Wednesday, September 7, 2016

Nước non Bình Định - Quách Tấn


Thứ Bảy, ngày 07 tháng 12 năm 2013


Nước non Bình Định - Quách Tấn

Nước non Bình Định của Quách Tấn, đối với những người yêu thích và nghiên cứu về lịch sử, địa lý Bình Định nói riêng, thì đây là một tác phẩm không thể không biết đến và phải ngả đầu thán phục về công sức kết tinh và tầm vóc đồ sộ của nó.


Vài nét về Quách Tấn:

Quách Tấn (1910-1992), tự là Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên, các tiểu hiệu là Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão giữ vườn; là một nhà thơ Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn.

Quách Tấn là người con ưu tú của Bình Định. Lúc nhỏ Quách Tấn học chữ Hán. Đến 12 tuổi, ông mới bắt đầu học Quốc ngữ và Pháp ngữ tại trường Pháp Việt Quy Nhơn (nay là Quốc học Quy Nhơn), rồi đậu cao đẳng tiểu học (primaire Supérieur) năm 1929.

- 1930, làm phán sự Tòa sứ tại Tòa khâm sứ Huế, rồi đổi lên Tòa sứ Đồng Nai Thượng ở Đà Lạt.

- 1935, về làm việc tại Tòa sứ Nha Trang.

-1939, xuất bản tập thơ đầu tay: Một tấm lòng (Tản Đà đề tựa, Hàn Mặc Tử đề bạt).

- 1945, tản cư về Bình Định tham gia chống Pháp, làm thủ quỹ cho Ủy ban ủng hộ kháng chiến và Mặt trận liên hiệp quốc dân huyện Bình Khê.

- 1949, mở Trường trung học tư thục Mai Xuân Thưởng tại thôn An Chánh huyện Bình Khê.

- 1951, được trưng dụng dạy Trường trung học An Nhơn rồi Trường trung học Bình Khê.

- 1954, hồi cư về Nha Trang được tái bổ vào ngạch thư ký hành chánh.

- 1955, làm tại tòa hành chánh Quy Nhơn cho đến 1957. Tiếp theo, ông giữ chức Phó tỉnh trưởng tỉnh Bình Định. Nhờ cương vị này, Quách Tấn đã can thiệp với chính quyền địa phương, chọn được một vùng đất địa thế đẹp tại Ghềnh Ráng (Quy Nhơn), rồi chuyển hài cốt người bạn tri âm là thi sĩ Hàn Mặc Tử từ nghĩa trang nhà thương phong Quy Hòa về an táng tại đây. Ít lâu sau, Quách Tấn đổi về Sở Du lịch Huế (1957-1958), Ty Kiến thiết Nha Trang (1958-1963), rồi giữ chức Phó tỉnh trưởng tỉnh Khánh Hòa (1963-1965)

- 1965, nghỉ hưu tại nhà số 12 đường Bến Chợ Nha Trang (gần chợ Đầm), tiếp tục viết văn làm thơ.

- 1987, ông lâm cảnh mù lòa rồi mất ngày 21 tháng 12 năm 1992 tại Nha Trang, hưởng thọ 82 tuổi.

Quách Tấn lập gia đình năm 1929. Vợ ông là bà Nguyễn Thị Nhiếp, hiệu Thanh Tâm, sinh trưởng tại Phú Phong, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

Tác phẩm

Thơ:

Một tấm lòng: tập thơ, 1939, gồm hai phần chính và một phần phụ lục, có lời “Tựa” của Tản Đà, lời “Bạt” của Hàn Mặc Tử.
Mùa cổ điển: tập thơ, 1941.
Ðọng bóng chiều: tập thơ, gồm 108 bài thất ngôn tứ tuyệt, Kim Lai ấn quán in năm 1965.
Mộng Ngân sơn: tập thơ, gồm 135 bài ngũ ngôn tứ tuyệt, Nxb Hoa Nắng (Paris) ấn hành năm 1966.
Giọt trăng: tập thơ, gồm 60 bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, Nxb Rừng Trúc (Paris) ấn hành năm 1973.
Trăng hoàng hôn: tập thơ, gồm 60 bài thơ lục bát tứ tuyệt, Nxb Trẻ ấn hành năm 1999.
Tuyển tập thơ Quách Tấn: do Quách Giao (con trai ông) tuyển chọn, Nxb Hội Nhà Văn ấn hành năm 2006.
Ngoài ra ông còn 13 tập thơ chưa xuất bản.

Văn

Trăng ma lầu Việt: gồm 2 tập, viết phỏng theo Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đời Hậu Lê. Tập 1 xuất bản năm 1943. Năm 1947, viết thêm tập 2. Năm 2003, Nxb Thanh Niên in chung thành một quyển.
Non nước Bình Định: tập địa phương chí Bình Định, Nam Cường xuất bản năm 1968. Nxb Thanh Niên tái bản năm 1999.
Xứ Trầm hương: tập địa phương chí Khánh Hòa, Nxb Lá Bối ấn hành năm 1970.
Đời Bích Khê: tập hồi ký của Quách Tấn viết về cuộc đời và thơ của thi sĩ Bích Khê. Nxb Lửa Thiêng ấn hành năm 1971.
Đôi nét về Hàn Mặc Tử: in trong Bán nguyệt san Văn số 7, Sài Gòn, 1967; in lại trong Hàn Mặc Tử - hôm qua & hôm nay, Nxb Hội Nhà Văn, 1996.
Họ Nguyễn thôn Vân Sơn (1988)
Nét bút giai nhân (1988)
Bước lãng du: giới thiệu danh lam, thắng tích từ Huế đến Ninh Thuận, Nxb Trẻ ấn hành năm 1996.
Thi pháp thơ Đường: gồm 26 bức thư và một bài tựa "Chút lòng" gởi cho các bạn trẻ yêu thích thơ Đường, Nxb Trẻ ấn hành năm 1998.
Bóng ngày qua: hồi ký của Quách Tấn dày trên 2.000 trang đánh máy, xếp thành 10 tập. Đã xuất bản được các tập: Đời văn chương (1998), Bàn thành tứ hữu (2001), Tình thầy bạn (2003), Trường Xuyên thi thoại (2000), Những mảnh gương xưa (2001), Hương vườn cũ (2007), Nguồn đạo trong thơ văn (2007),...
Ngoài ra ông còn 20 tập văn chưa xuất bản.

Viết chung với con trai là Quách Giao các tập:

Nhà Tây Sơn (xb năm 1988, đã được tái bản nhiều lần)
Võ nhân Bình Định (Nxb Trẻ ấn hành năm 2001)
Đào Tấn và Hát bội Bình Định (xuất bản năm 2007)

...

