Thursday, January 20, 2011

Hội Họa


Con được Mẹ họa tâm. Quên được cái Ta của con thì vào được Tâm Mẹ họa, tức Tâm Mẹ truyền cho.

Hội họa là tướng của Mỹ, quan sát Mỹ như thế nào thì bức họa tả như thế ấy. Nếu con không quan sát mỹ mà để mỹ hóa hiện thành họa phẩm thì con sẽ thấy tất cả vũ trụ này là hiện thân của cái đẹp tòan diện, vì tất cả vũ trụ tuân theo một quy luật hài hòa, cân đối, tuyệt vời. Con có biết chăng? Từng hạt bụi cũng có chỗ đứng của nó, cũng có số phận, cũng có bắt đầy và chấm dứt; hay nói khác đi, cũng không có bắt đầu, hiện diện và không cả diệt vong. Thế thì con vẽ gì đây? Vẽ các sự vật thật có, hay không thật có? Nếu thật có thời nhận định của mọi người về một vật đều giống nhau, nếu không thật có thì lẽ ra không một ai có nhận biết. Vậy khi vẽ thế giới là con họa tâm của con đó; mà tâm ấy thì huyễn vô cùng. Thế thì lấy gì để nhìn thế giới? Lấy Tánh Không mà nhìn, và Tánh Không chẳng cần phải luyện tập mới có, đó là bản tánh của muôn vật.

Một con ong không nhìn thấy vẻ đẹp của bướm, bướm không nhìn thấy vẻ đẹp của hoa như con tưởng, vì mang nặng thành kiến của lòai người, mà hoa chỉ là thức ăn. Và chính con, con đâu nhìn thấy cái đẹp của côn trùng. Con mang ảo tưởng về thân người của mình, tận đáy lòng vẫn chưa chấp nhận sự thật là không có gì khác nhau giữa con và một con kiến, con mèo, cây cỏ...Chỉ có sự khác biệt về nghiệp qủa; mà nghiệp quả thì không thừơng hằng. Con không thích nghe tiếp (thì) đó là Ngã đấy, mà Ngã là bất bình đẳng.

Con có cái nhìn buộc tội mọi người, đó là bất bình đẳng. Con có ưa thích (riêng), đó là bất bình đẳng. Thế thì làm sao thấy vẻ đẹp thật được mà họa? Bất bình đẳng là căn bệnh tàn phá vũ trụ. Ta thương (các) vi sinh “đục khóet” những cơ thể “lành mạnh” đồng với một người nói Pháp. Vi sinh vật ấy không “nghiến răng gặm nhắm sức khỏe con người”, mà đó là những chúng sinh nghiệp căn quá nặng phải hóa sanh trong lòai ấy, phải sống trong môi trường ấy, hòan tòan vô tội về nơi ở của mình, bởi vì chúng không có ý chọn nơi. Nếu chúng cảm được cái khốn cùng của kiếp sống ấy, chúng sẽ tu. Và chính chư Phật cùng chư Đại Bồ Tát dùng Viên Âm độ chúng nên gọi Phật và Bồ Tát là Y Vương cũng vì thế: trị lành bệnh của muôn lòai. Cả chấy, rận...cũng thế, khi phát tâm tu, nghiệp dứt, chúng không còn bị đọa trong kiếp ấy, nên hóa sanh vào một thân tướng khác, không còn phải sống bằng máu.

Điều ấy con phải hiểu, giải thích cho con rõ vì sao có người phát tâm tu thì gặp hiểm nạn: Phát tâm (tu) là một việc làm rất kinh khủng đó là sức mạnh thu nhiếp thời gian, sức mạnh vượt qua sinh tử, thu bao nhiêu kiếp vào làm  một, sức mạnh của người lội ngược dòng, sức mạnh của người chiến đấu với chính mình, sức mạnh của thiên nhiên. Đó là cái năng lực phi thường biến chúng sanh thành Phật.

Cho nên vẽ là một phương pháp hữu vi, tả, chỉ...Lột được sự thật ấy, cái bản chất, cái hình dáng thật ấy của mọi vật, thay vì uốn nắn giả tướng thêm theo ý mình.

