Monday, January 2, 2017

TONE SUR TONE


MÁCH BẠN CÁC KIỂU TẠO PHONG CÁCH TONE SUR TONE ĐẸP MẮT


CA DAO

http://e-cadao.com/cadaosearchNEW.asp?Letter=T

Ngừoi tình đầu tiên Người yêu cúoi cùng.

Tess of the D'Urbervilles (1998) Angel and Tess scene

Hell on Earth Koh Kra

Koh Kra after dawn

Những vần thơ ghi lại 3

1
Thấy mình lạc mất lối ra
Có người nhường chỗ nấp vào nhà nha!
Nín thinh, chờ đợi, ngóng nghe
Vang câu cười nói tiếng người râm ran
Có đâu chẳng chốn dung thân
Ong hoa bướm nguyêt cớ sao vương vào!
Giật mình nhè nhẹ đi ra
Thở phảo giấc mộng tay ba nhạt nhòa..

2
Con đường vắng dẫn ra ngõ vắng
Chuyến xe này chưa hẳn bến dừng
Thẩn thờ tiu nghỉu vấn vương
Trở về nơi cũ đời thường đa mang

3
Có ai nhắn có ngừoi đang đợi
Vẫn âm thầm chờ đợi lâu nay
Dùng dằng xoay trở trở xoay
Tuổi xuân nghiêm chỉnh đổi thay xế chiều


Nhịp đập nhanh chi tim ta ơi.
Nhẹ giùm gỡ bớt sợi tơ rơi
Trải bao Hỉ Nộ Sầu Bi Lạc
Nếm đủ Buổn Vui Tiếu Lả lơi...
Dồn dập buồn thương câu tiếp đón
Diết da nỗi nhớ tiếng gọi mời
Tim ơi nhẹ bước vào đêm mộng
Thao thức hoài chi mặc kệ Đời.

Gấm vóc sơn hà dãi lụa là
Tết đến tưng bừng pháo với hoa
Mai vàng e-ấp cười trong nắng
Pháo đỏ rộn vang phố với nhà

Giọt nắng chiều nay hẩy gió Đông

Bông vàng cỏ mượt ngọn rung rinh

Bông vàng xen lẫn cỏ xanh

Óng ả ban trưa giọt nắng vàng

Đợt nắng hanh hanh óng ả vàng

Rung rinh ngọn cỏ nụ hoa lan
Bông vàng xen lẫn màu xanh cỏ
Nắng ửng hây-hây nẩy nụ xoan

Trưa êm ả ngồi hong gió mát

Tiếng chim kêu khúc nhạc lao xao
Plum non trái trổ như cau
Thân nâu lá thẫm một màu xanh xanh
Nhè nhẹ rớt nhành rơi lá úa
Chồi non cao nhô tủa quanh cây
Cuối năm lá trổ trái dầy
Chùm plum chín mọng cây gầy đung đưa...

Im thinh chịu đựng cũng lâu rồi

Tức nước tràn đê cũng vỡ thôi
Mẹ trẻ xa con đời nhịn nhục
Con thơ hờn giận mẹ đành thôi...

Cọng cỏ nhô cao tựa cánh cò

Trơ trơ căp mắt mỏ dài to
Như người nhạc trưởng vung tay vẩy
Lả lướt thân mềm ngọn gió lay

Trận gió đong đưa chợt ngưng im

Cánh cò cọng cỏ chợt im giấc nồng

Ô kìa gió lại cùng mưa

Mùa đông ngọn cỏ thỏang đưa nhạc tình.
~10am 15AugMon

Lúc nào cũng thích nằm

Tính khí lại trầm ngâm
TÌnh trao đi thăm thẳm
Nhận lại chỉ âm thầm.

Bông dại trắng

Giữa một màu xanh một điểm tròn
Ban mai nắng hửng nụ bông non
Lặng thinh đóa dại hong màu nắng
Xanh nhụy thân nhung lá phủ tròn
Gai nhọn nâu mờ chìm lẩn khuất
Màu nhung trắng đục phủ thân thon
Cành hoa lả tả là đà lượn
Mặc cánh hoa rơi dạ sắt son
~10:48am