----------------------------------

NƯỚC NON BÌNH ĐỊNH 

MỤC LỤC

1.Lời thưa

2. Đồng bằng - bờ biển, Cửa biển - đầm ao
- Đồng bằng.
- Bờ biển và cửa biển : cửa Kim Bồng, An Giũ, Hà Ra, Đề Ghi, Vũng Tô suối Bún, Cách Thử, Thị Nại, Quy Nhơn ...
- Đầm ao: Trà Ô, Đạm Thủy, Thị Nại, Ngạc Đàm, Giao Trì

3.Thắng cảnh - cổ tích
- Các ngọn tháp: Phú Lốc, Cánh Tiên, Thị Thiện, Đôi, Dương Long, Thủ Thiện (Ngà), ...
- Các dấu thành cũ: Cha, Đồ Bàn, Bình Định, Uất Trì ...
- Các lăng: Võ Tánh, Ngô Tùng Châu  ...
- Sông suối: sông Côn, Hà Thanh, La Tinh, Lại Giang, Đá Hàng, Thạch Yển, La Vỹ, Tân Quan, An Tượng   ...
- Suối: Đá Trải, suối nóng Hội Vân, Từ Bi, Đá dàn, Đục, các suối nước ngọt ...
- Các ngôi chùa: Thập tháp, Linh Phong ...

4. Núi non
- Núi: Thạch Tân, núi Bà, núi Ông, Hương Sơn, Kim Sơn, Bích Khê, Lạc Phụng, hòn Chuông, Triều Châu ...
- Đèo, dốc, hang: Nhông, An Khê, Ô Phi, hang Chàng Lía  ...

( Lưu ý: nội dung khá dài, đọc nhiều lần quý vị nhé)
--------------------------------------------

1. Lời thưa

( Vui lòng chờ cập nhật)

------------------------------------------------

2. Đồng bằng – bờ biển, Cửa biển – đầm ao

Đồng bằng

Diện tích toàn tỉnh Bình Định phỏng chừng tám nghìn cây số vuông, tức 800 nghìn mẫu tây. Núi non chiếm hơn 2/3 diện tích. Còn độ trên dưới 200 nghìn mẫu Tây là đồng bằng.

Đồng Bình Định là cánh đồng lớn trong những cánh đồng lớn ở trung Việt. Nhưng không được nhất trí như đồng ở nam Việt. Đồng thường bị núi gò làm gián đoạn. Song đoạn nào cũng bát ngát mênh mông, nhất là những cánh đồng ở lưu vực những con sông lớn, như Côn Giang, Lại Giang…. thì sắc xanh của hoa màu liền với sắc xanh của trời biếc.

Ngoài những cánh đồng ở bình nguyên, Bình Định còn nhiều cánh đồng ở nơi miền núi.

Những cánh đồng ở bình nguyên đã có từ khi người Chiêm Thành làm chúa lãnh thổ. Và khi người Việt Nam định cư thì những nơi ở trong lưu vực các con sông lớn được khai thác, khẩn hoang lần lần, từ bình nguyên lên miền núi.

Đồng ở bình nguyên thì lấy tên địa phương mà gọi. Còn ở nơi miền núi, thì có tên riêng từng vùng. Như ở Hoài Nhơn có đồng Vuông ở giữa thung lũng núi thuộc xã Hoài Sơn.

Ở An Lão có đồng Dài tức là đồng Thanh Lương, chạy từ Năng An đến Truông Ổi.

Đồng Dí, đồng Dớn ở vùng Kim Sơn.

Đồng Đế ở xã Mỹ Chánh, quận Phù Mỹ.

Nhiều nhất ở Bình Khê (nay một phần thuộc tỉnh Gia Lai và phần thuộc tỉnh Bình Định là huyện Tây Sơn). Những đồng có danh như:

Đồng Hươu tức Lộc Đỗng, nơi xưa kia nghĩa quân Cần Vương đóng tổng hành dinh nay đã trở thành một xóm ruộng tốt người đông, thuộc thôn Phú Phong, xã Bình Phú.

Đồng Vụ thuộc thôn Trinh Tường, xã Bình Tường. Đây là nơi đóng trại trữ lương của nghĩa quân, tục gọi là nam trại.

Đồng Vụ gồm có đồng Vụ nội và đồng Vụ ngoại. Hiện giờ đồng Vụ nội cũng như ngoại là một đồng lúa phì nhiêu, rộng rãi, chung quanh có núi non, có sông suối. Dấu tích nghĩa quân Cần Vương không còn tìm thấy.
Nhưng nhân dân ở đồng Vụ không mấy ai quên trận đánh Pháp ở đây.

Đó là năm Bính Tuất (1886), quân Pháp kéo lên đánh Bình Khê. Nghĩa quân rút lui vào mật khu. Quân địch không tìm ra dấu vết liền đóng binh tại đình Phú Phong cho bọn Việt gian đi dọ thám. Dò biết được lực lượng của địch, Mai nguyên soái bố trí phục kích ở hai bên đường vào đồng Vụ. Quân địch cho điều tra thấy nghĩa binh đóng ở đồng Vụ nội, bèn tiến binh công kích. Để quân địch vào sâu trận địa rồi, nghĩa quân hét lên một tiếng vang trời dậy đất rồi bốn mặt đổ xô ra chém giết. Địch trở tay không kịp, lớp bị chết lớp quăng súng chạy. Nghĩa quân đại thắng. Quân địch rút lui về Quy Nhơn. Từ ấy, những lúc hành binh, địch không dám đi vào sâu trong làng xóm ở xa quốc lộ.

Trong trận này địch bị thương nhiều hơn chết. Và trong số quân tử trận có một tên chỉ huy ngoại quốc, mà nghĩa binh gọi là "ma ní" (vì không phải Pháp chính cống). Chí căm thù xâm lăng lên tới cực độ, và cuộc chiến thắng đồng Vụ kích động tinh thần nghĩa quân đã hăng càng thêm hăng.

Phía trong đồng Vụ, ném về phía Tây Nam, có đồng Le. Tại vùng núi đồng Le có Linh Đỗng là mật khu của nghĩa quân.

Ba nơi đồng Hươu, đồng Vụ, đồng Le ở cách nhau xa nhưng có đường liên lạc bí mật. Đó là khi xưa, chớ hiện nay thì đường qua lại đã mở rộng.

Trong vùng kế cận ba đồng trên, còn nhiều đồng khác như đồng Sim, đồng Gian, đồng Tranh, đồng Dầu, đồng Sa… Những cánh đồng này trước kia đã khai thác, nhưng hiện nay phần nhiều đều bị bỏ hoang.
Những đồng kể trên đều ở phía tả ngạn sông Côn. Phía hữu ngạn còn có một đồng nữa, đất rất phì nhiêu, ruộng cấy hai mùa không bao giờ mất: đó là đồng Quan, nơi nghĩa binh đóng bắc trại.

Ngoài ra, còn nhiều đồng khác, song không có chi đáng nêu.

Những tên đồng ở nơi miền núi, thường thường cổ nhân theo đặc điểm ở mỗi chỗ mà đặt danh. Nhiều nơi hiện nay danh còn đúng với thật. Như đồng Sim vẫn còn nhiều sim, đồng Dầu vẫn còn nhiều cây dầu rái… Nhưng có nhiều nơi đã thay đổi khác. Ví dụ đồng Hươu tên chữ là "Lộc Đỗng" khi xưa có rất nhiều nai. Cổ nhân có câu:

Lên đồng Hươu giục chó săn nai, bị cọp rượt chạy đà giáp ngựa
Xuống quán Ngỗng mua gà ấp vịt, rủi diều tha nuôi thật uổng công.