Con có thấy “Tình yêu làm người ta rạng rỡ” như con người vẫn tả không? Đó là vì khi thương yêu nhau thật sự, con người quên mình, chỉ nghĩ đến làm điều tốt đẹp cho nhau, bỏ đi những vụn vặt. Tóm lại, đó là biến tướng của Từ Bi Hỷ Xả qua cửa ngỏ ái dục. Điều đó cho con rõ cái đẹp không nằm ở kích thước.
Trong cách nhìn người khác, con thường chỉ nhìn với nhục nhãn, chỉ thấy họ tiếp cận với mình trên một mặt phẳng: tâm trạng của người ta trong lúc ấy, rồi sinh buồn, vui, lo sợ...Đó là chấp huyễn. Hãy nghĩ! Vô lượng kiếp về trước hay vô lượng kiếp về sau, người kia trong hòan cảnh này sẽ xử trí với con ra sao? Cả con cũng thế, vô lượng kiếp về trước và vô lượng kiếp về sau con phản ứng như thế nào với hòan cảnh trên?

Mọi vật biến hiện vô chừng, tâm chúng sanh trôi nổi theo nghiệp duyên, không thể nào quyết định thật tướng nơi cảnh ấy.

Khi con nhìn một sự vật, chẳng phải chỉ là mắt con nhìn thấy, mà là thức, là sở tri, là kiến đã huân tập từ hằng vô số kiếp nhìn sự vật ấy. Từ vô số kiếp đã tích tụ vô số kiến chấp, hóa nên tất cả những phân biệt: đây tốt, kia xấu, đây đen, đó trắng, giàu nghèo, thọ yểu, khinh trọng... Bỏ hết những kiến chấp này, đi ngược lại vô thủy về trước, con sẽ thấy chỉ có Ánh Sáng vô cùng, không ngằn mé: con người đã bỏ chiếc bóng của mình.

Thế nên, con người là nguồng ánh sáng rực rỡ mà không tự thấy, đi tìm ánh sáng bên ngòai để nhìn mình, chỉ chồng chất thêm những màn đêm, làm mờ đi ánh quang minh của tự thân. Màu mà vẫn gọi là đen đó, chẳng phải màu đen, đó là một tập hợp ánh sáng màu ngũ sắc, màu cầu vồng, nổi bật riêng sắc đen trên các màu khác. Con đường mà con vẫn đi qua, đó chẳng phải là con đường, đó là chiếc cầu vồng mà con vì chấp vào thân tứ đại nên chỉ thấy là đất đá màu đen. Và người xấu, con chỉ thấy họ trong hiện kiếp, kiếp quá khứ là kẻ bị ức hiếp, và kiếp vị lai bị nghiệp quả, thì tướng xấu ở đây là đâu? Quan sát như thế mới nên vẽ. Quan sát như thế mới nên quan sát..

Thế nào là Quán Tự Tại? Là ở nơi Không Hai (mà) lập cái thấy. Thế nào là Không Hai? (Đó là) Không có Ta và Vật, không đây và đó, không khỏang cách, không phân biệt, không chướng ngại, hòan tòan tự do nên không gì là không biết, không gì là không thấy, không đâu là không đến được, và không thấy biết tất cả những cái không trên, đó là Tự Tại.

Bố cục bức tranh, lấy tâm điểm ở 2/3 hoặc 1/3 khổ giấy, khổ vải. Màu sắc: chọn màu gần thiên nhiên, hoặc màu mà con thấy bức thiết như một nhu cầu. Đừng dùng lý luận bẻ méo sự vật, đảo lộn màu sắc rồi theo đó mà vẽ, như thế là giả dối.

Các bức họa Phật và Bồ Tát, chư Thiên: đừng vẽ bóng, dùng màu nước pha nhạt hoặc vẽ nét. Ánh sáng ở tự thân chiếu ra, trong cõi ánh sáng không cùng, màu sắc phản chiếu ánh sáng, ánh sáng phản chiếu ánh sáng, không thể có bóng. Hội họa là phản chiếu ánh sáng của các sự vật, chúng sanh...Hội họa là dùng màu sắc thuyết pháp, là đưa thế giới bên trên về gần. Con hãy dùng hội họa mà cúng dường chư Phật!