Cuộc gọi đêm qua nửa tiếng trôi

Reo vui giọng mẹ đáp lời tôi
Từ khi gác trệt giường kê lại
Giấc ngủ say nồng chẳng đứt đôi
Cái máy kê chân đêm ngủ khỏe
Tiền vào đã xuất tội con tôi
Cầu mong mẹ khỏe vui con cháu
Thảo lảo dâng lên mẹ phước bồi
23AugWed ~12.08 noon

Hợi nhật văn chương chẳng có thơ

Năm Mèo tháng Khỉ chẳng ra thơ
Vài câu Lục Bát cho rôm rả
Chẳng đợi Đường thi chỉ lơ mơ
Giục giã bạn hiền thơ với thẩn
Dầu rằng sự thực chẳng ưa thơ
Ngợi khen khích lệ người cầm bút
Viết vội vài câu để lại Đời
~15:41pm
24Aug2011 Wed

Làn da trắng mịn chẳng hoen nhơ

Tiêu chuẩn xanh tươi có tự giờ
Rối lọan màu xanh thay sắc trắng
Chàm đen sắc tố mạc dần mờ
Trửơng thành sao còn vương nghiệp lạ!
Phát hiện bẩm sinh tuổi nhỏ khờ
Ngày nay thẩm mỹ đà phát triển
Cởi lớp chàm xanh đẹp như mơ
15.58
24AugWed

Nhịp tim đập dập dồn

Biết phải làm sao hơn?
Tuần cà phê đã giảm
Tim vẫn nghe bồn chồn..

Trai chưa vợ lấy nàng bảy lứa

Sợi tơ hồng cột lựa trái ngang
Đường hòang cưới hỏi rình rang
Dây chuyền vòng xuyến hột xòai bông tai
Ru bi hột đỏ phai trà nhạt
Lúc hết tiền gỡ gạc cầm nhờ

Cô Mười Quẻ "Duyên tình đã mở"

Lấy trai tơ Nhât thợ Nhì thầy
Lòng thành ứng Quẻ người đây
Duyên tình gặp gỡ nơi này Mỹ Ca.
Đón đường chặn hỏi nhà, quê quán?
Biết ra điều - thanh thản tơ lòng
Cô này chồng chết giờ Yêu
Lấy người có vợ thêm Yêu sáu lần.
6NovMon At Night

Đứa con gái nghiệp dầy phước mỏng

Sống cô đơn mong ngóng tâm giao
Đâu cần nhiều nhặng lao xao
Mọt người hiểu dạ dâng trao tấc lòng
Éo le chẳng gặp ai bày tỏ
Đêm dầu hao thân đó tâm đâu?
Đêm nằm thao thức âu sầu
Bật cười nghiệm rõ Đẩu Quả một đời độc thân

Vừa kỷ niệm 50 năm hôn ước

Ly ruợu thơm còn đượm huơng nồng
Người đi kẻ ở đau lòng
Nghĩa vợ tình chồng giọt châu sa
Biết bao lượt mâm hoa đào nguyệt
Giọt sầu gieo to nhỏ muôn nơi
Yêu chàng thiếp vẫn guợng cười
Mượn nhang thánh chúa về nơi Vĩnh Hằng
Tặng cô Thanh Giang
(vợ thầy S)
Sat Nov2011 ~9am

Bé nằm luôn miệng hỏi cha đâu?

Phụ tử tình thâm quấn quít nhau.

Mơ

Nắm lấy bàn tay khẳng định răng
Nghiệp duyên tâm bệnh vần hòai mang
Mơ màng giấc điệp người trong mộng
Thức dậy ngỡ ngàng ngựong nghịu mang
Tiềm thức con nguơi sao lấn cấn
Chiêm bao tâm tưởng thật hoang đàng
Tôi vừa mơ thấy ai đây nhỉ?
Thần thức trong mơ tội lỗi chăng?
~23pm
7AugNovTues.

Nụ cười bé thơ sao rạng rỡ

Miệng cười môi mắt ngỡ cười theo
Nhìn vào ánh mắt trong veo
Ngây thơ thánh thiện  
Đi một đỗi ngóai đầu ngó lại
Vẫn thấy em ngoắc ngóai ngón tay
Ngỡ mình trẻ lại trẻ hòai
Nụ cừoi tiếp sức xõay dài buớc chân..
7NovMon

Sao em biết tôi nhìn mà lần tay kéo cao cổ (áo)

Bởi cái nhìn không làm sao che giấu
Nên mãi cúi nhìn ánh mắt trốn đi đâu?
(dựa theo ý "nhớ nghe em" của....