Nhưng ngày nay thì lộc đã không có mà nai cũng ít thấy bóng nơi núi nơi rừng. Cho nên người địa phương có câu:

Tiết trời đông chí người nhiều rận,
Vùng đất đồng Hươu núi ít nai.

Đồng Bình Định, cũng như đồng ở các tỉnh miền Trung gồm có "điền" và "thổ". Điền trồng lúa. Thổ trồng hoa màu phụ và cây công nghiệp. Điền chia ra ruộng rộc và ruộng gò:

Ra đi cha mẹ dặn dò,
Ruộng rộc thời cấy, ruộng gò thời gieo.
(Ca dao)

Còn hoa màu phụ thì nhiều nhất là dừa, dâu, đậu, mía, khoai lang, khoai mì..v.v..

Đồng Bình Định tuy không phì nhiêu bằng đồng miền Nam, nhưng đứng vào bậc nhất, bậc nhì ở trung Việt. Lại thêm nông dân Bình Định áp dụng triệt để những yếu tố cần thiết trong nghề làm ruộng là nước, cần, phân, giống. Nên từ trước đến nay, người Bình Định ít khi bị đói, và trong chín năm kháng chiến chống Pháp đồng Bình Định chẳng những nuôi sống 800 ngàn dân của tỉnh mà còn tiếp tế cho các tỉnh khác trong liên khu 5.

Nếu có được đầy đủ dụng cụ tân chế, và vốn liếng dồi dào, với cánh đồng tỉnh nhà, nhân dân Bình Định có thể sống một đời sống phú túc phong lưu.

Nên có thơ rằng:

Rộc tiếp gò, soi, đồng tiếp đồng.
Trời mây chung bóng biếc mênh mông,
Vàng cao nghĩa đất hai mùa lúa,
Bạc chứa nguồn tin sáu ngã sông.
Thêm lợi vì dân dừa đỗ mía,
Chung tình với nước giống phân công.
Cuộc đời nay nắng mai mưa mặc
Nuôi tám mươi muôn vững một lòng.
Bờ biển và cửa biển

Bờ biển Bình Định chạy từ cửa Kim Bồng vài đến chân núi Cù Mông dài trên 100 cây số. Địa hình bờ bãi khi bằng, khi dốc, khi lõm vào thành cửa, thành vũng, khi lồi ra thành mũi thành ghề, khi thì cát trắng tắm nước xanh, khi thì non cao dợn sóng bạc… Đi ngoài biển trông vào thật vô cùng thích thú.

Cửa Kim Bồng

Nằm dưới chân dãy Bình Đê, cửa Kim Bồng ăn thông vào cửa Tân Quan.

Cửa hẹp nhưng sâu nên thuyền trọng tải vào ra Tân Quan được dễ dàng.

Trước kia, nhà vua của các triều đại đều có đặt chức Tấn thủ thừa biện để canh phòng và thu thuế ghe thuyền chở hàng hóa ra vào. Vì vậy nên gọi là hải tấn (Kim Bồng hải tấn). Năm Thành Thái thứ 11 (1899) chức Tấn thủ thừa biện bãi bỏ, người Pháp đặt nha Thương Chánh thay vào.

Từ Kim Bồng chạy vào, bờ biển thấp và toàn cát chừng bảy cây số thì đến cửa An Giũ.

Cửa An Giũ

Cũng là một hải tấn.

Trước cửa có một dải cát chạy dài từ Ca Công, Thạnh Xuân đến Diêu Quan, dài đến bảy cây số, tục gọi là "Con Rồng động đỏ". Bãi cát này khi mở khi lấp không thường, làm trở ngại cho ghe thuyền không ít.

Ở phía hữu cửa biển, tại thôn Thạnh Xuân, có đền thờ ba vị thần là Tứ Dương Thành Phủ Quân, Đà Dương Phủ Quân và Thế Tử Nhạc Phủ Quân, gọi là Tam Thần Từ. Sự tích ba vị thần không ai biết rõ, chỉ nghe truyền rằng là ba vị trung thần thủ tiết, rất linh hiển. Cửa biển An Giũ thường bị cát bồi lấp. Tục tuyền rằng, hễ đến đền cầu đảo thì cửa mở rộng, ghe thuyền ra vào dễ dàng. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đến kỳ vận tải hàng cửa biển bị lấp, quan địa phương đến đền cầu khẩn thì ngay bữa hôm sau liền thấy mở ra một cửa mới rộng và sâu, nhưng được vài ngày, sau khi vận tải xong thì cửa biển đóng trở lại như cũ. Việc ấy tâu lên, nhà vua chuẩn bị cho sắm lễ cúng tế. Từ ấy năm nào cũng chiếu lệ thi hành. Những khi trời nắng hạn, cầu đảo cũng được ứng nghiệm, dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị, nhà vua nhiều lần phong tặng. (Trong Đại Nam Nhất Thống Chí có chép rõ).

Đó là một đặc điểm của cửa biển An Giũ.

Cửa An Giũ cũng là chiến trường của nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn với nhiều trận quyết liệt.

Năm Quí Sửu (1793) Nguyễn Ánh tự đốc chu sư tấn công thành Quy Nhơn, sai Nguyễn Văn Nhơn chia quân kéo đánh đồn Lại Giang. Tướng Tây Sơn là đô đốc Nguyễn Công Thái đánh không lại phải đầu hàng. Qua năm sau (Giáp Dần 1794), tướng Nguyễn là Nguyễn Văn Trương lại kéo quân đến đánh úp quân Tây Sơn một lần nữa ở cửa An Giũ. Quân Tây Sơn bị thua. Quân nhà Nguyễn đoạt được hơn mười chiếc thuyền lương thực. Tuy thắng nhưng lần trước cũng như lần sau, quân nhà Nguyễn đều bị quân Tây Sơn đánh đuổi về Gia Định.

Qua khỏi cửa An Giũ, từ Diêu Quan (Hoài Nhơn) vào đến Phú Thứ (Phù Mỹ), núi Bích Kê chạy sát mé biển, nên nhiều nơi:

Chờn vờn mặt nước cây toan lội,
Lấp lững chân non sóng muốn trèo.

Cạnh vùng Phú Thứ (về phía nam) có cửa Hà Ra.

Cửa Hà Ra

Xưa kia cũng là một hải tấn quan trọng, có chức Tấn thủ tuần phòng, sách gọi là Hà La hải tấn.

Cửa biển ăn thông vào đầm Trà Ô ở phía Nam với một con nước dài đến bốn cây số. Ngày xưa cửa biển mở rộng, ghe thuyền vào ra đầm Trà Ô được dễ dàng như các cửa lớn. Nhưng hiện nay đã bị cát bồi, chỉ có mùa mưa lụt, nước chảy mạnh mới lưu thông.