Trà Hoa


Cắm hoa tức là một phương pháp viết Kinh. Lòng không tịnh sẽ sinh Pháp bất tịnh. Cho nên không có Đẹp hay Xấu theo nghĩa thường tình, mà sự cảm nhận Đại Đạo theo từng bậc khác nhau. Đời sống của một kiếp hoa ngắn ngủi là thế, mà có thể chuyên chở Phập pháp chứa nhóm từ lũy kiếp, hà huống một con người.

Con hãy ngắm họ như ngắm một bình hoa. Người tham dục đến, con hãy im lặng cảm ơn người đã dạy cho biết đó là bất tịnh. Người sân hận đến, con hãy im lặng và cám ơn người đã dạy con biết đó là địa ngục. Người khinh hủy con, hãy im lặng và cảm ơn người giúp con diệt Ngã.

Cắm hoa là nói trong im lặng, là tìm về cội, là đi hành hương về đất Phật. Nơi con, chính là Thiền định. Thiền định là trong lìa sợ hãi, ngòai lìa tướng.

Phật tánh là Chân – Thiện – Mỹ và Từ Bi. Khi con rung động trước cái đẹp thật, khi con cảm nhận cái đẹp thật, mở tâm nhìn vào thế giới bất diệt  rồi, con không còn có thể rung cảm trước những điều xa lạ với thế giới ấy. Học cắm hoa là học mở cửa nhìn vào hư vô.

Tại sao con không định tâm được? Vì con chấp Tâm và Tướng định. Cho nên, cắm hoa là Hành đạo. Con hãy trân trọng và chân thành, để lòng lắng xuống, không vội vã, tràn ngập một tình cảm tri ân của người sắp được nghe Phật thuyết, tràn ngập một niềm yêu mến vạn vật, thiên nhiên mà học. Đối diện mỗi bình hoa sắp cắm, con hãy nhớ đến Tịnh bình của Mẹ:

Tìm dáng bình hoa sắp cắm trong bó hoa đang có, không nên trước tạo khung rồi đặt hoa vào, hoa sẽ thô, cứng và mang nét giả tạo.. Không có lòng yêu ghét riêng một lọai hoa hay cỏ nào mới được tâm bình đẳng, cảm nhận vẻ đẹp của mỗi lọai, từ đó yêu mến cái phong phú của thiên nhiên. Hoa có thể phối hợp với những lọai quả hay mọi vật có vẻ xa lạ với nó nhất, tùy chủ đề.

Trà hoa là gì? Trà là lọc, Hoa là đi lên. Trà hoa là lọc sạch tâm để đi lên. Lại nữa, Trà là hư không, Hoa là đẹp. Trà hoa là tiếng Không mà bao hàm ngàn muông vẻ đẹp. Lại nữa, Trà là tĩnh lặng, Hoa là tuyệt diệu. Trà hoa là thưởng thức cái tĩnh lặng tuyệt diệu của các cõi. Khi con uống trà, con hãy nghĩ con là ngụm trà ấy. Con sẽ thấy mọi vật dứơi cái nhìn khác hẳn. Tất cả đều giản dị.Trong ấy, Hoa chứ không phải một hình thái sống nào khác, đưa con ngừơi đến gần Đạo nhất. Con sẽ biết qúy từng ngọn cỏ, từng cành khô. Chúng sẽ nói với con đời sống thật ở ngòai tướng sống chết. Mỗi chiếc lá vàng là cả một mùa thu. Và hoa dại là những lòai hoa đẹp nhất vì chỉ đẹp một mình. Trường phái chỉ là hư, con không nên chú ý đến quy luật của các phái cắm hoa, dù Nhật bản hay nứơc khác. Từ tâm mà sinh ra các quy luật thẩm mỹ, cho nên tâm đạt đến Niết bàn tối thượng thì quy luật cũng tương ứng. Ngược lại, theo những quy luật do bậc giải thóat đề ra, cũng dẫn đến nghệ thuật tối thượng, nếu không chấp pháp. Đây là một số quy luật đó, con cứ y theo mà hành, sẽ dẫn đến Trà Hoa:

Bình cao: Hoa thiên cao = Chiều cao bình + 3 chiều rộng bình. Đó là chiều cao bình thường. Phá thể là cao hơn. Nếu thấp hơn thì chiều cao ấy sẽ nằm trong cảnh khác và ở ngòai bình lượn xuống hoặc ở chiều ngang của Thiên.