Vừa Đủ
Chím kêu ríu rít ngoài sân nắng
Vài giòng bầu vừa giặm sáng nay
Cà phê thơm nức vừa xay
Sơn tra Kỷ tử chát thơm vị trà
Cơm mới nấu vừa nhai vừa thổi
Gạo trong thùng một đọi vừa đong
Chim kêu chiếp chiếp gọi mong
Biết vừa hiểu đủ thong dong tháng ngày.

Hòang đế Lê Long Đĩnh Oan hay Ưng?

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=1163.0

Tác giả: Hoàng Hải Vân
Nguồn: Thanhnien.com.vn

Trong tâm trí người Việt Nam, Lê Long Đĩnh là ông vua xấu xa đồi bại nhất trong lịch sử dân tộc. Có phải như vậy không?

Ông vua bị “đóng đinh” trong lịch sử

Học giả Trần Trọng Kim đã đúc kết toàn bộ sự nghiệp của ông vua cuối cùng nhà tiền Lê - Lê Long Đĩnh bằng một đoạn sau đây trong Việt Nam sử lược: "Long Đĩnh là người bạo - ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa.

Khi đã giết anh rồi, lên làm vua thường cứ lấy sự giết người làm trò chơi: có khi những tù phạm phải hình, thì bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đốt sống; có khi bắt tù trèo lên cây rồi ở dưới sai người chặt gốc cho cây đổ; có khi bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông.

Làm những điều ác như thế thì lấy làm thích chí. Một hôm lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh - thoảng giả tảng nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu ra, trông thấy thế làm vui cười. Còn khi ra buổi chầu, có ai tấu sớ điều gì thì cho những thằng hề nói khôi - hài hay là nhại tiếng làm trò.

Long Đĩnh làm vua được 2 năm đổi niên -hiệu là Cảnh - thụy (1008-1009). Sang năm sau là năm Kỷ - Dậu (1009) thì mất, làm vua được 4 năm, thọ 24 tuổi.

Vì lúc sống dâm-dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Ngọa-triều".

Việt Nam sử lược là cuốn sách lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, được biên soạn rất công phu, giá trị lớn nhất của nó là hệ thống lại toàn bộ lịch sử nước nhà (cho đến thời Pháp thuộc) một cách súc tích, dễ hiểu, bởi vậy đây là cuốn sách lịch sử được phổ cập rộng lớn nhất trong thế kỷ 20. Nhiều thế hệ người Việt Nam tiếp cận một cách hệ thống lịch sử nước nhà chủ yếu thông qua cuốn sách này. Với đoạn sử phổ cập đó, Lê Long Đĩnh được "đóng đinh" trong tâm trí người Việt Nam là ông vua gian ác đồi bại nhất trong lịch sử. Tất cả các sách giáo khoa lịch sử từ đó đến nay cũng đều mô tả Lê Long Đĩnh đúng như vậy.

Nhưng đoạn viết về Lê Long Đĩnh trong Việt Nam sử lược và trong các sách giáo khoa lịch sử sau này, là lược chép lại từ Đại Việt sử ký toàn thư và một số cuốn sử cũ khác viết bằng chữ Hán. Mà Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lê Long Đĩnh không chỉ có như vậy.

(xem tiếp phần sau)

 Logged

To see a World in a Grain of Sand         
And a Heaven in a Wild Flower,             
Hold Infinity in the palm of your hand   
And Eternity in an hour

VPA
Thành viên
*
Bài viết: 65



WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2008, 06:08:41 PM »

Người đầu tiên thỉnh kinh Phật về nước

Trong một lần trao đổi về lịch sử Phật giáo, một vị thiền sư nhắc chúng tôi, rằng Lê Long Đĩnh là ông vua đầu tiên cử người đi lấy kinh Đại Tạng cho Phật giáo, rằng sư Vạn Hạnh, thiền sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu cũng như các cao tăng khác thời đó đều được Lê Long Đĩnh rất trọng vọng... Nghe quá lạ so với những gì mà mình được học, tôi lần giở những trang sử có liên quan đến Lê Long Đĩnh.

Trong Việt Nam Phật giáo sử lược (in lần đầu năm 1943), thiền sư Thích Mật Thể viết: "Niên hiệu Ứng Thiên thứ 14 (1008), sau khi nước ta đã hòa với Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa, cống hiến đồ thô sản và xin vua Tống ban cho bộ "Cửu kinh" và "Đại Tạng kinh". Vua Tống trao cho những bộ ấy và cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu  tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa vậy".