Ở ngoài khơi ngay trước mặt Hà Ra có một hòn đảo nhỏ hình giống con rùa bò, tục gọi là hòn Qui hay hòn Khô. Đó là một nút ruồi trang điểm cho "khuôn mặt" Hà Ra thêm duyên vậy.

Từ Hà Ra vào đến Vĩnh Lợi (Phù Cát), trên 28 cây số, trừ hòn Vi Rồng ở Tân Phụng và hòn Lang ở Vĩnh Lợi ra, tất cả đều là cát trắng viền biển xanh, mịn màng bằng phẳng. Cổ nhân gọi là: Bạch Sa Động.

Truyền rằng:

Động cát này xưa kia là một rừng cây. Từ Tân Phụng trở vào cây cối sầm uất. Hòn Vi Rồng và hòn Lang khuất trong đám cổ thụ bóng cả thân cao. Có một thầy địa lý người Trung Hoa đến xem cuộc đất, cho biết rằng không kíp thì chầy, thế nào rừng cũng bị cát bồi lấp. Người địa phương lo sợ, cầu đảo hàng năm.

Nhưng rồi vẫn không tránh khỏi tai nạn: Trời bỗng nổi bão lụt to lớn phi thường. Luôn mấy ngày đêm mưa không ngớt, gió không ngớt. Phần nước trên núi chảy xuống, phần nước dưới biển dâng lên. Nhà cửa ngập trôi, cây cối ngập trôi, vật chết, người chết… Đến khi trời xửng, nước dựt, thì dãy rừng xanh đã biến thành bãi cát trắng. Hòn Vi Rồng và hòn Lang đứng trơ trọi giữa trời.

Khoảng giữa động, tại Xuân Phương có một mũi đá nhô ra biển, tục gọi là Gành Mét, tên chữ là Độc Ky
(Gành Một).

Từ Gành Mét đến Hòn Lang có hai vũng ôm lấy bờ biển. Một vũng, ở phía bắc từ Gành Một đến hòn Vi Rồng, gọi là vũng Mới, trên vũng có hải đăng. Một vũng ở phía nam từ Vi Rồng đến hòn Lang, gọi là vũng Bầu. Xưa kia gọi hai vũng này là Phòng Mãi hải tấn, đặt chức Tấn thủ để tuần phòng thủ sở ở phường mới (Tên phường Mới do tiếng Phòng mãi mà ra, hay Phòng mãi do Phường mới mà ra, chưa ai rõ). Chức này bãi bỏ dưới triều Tự Đức một lần cùng Hà Ra.

Qua khỏi vũng Bầu đến cửa Đề Gi.

Cửa Đề Gi

Thông với đầm Nước Ngọt ở phía Tây. Hòn Lang sơn làm cánh cửa phía bắc, mũi đất Đề Gi làm cánh phía nam.

Đây cũng là một hải tấn quan trọng, có Thương Chánh coi việc thu thuế ghe thuyền ra vào.

Vùng Đề Gi nhờ có cửa ở phía Đông và chợ ở phía Tây, tục gọi là Chợ Gành. Cũng như cửa An Giũ, cửa Đề Gi còn ghi một vết nhục cho nhà Tây Sơn vào cuối đời Cảnh Thịnh: Năm Canh Thân (1800), Phó thống chế Tây Sơn tên là Thụy đem 150 thuyền lương từ Bắc Hà vào Quy Nhơn. Thuyền vào đậu ở cửa Đề Gi.
Lúc bấy giờ quân nhà Nguyễn đã chiếm đóng thành Quy Nhơn, nhưng đương bị Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng vây đánh kịch liệt. Nguyễn Ánh được tin đem thủy binh ra cứu. Nhưng không vào được cửa Thị Nại. Tướng nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Trương, nhân đi tuần ngoài biển, được tin thuyền lương của Tây Sơn vừa vào đậu ở cửa Đề Gi, liền kéo quân đánh úp. Không kịp day trở, Phó thống chế Thụy thua chạy, bỏ cả số lương có trên 30 ngàn vuông thóc.

Cửa Đề Gi, cũng như cửa Kim Bồng, hẹp và không được sâu nên tàu lớn không vào được.

Ngay trước cửa, cách chừng hai hải lý, có mấy hòn đảo nhỏ tục gọi là hòn Trâu, trong các bản đồ ghi là "He aux Buffles". Không biết đó có phải là nhóm đảo "Trâu nằm" mà vị tiền bối Phù Mỹ là ông Kiều đã đề vịnh chăng? Vịnh rằng:

Trâu ai cắc cớ chẳng ăn đồng,
Lúc ngúc ra nằm giữa biển đông.
Sóng bạc lô nhô xao trước mặt,
Rong xanh tấp tểnh đóng bên hông.
Cán roi Nịnh Thích không sờn dạ,
Ngọn lửa Điền Đan chẳng cháy lòng.
Phải gặp ông Y mà hỏi thử:
Nội sằn lúc trước có cày không?

Ông Kiều còn có bài ca kể các nơi có tiếng ở dọc theo bờ biển từ Phú Xuân vào đến Gia Định. Nhân tiện xin trích một đoạn từ Tam Quan tới Đề Gi để bổ khuyết những nơi mà trên đây không đem vào vì thấy không cần thiết:

Gát ra thấy mũi Sa Hoàng,
Kìa kìa lố thấy Tam Quan nhiều dừa.
Anh em thề thốt buổi xưa,
Nam thanh nữ tú ắt vừa con ngươi.
Gặp nhau chưa nói đã cười,
Bước vô Từ Phú là nơi nhiều ghè.(1)
Dông trên suối biếc đẹp ghê,
Muốn cần nước củi ta về Lộ Giao. (2)
Ngó ra thấy lò Khô Khao (3)
Ta sẽ đem vào cửa lấp Hà Ra.
Bàu Bàn Gành Mét bao xa, (4)
Vi Rồng Phường Mới xinh đà quá xinh.
Vũng Bầu Nước Ngọt lố gành,
Vũng Tô Suối Bún rất tình nên vui… (5)

(1) Từ Phú ở gần cửa An Giũ
(2) Lộ Giao ở phía trong đèo Diêu Quan. Đã nói ở mục Núi
(3) Khô Khao tức là hòn Khô (hòn Rùa) ở trước Hà Ra
(4) Bàu Bàn tức đầm Trà Ô-Xem mục "đầm ao" ở sau
(5) Xem mục cổ tích "Đá Vọng Phu"

Vũng Tô Suối Bún ở phía trong Đề Gi.

Từ Đề Gi trở vào đến Cách Thử, trong khoảng trên vài chục cây số, bờ biển thấp và cũng đầy vun cát trắng. Duy tại vùng Chánh Oai Thanh Hy và vùng Tân Lý, núi Bà chạy lài ra sát biển, tạo thành những gành đá gồ ghề. Giữa những gành ấy, ăn sâu vào mấy vũng nhỏ như: vũng Tô, vũng Bắc, vũng Nồm. Những vũng này không có ghe thuyền đậu, chỉ có lợi cho việc chài lưới.