Hoa nhân cao = 3/5 của hoa Thiên
Hoa địa cao = 1/5 của hoa Thiên.

Bình thấp : Hoa thiên cao = 2 chiều cao bình + chiều rộng bình.

Các hoa khác, cũng như ở bình cao, chỉ nên cắm 2 hoa, 3 lá hoặc 1 hoa, 2 lá. Nhưng con phải cắm cách nào để chiếc lá ấy trở thành biểu tượng, mang tất cả không khí của thiên nhiên và đặc điểm của riêng nó. Tất cả những hoa lá trong bình đều như trổ từ một cành duy nhất, dù là khác lọai, vẫn không có vẻ xa lạ với nhau. Hoa phải có cái tươi mát của hoa, chứ không nên lấy số nhiều để tạo vẻ tươi thắm. Chỉ riêng một cánh hoa cũng là đủ để tựơng trưng cho cả lòai hoa. Cắm hoa như người Tây phương không phải cắm, gọi là “chưng hoa” thì đúng hơn. Con có khuynh hướng nghiêng về lối cắm ấy, đó là Tâm hãy còn chuộng tướng, không bỏ chấp.

Bình thấp, cắm nhiều lá, hoa hơn bình cao; vẫn tôn trọng quy luật trên. Ở bình thấp chú ý đến hoa địa, cành phụ thì thấp và ở gần cành chính.
Đừng sợ cô đơn, sợ cô đơn là còn khổ, nên trong cách cắm, con sẽ thích cắm nhiều hoa lá, là tính khí hãy còn nóng nảy. Nếu không có ngừơi “hiểu con” thì cũng là lẽ thường. Khổ cũng là lẽ thường. Không có người giống con cũng là lẽ thường. Nếu cô đơn là đau khổ thì đức Phật là người khổ nhất trần gian. Sự phù du của vẻ đẹp hoa cắm trong bình cũng là sự cô đơn. 

Con cắm hoa mà không thấy mình là người cắm, không có hoa để cắm, lòng không lay động, cũng không thấy mình không lay động, thì bình ấy là bình hoa tự nở ra như thế. Đó là Hoa Đạo.

Cũng như đau khổ làm gì có thật, nhưng phải mượn đó mà tỏ bày an lạc. Con không có khổ vì sự khổ đau thật sự hiện diện, mà vì đó là pháp môn gần nhất và dễ nhất dẫn đến nhận thức Lạc. Nhận thức này chính là Thiền định, là Đại định, là Giải thóat.




Hoa.


Hoa chính là vị Bồ Tát hóa thân làm đẹp mắt mọi người, dẫn những ai chuộng sắc trần vào đạo. Vẻ đẹp của hoa không có vị tục tằn của xác thịt, vẻ đẹp của hoa không  có mùi quyến rũ của tội lỗi, vẻ đẹp của hoa là hiện thân của vô thực, do huyền diệu của ánh nắng kết tinh thành màu sắc. Hoa là Từ Bi, một đời tặng hết sức dịu dàng và an ủi cho chúng sinh. Hoa là Hỷ Xả, sau khi đem giọt nước mắt của chân mỹ đến, đã đi ngay, không bận tâm đến kiếp sống vô thường. Hoa là Bồ Tát dạy con tâm Vô Trụ, mỗi giây phút của cuộc đời rất quý, đừng để những giây phút ấy trôi qua đau khổ, địa ngục của giận hờn và lo toan, mỗi giây phút này là sự bừng nở của ngàn vạn đóa hoa. (Dù ở) thiên cung, bên lề đường không một người để mắt, rực rỡ trong những khu rừng, cùng muôn chăm sóc của con người, hay lẻ loi đơn côi nơi đông hoang vắng, hoa vẫn bình đẳng trải rộng Từ Bi, không phân biệt đắn đo về lẽ thân tình của mình sẽ đến với ai và được tiếp nhận hay không. Con hãy sống trong Vô Trụ, trải rộng Từ Bi đến mọi người, không phân biệt tình cảm của người đối với con ra sao, không luận thời gian, không gian, không cần được đền đáp, không cần được hiểu và thông cảm.