Do nhầm lẫn hoặc cũng có thể do ghét Lê Long Đĩnh, thiền sư Thích Mật Thể đã viết đoạn này không đúng, vì Lê Đại Hành mất năm 1005. Lê Long Đĩnh làm vua từ năm 1006 và đến năm 1008 vẫn giữ niên hiệu Ứng Thiên của vua cha. Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: "Đinh Mùi/Ứng Thiên/năm thứ 14 [1007], (Vua vẫn dùng niên hiệu Ứng Thiên; Tống Cảnh Đức năm thứ 4). Mùa xuân, (vua Lê Long Đĩnh) sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng". Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng chép: "Đinh Mùi, năm thứ 14 (1007)...  Nhà vua (Lê Long Đĩnh) sai Minh Xưởng và chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã đem con tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biểu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng. Nhà Tống ưng thuận cho cả". Như vậy "lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa" chính là do vua Lê Long Đĩnh.

"Cửu kinh" gồm Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ là 9 bộ sách vĩ đại nền tảng của văn minh Trung Hoa lần đầu tiên "nhập" vào nước ta là do Lê Long Đĩnh lấy về. Còn kinh Đại Tạng là gì ? Đó là Đại Tạng Kinh chữ Hán - bảo vật vô giá của Phật giáo và của văn hóa thế giới. Bộ sách đó, theo lịch sử Phật giáo, là một bộ sách vĩ đại được rất nhiều thế hệ các cao tăng Trung Hoa vượt qua biết bao gian truân khổ ải dày công thu thập, sưu tầm và dịch thuật suốt 1.000 năm, từ thế kỷ thứ nhất đến cuối thế kỷ thứ 10 (đời Tống Thái Tổ) mới in thành sách lần đầu tiên gồm 5.000 quyển (riêng việc khắc bản phải mất 12 năm). Bộ sách đó không chỉ là tổng vựng các kinh sách Phật giáo mà còn hàm chứa rất nhiều lĩnh vực triết học, lịch sử, văn học, nghệ thuật, thiên văn, toán học, y dược... Một ông vua lần đầu tiên biết đem những di sản vĩ đại như vậy về nước để xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc, liệu có thể gọi là hôn quân?  Và một ông vua đã trực tiếp sai em mình đi xin kinh sách về cho Phật giáo, ông vua đó có thể nào "lấy mía để trên đầu nhà sư mà róc" ?

“Tư duy kinh tế”

Lê Long Đĩnh là ông vua biết chỉnh đốn triều chính. Một năm sau khi lên ngôi ông đã "Sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống" (theo Đại Việt sử ký toàn thư). Nhưng không chỉ có vậy. Đại Việt sử ký toàn thư còn chép: "Kỷ Dậu, /Cảnh Thụy/ năm thứ 2 (1009) ...Vua (Lê Long Đĩnh) lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu, nhưng vua Tống chỉ cho mua bán ở chợ trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng thôi". Thế kỷ thứ 11, không chỉ nước ta mà hầu khắp thế giới, kinh tế đều tự cấp tự túc. Phải có một "tư duy kinh tế" vượt xa thời đại mới biết "xin đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu", tức là sâu trong nội địa Trung Quốc, việc đó giống như việc đặt Văn phòng đại diện thương mại ở nước ngoài bây giờ. "Tư duy kinh tế" đó mãi mấy trăm năm sau mới được biết đến ở phương Tây. Một hôn quân có nghĩ ra được điều này không ?

Đại Việt sử ký toàn thư chép tiếp: "(1009)... Vua đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thế vua sai người bơi lội qua lại đến ba lần, không hề gì. Xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại".  Cũng trong năm 1009: "Bọn Ngô đô đốc, Kiểu hành hiến dâng biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung" (sách đã dẫn). "... Đến Hoàn Giang, sai Phòng át sứ là Hồ Thủ Ích đem hơn 5 nghìn quân của châu Hoan Đường, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp đến cửa biển Nam Giới để quân đi cho tiện" (sách đã dẫn).