Qua khỏi Tân Lý vào đến Cách Thử thì bãi cát chạy dài theo biển.

Cách Thử

Cũng gọi là Kẻ Thử, xưa kia là một hải tấn, mệnh danh là Nha Phiên hải tấn, lưu thông cùng đầm Thị Nại ở phía nam.

Năm Quí Sửu (1793) quân Nguyễn Ánh đã vào cửa Cách Thử rồi lên đánh đồn Càn Dương ở Núi Bà. Nhưng sau khi nhà Tây Sơn bị diệt thì cửa biển bị lấp.

Tại sao gọi là Cách Thử?

Truyền rằng thời xưa nơi cửa ghe thuyền ra vào tấp nập. Việc buôn bán rất thạnh. Chẳng những chỉ có thương gia bốn phương giao dịch với nhau, mà người cõi âm cũng đến mua hàng hóa. Người trần không biết, bán hàng lấy tiền, nhưng tiền thâu được khi đem về nhà mở ra đếm lại, thì thấy toàn giấy tiền vàng bạc. Để khỏi bị thiệt thòi người ta mới bày ra cách thử tiền: Lấy một chậu nước bỏ tiền vào, đồng nào chìm tức là tiền thiệt, đồng nào nổi là tiền giấy. Nhân cách thử tiền ấy mà cửa biển lấy tên là Cách Thử.

Còn Kẻ Thử tức là vùng đất của kẻ thử tiền vậy.

Khi cửa Cách Thử chưa bị lấp thì núi Triều Châu là một vùng hải đảo. Sau khi cửa bị lấp rồi thì Triều Châu trở thành một bán đảo, chạy từ Cách Thử đến Phương Mai. (Đã nói rõ ở mục địa lý phía trước)

Bờ biển chạy dưới chân bán đảo, khi thì cát trắng mênh mông, khi thì gành cao mũi nhọn. Từ Cách Thử vào đến Hưng Lương, dài bảy, tám cây số, bờ biển thấp và cát vun từ mé cho tới đầu non. Đi ngoài khơi trông vào trắng phau như tuyết. Khoảng cát này gọi là Trường Châu hay Trường Chử, tức Bãi Dài.

Từ Hưng Lương trở vào, thỉnh thoảng có đôi ngọn núi đá mọc lên sát mé biển, thành bờ biển có nhiều chỗ nổi cao, gập ghềnh khúc khuỷu. Từ Dốc Ngựa vào đến Phương Mai thì bờ biển toàn là gành đá, thỉnh thoảng mới có đôi dải cát viền chân non.

Từ Bắc vào Nam, dọc theo bán đảo Triều Châu có nhiều vũng như vũng Nồm, vũng Bấc, vũng San hô.
Vũng Nồm, vũng Bấc có nhiều cá. Còn vũng San hô thì có nhiều san hô. Trên bờ vũng có một làng cũng lấy tên là San hô. Dân cư thường lấy san hô ở vũng bán cho thợ hầm vôi.

Ngoài khơi rải rác một ít cù lao nhỏ. Được người hàng hải để ý là hòn Cỏ và hòn Cân ở trước mặt núi Hưng Lương, cách chừng hơn một hải lý. Và tại vũng San hô có hòn Khô làm bình phong che cho làng San hô bớt gió.

Ở Bình Định, mùa hè, gió Nam thổi rất mạnh, nhiều khi thổi trốc cả cây cối, nhà cửa. Vùng biển dọc theo triền phía đông bán đảo Triều Châu, ngọn gió thổi lại còn mạnh gấp bội nhất là tại Eo Vược. Người ta gọi là Nam Lò. Ghe thuyền đi qua gặp lúc Nam Lò thổi mạnh thì khó tránh khỏi tai nạn. Cho người đi biển có câu:

Cha chết không lo,
Hỏi thăm Nam Lò thổi dịu, hay săng.

Qua khỏi vũng San hô thì đến mũi Mác tức mũi Yến, một mũi đá nhọn hoắc đâm thẳng vào Nam. Mũi Mác là điểm cuối của dãy Triều Châu. Từ mũi Mác chạy lên tây, qua hòn Mai, đến Gành Hổ tức Hổ Ky, thì bờ biển là chân núi, sóng vỗ gành cao, bãi cát chỉ bày ra khi nước xuống.

Hổ Ky trở mũi lên thành phố Quy Nhơn. Lưỡi cát Quy Nhơn lại chạy dài xuống Phương Mai. Đầu lưỡi dài và thỏn trông như cổ con rùa nằm sát đất và ngó nghiêng vào nam, tục gọi là mũi Cổ Rùa, sách gọi là qui Cảnh Chủy. Mũi Cổ Rùa và gành Hổ giao lại với nhau như hai chiếc răng nanh, làm hai cánh cửa cho đầm Thị Nại. Theo các thầy địa lý, cuộc đất có hình thế "Thủy khẩu giao nha" như thế rất tốt.
Từ Cách Thử đến Phương Mai, bài ca của ông Kiều tiếp rằng:

Thương cha nhớ mẹ ngùi ngùi,
Hòn núi Cách Thử có người bồng con.
Nhớ người hẹn nước thề non,
Lòng ghi dạ tạc bồng con để đời.
Vũng Nồm vũng Bấc xem chơi,
Trong vịnh ngoài vời thấy hòn Cỏ, Cân.
Nam lò Eo Vược rần rần,
San hô, mũi Mác ăn lần hòn Mai…
Cửa Giã có hòn án ngoài…

Cửa Giã nói trong bài ca là cửa Thị Nại.

Cửa Thị Nại

Cửa Thị Nại thường gọi là cửa Quy Nhơn, là một cửa biển quan trọng nhất của Bình Định.

Từ đời Chiêm Thành cho đến đời Tây Sơn, đời nhà Nguyễn, Thị Nại luôn luôn có quân đóng để phòng ngự. Ở hai bên cửa có đồn lũy kiên cố, hiện còn sót lại đôi dấu tích ở Phương Mai.

Thị Nại hiện nay là một thương cảng, xưa kia là một hải tấn, có quan Tấn thủ coi giữ. Nơi quan Tấn thủ đóng lỵ sở ngày trước, nay gọi là xóm Tấn và chiếc cầu nơi mũi Cổ Rùa gọi là Cầu Tấn. Cầu này có từ đời Chiêm Thành, xây bằng đá, nên sử chép là Thạch Kiều, thời Pháp được sửa lại, đúc bằng xi măng cốt sắt.

Đó là lai lịch xóm Tấn và cầu Tấn.

- Còn vì sao gọi là cửa Giã?

- Giã là làm cá. Trước kia nơi lưỡi cát Quy Nhơn chỉ có người chài lưới ở để làm nghề mà thôi, và cửa Quy Nhơn, thời bình, chỉ có ghe thuyền đánh cá ra vào hàng ngày, cho nên mới gọi là cửa Giã.

- Còn tên Thị Nại do đâu mà ra?