Hãy để đóa hoa tâm được nở, đừng để Ngã của con làm khô cằn mảnh đất vốn đã được gieo giống Phật, thì mọi sự phân định phải trái chính là Bản Ngã. Con có quyền tu thì kẻ khác cũng có quyền không tu. Con không được tự cho rằng mình tu nên đúng hòan tòan. Thêm vào đó, người tu mà không chuyển nổi tâm kẻ khác theo đường đạo thì phải tự trách mình. Vả lại nếu con thực sự hết lòng giải thóat, hãy tự giải thóat mình khỏi nỗi khổ hiện tại, đừng quy lỗi cho kẻ khác về nỗi khổ của mình.

Tu là tìm giải thóat, giải thóat là gì? (Là) sự bình an của con trước mọi điều thuận nghịch của hòan cảnh mà con đang sống, thay vì tìm giải thóat, bình an nơi sự thay đổi hòan cảnh. Hãy nhìn thực tại của tâm mình và giải quyết, hãy nhìn xuống, hãy hạ tâm mình.

Hòan tòan được mọi người khen tặng là điều không thể có, nhưng hòan tòan bị chê bai là điều không thật. Nghĩ rằng mình bị mọi người chú ý để chê bai cũng chính là Ngã đấy.

Muốn thấy ánh sáng chân lý đưa con ra khỏi vô minh phiền não, con hãy học hạnh Từ Bi Hỷ Xả của hoa. Hoa phải là tâm con. Chư Phật trong mười phương đều nói đến giải thóat, hóa sanh nơi hoa sen trong ao báu, chẳng phải không nguyên do. Cho nên, hoa mang tướng vô thường mà sống đời vĩnh cửu của đại Từ. Giây phút đi qua trần thế lên gịot nắng cõi trời soi vào mắt con, khai thị điều thiện mà con chưa tự chứng. Như hoa có thể tàn mà vẻ đẹp và mùi hương không biến mất khỏi tâm con. Điều thiện có thể mang tướng đến và đi, mà trong tâm thức của con, con không bao giờ quên điều thiện có thật, hiện hữu rõ ràng thì (đó là) con đối diện với khổ đau.


Tuesday, January 18, 2011

Tuyệt Đối.


Đi tìm tuyệt đối đôi khi như thóang bắt gặp rồi, lại thất vọng. Con hòai nghi sự hiện hữu của thiện tánh và từ đó mất tín tâm. Con hãy thử theo Mẹ tìm xem tuyệt đối ở nơi đâu?

Một tình cảm tuyệt đối đến chết khôngphai có phải là một tình yêu tuyệt đối? Ở người này như thế là trọn vẹn, nhưng với người khác kiếp này ngắn ngủi, họ muốn cùng nhau đi đến thiên thu. Hoặc kẻ kia chỉ mong hiện tại duy nhất đối với nhau là đủ, là tuyệt đối. Trong tình yêu nam nữ, tuyệt đối đã có nhiều tướng khác nhau. Trong những tình cảm khác, như tình mẫu tử, hiếu để, bằng hữu, tướng của tuyệt đối lại nhân lên muôn hình vạn trạng. Và một người muốn đi tìm tuyệt đối trong tất cả các mối liên hệ nhân duyên ở đời càng khó thực hiện ước mơ tuyệt đối của mình. Trọn vẹn trong tình yêu nam nữ tất khó có thể trọn vẹn trong tình mẫu tử hay hiếu để.

Vì thời gian và không gian, vì thân tướng mà con mang, không cho phép con vừa xả thân cho người này và vừa có mặt nơi khác với người kia. Và người đi tìm tuyệt đối bỗng trở thành người phiêu lưu nhất. Có những người đi tìm tuyệt đối bằng phương  pháp lọai trừ. Tình yêu không phải là sự tuyệt đối, tình mẫu tử cũng được phân tích và lọai trừ, cùng nhiều điều khác nữa. Có người bi quan hơn cho điều ác là tuyệt đối, vì điều ác ngự trị ở thế gian, và điều thiện thì ở đâu đó ngòai trái đất.