Rõ ràng chỉ mấy tháng trước khi chết (Lê Long Đĩnh chết vào tháng 10 năm đó), Lê Long Đĩnh còn chăm lo việc đào kênh, mở mang đường sá và đến tận nơi xem xét rồi xuống chiếu đóng thuyền bè đi lại cho dân. Một ông vua suốt ngày ham mê tửu sắc không đi lại được đến mức phải "ngọa triều", ông vua đó có thể làm được những chuyện có ý nghĩa như vậy không ?

(xem tiếp phần sau)
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Hai, 2008, 06:45:52 PM gửi bởi Tunguska » Logged

To see a World in a Grain of Sand         
And a Heaven in a Wild Flower,             
Hold Infinity in the palm of your hand   
And Eternity in an hour

VPA
Thành viên
*
Bài viết: 65



WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2008, 06:09:42 PM »

Không ngồi được sao 6 lần cầm quân đánh giặc?

Ngoài những chuyện lớn nói trên, Lê Long Đĩnh còn nhiều lần cầm quân dẹp giặc. Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, ngay trong năm đầu tiên làm vua: "Ngự Bắc Vương cùng Trung Quốc Vương chiếm trại Phù Lan làm phản. Vua thân đi đánh". Tiếp đó: "... đem quân đánh Ngự Man Vương ở Phong Châu. Ngự Man Vương phải chịu hàng... Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả" (sách đã dẫn).  Và giữa lúc đánh trại Phù Lan "chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Đầu (nay là cửa biển Thần Phù). Vua về đến sông Tham đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long" (sách đã dẫn).

Năm đó Lê Long Đĩnh 3 lần thân chinh dẹp loạn. Năm 1008 "Vua thân đi đánh hai châu Đô Lương, Vị Long" (sách đã dẫn). Tiếp đó "lại tự làm tướng đi đánh Hoan Châu và châu Thiên Liễu" (sách đã dẫn). Và tháng 7 cùng năm "vua thân đi đánh các châu Hoan Đường, Thạch Hà" (sách đã dẫn). Như vậy là chỉ trong 4 năm làm vua, Lê Long Đĩnh đã 6 lần trực tiếp làm tướng cầm quân ra trận, lần cuối cùng chỉ cách 2 tháng trước khi ông mất. Cầm quân đánh giặc liên miên như vậy phải là một người cường tráng, người "dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được" sao có thể làm nổi ?

Sự thật hay lời đồn?

Về chuyện Lê Long Đĩnh giết anh để lên làm vua cũng cần xem xét. "Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Sách Dã sử chép rằng: Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung Tông vì anh em cùng mẹ không nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông." (sách đã dẫn). Chúng ta thấy gì trong đoạn này? Thứ nhất, chuyện này Đại Việt sử ký toàn thư chép lại từ "Dã sử". Dã sử có thể tin được nếu có căn cứ để đối chiếu hoặc nó hợp logic, nếu không nó chỉ có giá trị như một lời đồn. Thứ hai, đã là dã sử mà còn nói "Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông". Quy cho người khác tội chủ mưu giết người thì phải có chứng cứ. Ai làm chứng và tài liệu nào chứng minh việc Lê Long Đĩnh "sai bọn trộm cướp"? Chắc chắn là không có ai cả và không có bất cứ tài liệu nào. Một lời đồn đã là không có cơ sở, một lời đồn nói về một việc không thể có chứng cứ càng không có cơ sở.

Vả lại, theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục: “Khi vua Long Việt bị giết, bầy tôi đều chạy trốn cả, chỉ có Điện tiền quân Lý Công Uẩn ôm thây vua mà khóc. Long Đĩnh cho là trung nghĩa cất lên làm chức Tứ sương quân phó chỉ huy sứ”. Giết vua, giết anh là bất trung bất nghĩa. Kẻ bất trung bất nghĩa khó mà trọng dụng được người trung nghĩa. Vì vậy việc Lê Long Đĩnh giết anh chỉ nên coi cùng lắm là một "nghi án" mà thôi, không nên đem ra làm một sự thật dạy cho học trò. Cũng như cái chết của Lê Long Đĩnh, Ngô Thì Sĩ chép trong Đại Việt sử ký tiền biên như sau: "Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương (tức Lê Long Đĩnh), nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên sử không được chép". Lời đó của Ngô Thì Sĩ chúng ta chưa bao giờ coi là sự thật cả, sao lại coi việc Lê Long Đĩnh giết anh là sự thật ?

Head Massage

Chinese Girl powerful Head Massage - ASMR video