- Các nhà khảo cổ Tây phương cho biết rằng do tiếng Chiêm Thành Thi Lị Bị Nại sau gọi tắt là Thị Nại.

Tên Thị Nại chẳng những dùng để chỉ cửa biển, mà còn dùng gọi luôn đầm nước ở phía Bắc, vùng biển ở phía Nam và lưỡi cát chạy ở giữa đầm và biển. Sau khi đặt nền đô hộ lên đất nước Việt Nam, Pháp mới đổi tên đất và tên biển ra Quy Nhơn. Tiếng Thị Nại từ ấy chỉ còn dùng để gọi tên đầm.

Quy Nhơn

Bờ biển Quy Nhơn hình lưỡi liềm, mà mũi là Cầu Tấn và cán là Gành Ráng. Lưỡi liềm "bằng bạc" sáng ánh, dài trên năm cây số, luôn được sóng biển cọ mài cho thêm bén thêm xinh. Người địa phương có câu:

Gió Cầu Tấn trưa chiều thổi mát,
Bãi Quy Nhơn mịn cát dễ đi…
Phương Mai Gành Ráng tương tri,
Ngâm câu "thủy tú sơn kỳ…" thảnh thơi…

Qua khỏi 5 cây số "cát mịn dễ đi", đến Gành Ráng thì dãy Nam Sơn chạy xuống sát biển, nên bờ biển nổi cao. Nơi đây gò đống nổi cao, hang hốc hê hủng, gành cao sóng vỗ, khí thế thật là hùng hiểm, khôi kỳ.

Gành Ráng tên chữ là Nhạn Châu, ở phía Tây Nam, cùng với núi Phương Mai ở phía đông bắc, làm hai cánh cửa ngoài che cửa biển Quy Nhơn.

Qua khỏi Gành Ráng đến Quy Hòa, thì núi lại rút lên phía tây để tiếp tới núi Cù Mông, nên bỏ trống một vùng đất bằng rộng độ vài trăm mẫu. Do đó bờ biển hạ thấp xuống, và chạy độ vài ba cây số thì đến chân núi Cù Mông chạy sát biển, sóng bạc gành đen…

Đến đây là cuối tỉnh Bình Định.

Nhưng cách Cù Mông chừng hai hải lý về phía đông nam và cách thành phố Quy Nhơn chừng ba hải lý về phía nam, có một cù lao to lớn, tên chữ là Thanh Châu Dự, tục gọi là Cù Lao Xanh. Trên đảo có đài hải đăng.

Từ Gia Long trở về trước, đảo này thuộc về Phú Yên. Đến triều Minh Mạng mới cải thuộc Bình Định.

Đó là bức bình phong che gió cho cửa Quy Nhơn.

Trong bài ca của ông Kiều, có câu:

Cửa giã có hòn án ngoài,
Các lái chạy ngoài gọi hòn Lao Xanh.

Từ trước đến nay cửa Thị Nại tức cửa Quy Nhơn, đã chứng kiến bao cuộc hưng vong và các trận đánh mà sự kiện vẫn còn ghi trong sử sách.

Đời nhà Lý (1010-1225) ở nước Chiêm Thành, các bộ lạc làm phản. Vua Chiêm sai sứ ra cầu cứu vua nhà Lý. Lý Thánh Tông (1054-1072) sai người con thứ tám là Oai Minh Vương đem thủy binh vào giúp. Oai Minh Vương vào cửa Thị Nại, đóng binh dưới núi Phương Mai, được vua Chiêm Thành ngự giá nghênh kiến. Các bộ lạc nghe đức của Oai Minh Vương, rủ nhau kéo đến quân môn, lạy lục xin tuân theo mệnh vua Chiêm Thành, không dám đem lòng phản trắc nữa. Sứ mệnh xong, Oai Minh Vương kéo quân về nước. Vua Chiêm Thành nhớ công đức lập đền tại Phương Mai phụng tự.

Đời nhà Trần, năm Giáp Thân (1284), vua nhà Nguyên sai con là Thoát Hoan cùng các tướng Toa Đô và Ô Mã Nhi dẫn 50 vạn quân, giả tiếng, mượn đường Việt Nam, sang đánh Chiêm Thành. Thoát Hoan chia binh làm hai đạo. Một đạo đi đường bộ qua ải Nam Quan. Một đạo đi đường thủy kéo thẳng vào cửa Thị Nại, do Toa Đô chỉ huy. Quân Chiêm Thành để cho quân Toa Đô vào cửa, nhưng giữ các đường hiểm yếu không cho tiến, Toa Đô đánh mãi không được, phải bỏ Thị Nại theo đường bộ ra Nghệ An. Đến đây bị quân ta đánh phải chạy ra bắc, và sau mấy trận kịch chiến, Toa Đô bị quân ta giết chết tại trận Tây Kết.
Năm Bình Thìn (1376), vua Trần Duệ Tông cử 12 vạn quân vào đánh Chiêm Thành. Tháng giêng năm Đinh Tỵ (1377) tiến vào cửa Thị Nại. Quân Chiêm Thành không chống cự. Quân Trần Duệ Tông chiếm cứ đồn Thạch Kiều và động Kỳ Mang (tức vùng Quy Hòa, Gành Ráng và động cát ở chân núi Xuân Quang). Đắc thắng quân nhà Trần kéo lên đánh thành Đồ Bàn. Chế Bồng Nga lập mưu và đánh thắng tiêu diệt gần hết tướng sỹ.

Sang đời nhà Hồ, năm Quí Mùi (1403), quân Hồ Hán Thương lại vào Thị Nại để đánh Đồ Bàn một lần nữa, nhưng hao bao nhiêu xương máu rốt cuộc không thắng.

Nhưng đến đời Lê (1428-1527), vận mệnh nước Chiêm Thành lần lần xuống… Năm Canh Thìn (1470) là năm Hồng Đức nguyên niên, vua Lê Thánh Tông cử hơn 20 vạn tinh binh vào đánh Thị Nại. Quân Chiêm Thành chống giữ kịch liệt, nhưng khí thế quân vua Lê quá mạnh, vua Chiêm Thành là Trà Toàn phải bỏ Thị Nại, rút quân về giữ thành Đồ Bàn. Từ thời Lê Thánh Tông đến thời chúa Nguyễn Phúc Thuần, gần 300 năm (1470-1744), biển Thị Nại được gió yên sóng lặng, chất nước đã trở nên trong. Đến cuối thế kỷ 19 trở về sau, đầm Thị Nại chứng kiến các trận đánh giữa hai nhà Nguyễn. Trận đánh đầu tiên của hai họ Nguyễn trên biển Thị Nại là trận năm Nhâm Tí (1792). Trận này có tướng Pháp là Dayot và Vannier, tục gọi là Nguyễn Văn Phấn, Nguyễn Văn Chấn giúp sức. Chỉ huy thủy quân của Tây Sơn là đô đốc Nguyễn Thành. Lúc bấy giờ gió nam thổi mạnh. Quân Nguyễn Ánh dùng hỏa công đốt cháy thủy trại Tây Sơn. Đô đốc Thành chống giữ không nổi, phải chạy lên thành Quy Nhơn (tức thành Đồ Bàn cũ). Nguyễn Ánh đổ bộ, song liền đó bị đại binh ở thành Quy Nhơn kéo xuống đánh lui.

