Quán Thế Âm có lòng Đại Bi rất tha thiết, bi nguyện của Bồ Tát rất thâm sâu, công đức độ sanh của Bồ Tát lan rộng khắp mười phương. Người nào thành tâm trì tụng chú này thì liền được lòng Đại Bi của Bồ Tát chắc chắn ủng hộ.
10) - Thần Chú Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn :
Chú này được trích ra từ trong kinh Đại Phương Đẳng Đà La Ni. Kinh này nói : "Ngài Văn Thù Sư Lợi nghĩ thương về sau đến đời mạt pháp các chúng Tỳ Kheo phạm tội Tứ Trọng và các chúng Tỳ Kheo Ni phạm tội Bát Trọng thì làm sao mà sám hối đặng, nên mới cầu Phật chỉ rõ phương pháp. Lúc ấy Đức Thích Ca Như Lai mới thuyết ra chú này; vì chú này là chú của bảy vị Phật đời trước thường nói, rất có oai lực làm diệt hết các tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch mà đặng phước vô lượng".nguoiphattu.com
Tứ Trọng, Ngũ Nghịch là tội rất nặng, nếu không phải cách sám hối vô sanh thì tưởng không thể nào tiêu diệt cho đặng. Nhưng vì thần chú này là bảy vị Phật đời trước xứng tánh thuyết ra, cho nên những người trì tụng niệm niệm cũng phải xứng tánh để đặng lý vô sanh thì tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt, cũng như nước sôi đổ vào tuyết thì tuyết liền bị tan biến ngay lập tức.
11) - Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ :
Thần chú này được trích từ trong kinh Bạt Nhứt Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni. Thần chú này có công dụng diệt được các trọng tội như : tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch, Thập Ác, Hủy Báng Chánh Pháp. Người nào nếu y pháp mà chí tâm trì tụng chú này thì Đức Phật A Di Đà thường trụ ở nơi đảnh đầu người ấy luôn cả ngày đêm mà ủng hộ, không cho oan gia thừa tiện nhiễu hại, trong lúc hiện thế đặng an ổn và đến khi mạng chung được vãng sanh Tịnh Độ.
Cách thức hành trì, Trước khi trì tụng chú này, hành giả phải tắm rửa, súc miệng cho sạch sẽ, ngày đêm sáu thời, thắp hương lễ Phật, quì gối trước bàn thờ, chấp tay cung kính trì tụng mỗi thời tối thiểu 21 biến thì được linh ứng và hoặc trì tụng được ba vạn (300.000) biến thì được thấy đặng Phật A Di Đà thọ ký.
12) - Thần Chú Thiện Thiên Nữ :
Thần chú này được trích từ trong kinh Kim Quang Minh. Trong kinh Kim Quang Minh nói rằng : "Nếu chúng sanh nghe nói chú này mà một lòng thọ trì đọc tụng hương hoa cúng dường thì những thứ thọ dụng như vàng, bạc, châu báu, trâu dê, lúa thóc đều đặng đầy đủ hết thảy".
VI.- TỔNG KẾT :
Nên để ý các Kinh Chú của Phật để lại trong Đại Tạng thì rất nhiều, đa dạng theo mỗi vị Phật trình bày mỗi cách qua kinh nghiệm tu tập của mình. Các Thiền gia thời xưa qua kinh nghiệm của họ rút ra trong Đại tạng một số Kinh Chú theo nhu cầu phổ thông chẳng những cho quần chúng mà cho cả người xuất gia trong thời mạt pháp nghiệp trọng phước khinh ma cường pháp nhược này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để trì tụng là của những vị Phật, những vị Bồ Tát rất quan hệ với các chúng sanh nơi cõi Ta bà ngũ trược ác thế này. Còn các Kinh Chú khác của các vị Phật hay của các vị Bồ Tát khác chỉ quan hệ nhiều với các chúng sanh trong các cõi khác không có ngũ trược ác thế như cõi Ta Bà này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để hành trì có những mục đích như sau :nguoiphattu.com
1)- Những Kinh Tụng nêu trên ngoài sự Tu Huệ của hành giả và còn nhờ sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ giúp hành giả sớm hoàn thành hạnh nguyện đạt đạo.
2)- Còn các Kinh khác nhằm tu tập bao gồm Văn Huệ, Tư Huệ và Tu Huệ trong lãnh vực tự độ và tự giác mà không cần sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ, được gọi là tự lực cánh sinh.
3)- Các Thần Chú nêu trên mà các Thiền gia chọn lựa được rút ra trong các Kinh Tạng của chư Phật chỉ dạy để các hành giả hành trì ngõ hầu đạt được ý nguyện mà không bị phân tâm, không bị loạn tưởng, không bị tẩu hoả nhập ma.
4)- Còn các Thần Chú khác một số không thấy trong các Kinh Phật mà chỉ thấy trong Mật Tông nếu như hành trì mà thiếu sự hướng dẫn chơn truyền qua sự kinh nghiệm của những người đi trước thì sẽ bị nguy hiểm phân tâm, loạn tưởng, tẩu hoả nhập ma.
Các Thiền gia Việt Nam cũng chọn những Kinh những Chú đã được liệt kê ở trước ngoài những mục đích và ý nghĩa vừa trình bày còn có mục đích khác là thể hiện văn hoá Phật Giáo Việt Nam mà các Thiền gia Việt Nam đem sự đạt đạo xây dựng quốc gia. Nhìn theo Văn Hoá Phật Giáo Việt Nam, Nhị Thời Khoá Tụng mà các Thiền gia Việt Nam thường sử dụng trong khoá lễ hằng ngày dành cho các Thiền sinh hành trì, ngoài sự tu tập để chứng đắc và còn tiêu biểu cho ba hệ phái Thiền đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực văn hoá trải dài hơn 2000 năm lịch sử. Điều đó được thấy như :
a)- Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia Việt Nam trên lãnh vực thuần tuý thiền tập.
b)- Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thiền Mật Tổng Hợp.
c)- Thiền Phái Thảo Đường đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thi Ca và Nghệ Thuật.
d)- Thiền phái Liễu Quán đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thiền Tịnh Song Tu. Từ những ý nghĩa và giá trị này, chúng ta là người Việt Nam không nên xem thường Nhị Thời Khoá Tụng mà Thiền gia Việt Nam đã chọn và cũng chứng minh rằng các Thiền gia Việt Nam nhờ Nhị Thời Khoá Tụng này được chứng đắc, cho nên mới để lại cho hậu thế hành trì./.