Thế thì tuyệt đối ra sao, có tướng nào hay không hiện hữu? Con đang đứng trên mặt đất, bầu trời trên đầu, bên phải, bên trái cũng là phải trái của mọi người trên mặt đất dù ở xứ nào. Cá sống trong nứơc, phía trên có lẽ được tả khác hơn. Và lòai có cánh hình dung bầu trời và mặt đất khác con nhiều. Tất cả những cái nhìn này đều lấy tâm trái đất làm chuẩn. Giả dụ không lấy tâm trái đất làm chuẩn, con sẽ có cái nhìn khác hẳn, đứng phía này quả đất có thể là đứng dưới quả đất, hoặc ở cánh phải, hoặc ở cánh trái quả đất, nếu lấy một điểm nào đó trên mặt đất làm chuẩn mực trung.

Như thế ngay cả những điều tưởng như tuyệt đối cũng chỉ đứng theo tầm nhìn của lòai người hay của lòai sống ngay trên mặt đất. Đó là Bản Ngã của mỗi người. Ở mỗi người Ngã càng biến tướng tuyệt đối theo bản sắc của mình đến vô cùng. Vậy muốn tìm thấy tuyệt đối chỉ có cách duy nhất là thóat khỏi Bản Ngã. Trong vô Ngã sẽ thấy điều chân thực. Vì thế mà tuyệt đối thực sự hiện diện, không chỉ là những ước mơ. Nhưng để ngộ chân lý muôn đời bất diệt, con phải quên mình. Khi tất cả đã im lắng, khi những xôn xao của tâm đã tan biến trong bình an, khi con đã xả tìm kiếm sự tuyệt đối, khi con không còn gì, là lúc con đã ngộ hình tướng thật của tuyệt đối.

Nhân đạo.


Con thường nghe nhân đạo, khi nói đến một người có hành động giúp đỡ kẻ họan nạn. Giúp người họan nạn đó là đạo làm người hay là đạo của con người. Con người phải nghĩ đến nhau, đến cộng đồng lòai người tức là tự con người đã có đạo, ivà sống hợp với đạo của chính mình là điều chưa mấy ai thực hiện được.

Tôn giáo chỉ là sự tìm kiếm bên ngòai, trở lại với chính mình và ơchánh tu hành Phật Đạo. Phải, vì điều thịện, từ bi là gì nếu không phải là nhân đạo. Cho nên chẳng  tim Đạo mà thấy Đạo, hay nói khác đi, Phật ngự nơi tâm chẳng cần tìm đâu xa cũng đúng.

Con đừng nên chỉ mến người lành và ghét kẻ ác. Mến người lành là trí, nhưng thương kẻ chẳng lành không bỏ mặc họ với nhân quả đớn đau, đó là người có lòng nhân đạo. Con chưa thương được ngừoi đã gây ác nhân và đang thọ ác báo hay người đang tạo tác ác nghiệp cho bản thân, (thì) con chưa là người nhân đạo, thì đừng nghĩ đến tâm lượng từ bi của Bồ Tát. Chưa nhân đạo, chưa làm người thì chưa thể tu Tứ Vô Lượng Tâm của Bồ Tát. Từ, Bi, Hỷ, Xả lúc này chỉ là ngôn từ, hiệu đính cho một bản ngã hẹp hòi. Nhân Đạo có nghĩa là làm được điều tốt nhất cho một người mà không làm hại đến người khác.

Tùy hòan cảnh mỗi người mà đòi hỏi tướng biểu lộ lòng nhân nên nói rằng tâm quyết định tướng của lòng nhân đạo. vì thế mà ở người này thì đòn roi làm tỉnh ngộ, ở người kia là sự cảm thông. Hay một cộng đồng với bao nhiêu sinh mạng phải được xem trọng hơn là một mạng người như câu chuyện Đức Phật một thuở nọ trên sông.

Để thực hiện lòng nhân nơi mình, trứơc tiên con khoan hoặc chẳng bao giờ phê phán, làm phán quan, khi chính con chưa hết Ngã, là uốn sự việc theo ý mình, nên tướng công bằng giai đọan sẽ là nhân bất thiện trong trường đọan luân hồi. Và phải nhớ qủa báo ác là điều tốt nhất làm người si tỉnh ngộ, không nên hình dung đó là sự trừng phạt của Thượng Đế hay của một đấng Chí Tôn nào. Vì con người tự có đạo nơi mình nên luật nhân quả nhân đạo hơn cả những luật lệ do người đặt ra. Luật pháp chỉ có quyền và chỉ xét xử trên tướng, mà luật nhân quả lại xét xử từ tâm. Từng ý nghĩ cũng có quả báo nên chính xác vô cùng.