Qua năm sau, thủy quân Nguyễn Ánh lại ra đánh Thị Nại lần thứ hai. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai thái tử là Nguyễn Bảo cầm quân chống giữ. Nguyễn Bảo bị thua, thành Quy Nhơn bị khổn. Vua Thái Đức phải cầu cứu Phú Xuân. Quân cứu viện vừa đến, Nguyễn Ánh liệu không chống nổi liền rút binh về. Quân Tây Sơn trọn thắng, nhưng thắng ở mặt ngoài mà nội bộ trở thành mâu thuẫn: Cháu giết bác để cướp đất đai. Nhà Tây Sơn lần xuống.

Năm Kỷ Vị (1799) Nguyễn Ánh cử đại binh ra đánh Quy Nhơn. Thủy quân vào cửa Thị Nại vào giữa mùa hạ, đồng thời lục quân từ Diên Khánh kéo ra, bị đánh hai mặt, quân Tây Sơn đại bại. Thành Quy Nhơn và thành Thị Nại vào tay Nguyễn Ánh.

Nhưng qua năm sau, tức năm Canh Thân, quân Phú Xuân do Trần Quang Diệu chỉ huy vào đánh lấy Thị Nại giao cho Võ Văn Dũng trấn giữ, rồi kéo quân lên vây đánh thành Quy Nhơn (lúc bấy giờ Nguyễn Ánh đã đổi tên là Bình Định). Nguyễn Ánh được tin Quy Nhơn bị khổn, bèn cử đại binh ra cứu viện. Võ Văn Dũng dùng ba chiếc đại thuyền định quốc và hơn trăm chiếc thuyền chặn ngang cửa biển, lại sai đắp đồn bảo ở Gành Ráng và Phương Mai, đặt súng lớn bắn xuống. Quân Nguyễn Ánh không thể tiến phải rút lui.

Qua năm sau, tức năm Tân Dậu (1801) đợi mùa gió nam thổi, Nguyễn Ánh khiến chế tạo chiến cụ hỏa công, rồi sai Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy, Nguyễn Văn Trương đem đại binh ra đánh Thị Nại. Mặc dù cố gắng tả xông hữu đục, hải thuyền của nhà Nguyễn vẫn không thể vào nổi. Biết không thể dùng sức, tướng nhà Nguyễn bèn dùng mưu. Nguyễn Văn Trương cho gián điệp trà trộn vào quân Tây Sơn lấy khẩu hiệu, rồi đang đêm cởi thuyền nhỏ lẻn vào Hổ Ky, nổi lửa đốt thủy trại. Võ Văn Dũng đương chỉ huy trận tiền thấy lửa cháy ở hậu cứ, thất kinh chia binh trở vào cứu. Võ Di Nguy thừa cơ cởi hải đạo thuyền lướt vào lòng địch. Súng trên đồn bắn xuống, Võ Di Nguy bị trúng đạn chết. Lê Văn Duyệt đốc binh tiếp theo, liều chết vượt khỏi tầm súng. Quân Tây Sơn vẫn giữ đồn bảo cự chiến. Tiếng súng vang trời. Thấy thuyền nhà Nguyễn xông vào, thuyền Tây Sơn chận đánh. Khi hai bên giáp chiến, Lê Văn Duyệt thừa ngọn gió nam thổi mạnh nổi hỏa công. Lửa cháy rần rật và theo gió tạt vào đoàn thuyền Tây Sơn. Gió thổi càng mạnh, lửa cất càng cao. Ánh sáng rực cả mặt thuyền, ngất cả tầng mây và tiếng súng nổ tiếng quân hò reo rầm trời dậy đất. Quân nhà Nguyễn bị chết rất nhiều, nhưng thuyền Tây Sơn bị đốt gần hết. Võ Văn Dũng không chống nổi, phải bỏ Thị Nại kéo quân lên hợp cùng Trần Quang Diệu giữ những nơi hiểm yếu khác.

Trận này là trận lớn nhất giữa hai nhà Nguyễn ở trên biển Thị Nại và cũng là trận sau cùng.

Từ ấy quân nhà Nguyễn giữ vững Thị Nại.

Khi Gia Long lên ngôi rồi vẫn đóng thủy trại ở Thị Nại để canh phòng.

Năm Minh Mạng thứ 7 (1826) cho xây lại Thượng Lộc (tức Cẩm Thượng) một thành đất chu vi 48 trượng bốn thước, cao sáu thước, mở một cửa. Phía đông cửa tại Hổ Ky lại xây một kỳ đài và 12 pháo mô. Đồng thời đặt chức Thủ ngự và Hiệp thủ đến coi việc canh phòng. Phủ sở đóng tại Thượng Lộc. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) làm thêm một kho ngói, hàng năm trữ 30 ngàn hộc lúa, để tải đi các nơi.

Năm Tự Đức thứ 18 (1865) đặt sở Hải Phòng tại Thị Nại, phía sau Hổ Ky đắp một lũy dài ba trượng có bốn pháo mô, gọi là lũy Thuyền Úc, tức Vũng Tàu và mộ dài ba trượng có năm pháo mô, gọi là lũy Quỳnh Đế. Việc canh phòng rất nghiêm ngặt.

Nhưng năm Ất Dậu, lấy xong kinh đô Huế, quân Pháp đổ bộ lên Thị Nại, xả súng bắn vào các thành lũy đồn bảo. Quân ta không chống cự nổi phải đầu hàng. Pháp chiếm đóng Thị Nại dùng làm căn cứ quân sự đến khi đã dẹp yên phong trào Cần Vương đặt vững nền đô hộ lên đất nước Việt Nam. Chánh quyền thực dân dùng Thị Nại làm lỵ sở và đổi tên là Quy Nhơn, mượn tên cũ thời vua Lê chúa Nguyễn để ngụ ý rằng nơi đây là nơi quy tụ nhân nghĩa, chớ không phải nơi bị giặc Tây di đánh cướp như lời các sỹ phu đương thời đã bảo.
Những cơ sở quân sự của ta ở Thị Nại từ khi Pháp làm chủ lãnh thổ đều bỏ hoang. Nhưng mãi đến triều Thành Thái (1889-1907) mới triệt hạ.

Như thế, cửa biển Quy Nhơn, tức Thị Nại ngày nay là một thương cảng phồn thịnh, nhưng xưa kia là vũng chiến trường. Cho nên thời Pháp thuộc, Trường Xuyên có bài thơ hoài cổ rằng:

Thị Nại xưa kia vũng chiến trường,
Nổi chìm thế sự mấy triều Vương…
Non mây nghi ngút nơi binh dữ,
Biển ráng chưa tan bọt máu hường.
Nhạn lãnh sóng vờn gương đế bá
Phương Mai rừng đắp vết tang thương.
Bùi ngùi ngắm cảnh quay trông lại
Lớp lớp xe ai rộn phố phường!