Vì thế mà con đừng ghét người làm con đau khổ, họ sẽ có quả báo của hành động ấy, dù không đến từ con. Vả lại nếu họ làm con buồn mà vui lòng người khác thì chưa hẳn không tốt với con đã là bất nhân. Cũng chính vì dây chuyền nhân quả không dứt, khó phân này mà con đừng bao giờ nghĩ rằng mình đang làm điều tốt. Con chớ nên nghĩ tôi cố gắng làm những gì mà theo cái nhìn bây giờ tôi cho là nhân đạo nhất. Ý thức rất rõ ràng việc làm và ý tưởng này chưa hòan tòan, như thế là đi trên con đường vô ngã mà không hay biết. Con hãy cố gắng trở thành người nhân đạo.


Ái Dục.

Con thường nghĩ ái dục là vấn đề đơn giản, là tình cảm giữa trai gái. Ở người lập gia đình thì ái dục chính là ngọai tình. Chỉ nghĩ đến người hôn phối và con cái thì đó không là ái dục. Nghĩ như thế thật quá ư sai lầm! Dục ái chính là vấn đề lớn nhất của sinh tử luân hồi, tức giải thóat là giải quyết triệt để vấn đề ái dục. Như thế ái dục mang hình tướng nào và thực chất chính là gì? Dục là gì?Thân là dục, Ngã sinh ái. Khi con nghĩ rằng mình là người nữ, đó là dục!

Dục chính là sự phân biệt ra hai từ một cái gì đồng thể. Không cứ phải nghĩ đến hành dâm mới gọi là dục. Vả lại dục là phân hai, tức nảy sinh ra một cái khác nguyên bản, nên trong bất cứ hành sử, tư tưởng nào có ý phân biệt ngã, nhân thì đó là dục. Khi có ngã, nhân, đây,đó thì ái liền sanh và luân hồi chuyển bánh. Như thế thì dục sinh mọi độc. Dục là nghiệp lớn sinh ra muôn nhân quả kết thành nghiệp mới, dục tức là động của thức, dục chính là động của tâm, dục là thể của ái, ái là tướng của dục. Từ ái mà nẩy sinh yêu ghét, thuận nghịch, mọi cảnh khổ thế gian.

Từ dục hình thành Ngã hay nhân cách của một người, yêu thích mình và tính cách của mình là lẽ tự nhiên, vì ái đâu tách rời khỏi dục nên từ nơi có yêu là có ghét. Thích mầu này, mầu này hợp với tôi, đó chính là tiếng nói sâu thẳm của ái dục vọng lên trong từng niệm tưởng. Yêu người là dục, yêu chính bản thân cũng là dục. Yêu điều thiện, ghét Ngã cũng còn vướng vào ái dục. Trong cảnh yêu ghét với hai tướng (là) chấp nhận và không chấp nhận, mầm mống đấu tranh còn thì con còn đau khổ.

Tại sao con có thể yêu thích người này, không thích người khác ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên, có thể nói rằng vì nhân quả tiền kiếp. Nhưng tự nguyên thủy, nhân ban đầu sinh mọi nghiệp luân hồi chính là ái dục. Có thân, có ngã, bất cứ điều gì hợp với ngã thì được giữ lại thành sở thích, thành thiên trướng, mà Ngã thì có thể thay đổi yêu thích, thích hành thiện cũng chưa là thiện. Sở thích của con khi còn bé ngày nay thật khác nhau. Như thế mọi vật có thể thay đổi mà ái dục thì không. Hễ còn một hơi thở ra vào là còn thở hơi ái dục.

Ái dục không chỉ đơn thuần tồn đọng trong quan hệ lứa đôi hay nam nữ, mà còn cả ngay trong những tình cảm mà tưởng chừng như thiêng liêng nhất. Con có thể thấy ái dục trong những phóng tâm vô tình, trong những ràng buộc nhặt nhiệm nhất của cuộc đời. Ái là phóng Ngã hướng về mục đích đến. Có mục đích là có định hướng,có hệ lụy, có trông chờ, có phản hồi. Như thế thì ái là nguyên nhân đau khổ vì ái tự khởi thủy đã có mầm mống bất tòan. Nói cách khác ái mang bản chất bất tòan. Muốn lìa ái dục phải quan sát tánh của dục. Dục là động, nếu không động thì đồng lúc với giả duyên chấm dứt. Tánh dục hiện tiền, đó chính là Chân Như hay Như Lai Tánh. Và từ nơi không động là Như Lai Tánh hiện động dụng thì động ấy chính là Từ Bi.

Con hãy thực hành Ly Dục.

Âm Nhạc. Music

(Viết theo băng cassette Tuyển Phật Pháp I và II của Phật tử Viên Hạnh Ngọc Nữ, được giới thiệu là ghi theo lời giảng của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát)

Âm nhạc

là chuỗi tiếng động sắp xếp theo tâm tư của từng  người. Trong mỗi con người, trong mỗi chúng sanh là một nguồn nhạc ý tuôn tràn. Những giận hờn, những đau khổ, những niềm vui tuôn ra từ đó. Cho nên lắng nghe thế giới với tất cả những âm thanh đa dạng là một nguồn vui bất tận, vì đó là Âm nhạc.

Những lời chửi rủa là nhạc của một tâm hồn dao động đến cực điểm; những bài hát là âm nhạc của thi nhân, và tất cả là bài hát bất tận của Sinh Trụ Họai Diệt, là âm thanh của sự sống, tức là hình tướng của Đạo.

Tiếng chân bước trên đường vắng, tiếng lá khô rơi rụng, tiếng sương khuya trên mái nhà, tiếng dế kêu, tiếng đàn...và cả những âm thanh mà con không nghe bằng nhĩ căn được, tiếng thì thầm của hoa cỏ, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng nói của người xa...là những âm thanh kỳ diệu của cuộc đời. Biết thưởng thức tất cả những âm thanh của cuộc sống là sống trong âm nhạc. Con có hiểu âm thanh là gì thì mới thật sự cảm được âm nhạc của đời.

Hãy nghe đây! Chỉ biết nghe những âm thanh mà con thích thì chưa thưởng thức được cái kỳ diệu của  âm thanh. Nếu con chỉ thích nghe những lời khen ngợi và rất ghét những lời chê bai thì nhĩ căn chỉ làm việc một nửa. Đó là khuyết tật – đó mới chính là sự bất tòan của thân – đó mới chính là thân bất túc. Tất cả mọi âm thanh đều là vui, tất cả mọi âm thanh đều là pháp. Những lời nói dữ là thử thách sự kiên định của tâm, là pháp rèn tâm, là pháp điều phục tâm xao động. Như thế những lời nói dữ chính là giả tướng của lời Phật thuyết, là Pháp. Như thế, những lời nói  dữ tự bản tánh nó không dữ, mà con chấp rằng đó là dữ vì con còn vướng mắc vào âm thanh, nên không chịu nhận thấy thật tánh của ngôn ngữ. Quán sát âm thanh đơn thuần là âm thanh thì hiểu được đạo. Mỗi âm thanh đều có độ ngân của nó, vì thế Âm thanh là Âm nhạc.

Những lời khen, tự nó không xấu, nhưng chấp vào nó thì nó trở thành độc dược. Khen hay chê đều không  thể biến con thành kẻ khác. Những người chỉ hay chê bai người khác chính là Bồ Tát hóa thân. Chính nơi những vị ấy con hiểu được điều Phật dạy: “Nguyện lãnh lấy cõi Phật, chẳng phải ở nơi rỗng không”. Khi con điềm nhiên trước những âm thanh kia là con độ được tâm mình, độ được kẻ ấy, mà cũng chính là kẻ ấy đã độ con.

Nghèo, xấu...những âm thanh đi thẳng vào tim làm con khổ sở là vì con chỉ nghe một nửa. Chính điều ấy mới là thân tướng xấu, chính điều ấy mới là sự nghèo nàn. Đây là thần chú trị bệnh ấy: Hãy quán chữ ấy trong tiếng trống, tiếng đàn, phổ trong một đỏan khúc, cho đến khi con trân trọng âm thanh ấy thì đó là thấy tự tánh ngôn ngữ là Không.