(Vùng núi tại Gành Ráng tên là Nhạn Châu lãnh. Tại nơi gành phía đông, thời Pháp thuộc có xây biệt thự để vua Bảo Đại nghỉ mát, tục gọi là lầu Bảo Đại. Lầu đã bị phá hủy năm 1949. Và gọi là Gành Ráng không phải là Ráng trời. Người đi biển có bốn tiếng để lái thuyền: Cay: cho thuyền từ phải qua trái; Biết: cho thuyền từ trái qua phải; Nhượng: xoay mũi thuyền theo đầu gió; Ráng: đổ gió trong buồm ra, xoay mũi theo cuối chiều gió. Thuyền hễ qua Gành này thì phải đổ gió nên gọi là Gành Ráng...)

Bờ biển Bình Định qua khỏi Qui Hòa là dừng, để cho Cù Mông chạy tiếp vào Phú Yên với ghềnh với vũng… khiến đất tuy chia ranh giới hẳn hoi, nhưng tình hình đất nước từ bắc vào nam không bao giờ gián đoạn.


Đầm ao

Bình Định có ba đầm lớn, kể từ Bắc vào Nam:

- Đầm Trà Ô

- Đầm Đạm Thủy

- Đầm Thị Nại

Cả ba đều nằm dọc theo bờ biển, nước xà hai.

Đầm Trà Ô

Tục gọi là Bàu Bàn, nằm trong cánh đồng Phù Mỹ, cách biển chừng ba cây số về phía tây. Ba mặt bắc tây nam đều là núi, hợp thành một tòa "nhà chữ môn" vĩ đại, mà đầm Trà Ô là khoảnh hồ ở trước sân.

Đầm rộng chừng 13, 14 cây số vuông. Bề ngang từ tây xuống đông, chỗ hẹp trên dưới một cây số, chỗ rộng cũng đến ba cây số. Các khe suối ở các núi ở ba mặt đều chảy vào đầm. Có hai con suối được khách phương xa biết tên nhiều nhất là suối Đập Đãng ở Phú Nhiêu chảy ra và suối Đập Khê ở phía tây chảy xuống. Ngày xưa đầm và biển tiếp xúc với nhau luôn luôn nhưng từ khi cửa Hà Ra bị lấp thì chỉ mùa nước lụt mới lưu thông. Nhờ các khe suối và nhờ không ảnh hưởng thủy triều biển cả, nên đầm Trà Ô luôn luôn đầy, nước đầm không mặn lắm.

Trong đầm, gần bờ phía tây, nổi lên một cù lao nhỏ, cây cối sum sê. Truyền rằng trong rừng cây có quỷ thần ở nên người địa phương rất tôn kính, không ai dám xúc phạm.

Phía nam cù lao nước đầm sâu, làm chỗ nuôi cá. Phía bắc nước cạn, làm nghề trúc đăng. Từ trước đến nay, hai thôn Châu Giang và Trúc Võng trưng thuế đánh cá trong đầm.

Cá tôm trong đầm rất nhiều. Có tiếng nhất là chính và tép. Chình có chình mun và chình bông, thịt ngon và bổ. Còn tép thì bán tươi không hết phải phơi khô để chở đi bán ở các nơi xa. Ca dao có câu:

Rủ nhau mua tép Trà Ô,
Sẵn bờ cát trắng phơi khô đem về.

Phía đông Trà Ô, có hai đầm nhỏ. Một nằm ở hướng bắc tại An Bình, gọi là Bình Hồ Hải Đông Đàm, gọi tắt là Bình Hồ. Một ở phía nam tại Thanh Thủy, gọi là Thúy Ky Đàm.

Bình Hồ hình giống bàn tay trái nắm và chỉ vào nam, chung quanh có một dòng suối bao bọc, nhưng nước đàm và nước suối thường không liên lạc với nhau.Trông thật ngộ nghĩnh.

Còn Thúy Ky thì hình thoi, đầu phía nam đón nước suối từ núi Lạc Phụng chảy ra, đầu ngoài lưu thông với Trà Ô do một con nước hẹp và dài chừng một cây số chảy ra bắc dọc theo bờ Trà Ô rồi chuyển lên tây giáp đầm.

Có thể ví đầm Trà Ô là con gà mẹ, và đầm Bình Hồ, đầm Thúy Ky là cặp gà con. Phong cảnh khá ngoạn mục. Phải chi có thêm hai hồ nữa thì chúng ta có thể thực hiện được trong phạm vi nhỏ hẹp, thú "huề Tây Thi du Ngũ Hồ" của Phạm Lãi.

Đầm Đạm Thủy

Tục gọi là đầm nước ngọt, nằm một nửa ở Phù Mỹ, một nửa ở Phù Cát, có hình chữ nhật cạnh hơi đều. Bề ngang từ tây xuống đông trên dưới ba cây số. Bề dài từ bắc vào nam chừng sáu cây số.

Núi Lạc Phụng của Phù Mỹ làm cánh cửa phía bắc. Núi Bô Chinh tức núi Bà của Phù Cát làm cánh phía nam. Tây là lưu vực sông La Tinh và các con sông nhỏ. Phía đông là động Bạch Sa từ Tân Phụng đến Vĩnh Lợi.

Đầm đón nước sông La Tinh và các khe suối ở Lạc Phụng Bô Chinh chảy vào, rồi chảy ra biển qua cửa Đề Gi.

Gọi là đầm nước ngọt, nhưng nước đầm không được như vậy. Bằng chứng cụ thể là ở quanh đầm, ba mặt bắc tây nam có bảy thôn lấy nước đầm làm muối, kể từ nam ra bắc là: Thạch An, Đức Phổ, An Xuyên, An Hoan, Hưng Lạc và Xuân Cảnh. Danh thực thật khác nhau xa. Nhưng chẳng phải riêng gì đầm mới có sự trái ngược. Ở Hoài Nhơn có con suối chạy từ Phụng Du xuống sông Tam Quan. Trên suối, cách Q.L số 1 chừng 300 thước về phía tây có một cái cầu. Nước dưới cầu vẫn là nước ngọt. Nhưng cầu lại mang tên là cầu nước mặn. Dựa vào chỗ danh không đi đôi với thực, nên bạn gái thường hát đố bạn trai:

Tiếng đồn chàng hay chữ,
Tài ngang tú cử,
Lại đây em hỏi thử đôi câu:
Ngọt ngay nước chảy dưới cầu,
Gọi "cầu nước mặn" cớ bởi đâu hỡi chàng?
Lâm thế bí, bên trai bèn mượn đầm nước ngọt mà gỡ:
Thật thà là thói hồng nhan,
Ăn xuôi nói ngược thá gian lạ gì!
Mặn chằng nước vũng Đề Gi,
Gọi đầm nước ngọt lẽ gì hỡi em?

Chàng không đáp được, nàng cũng không đáp được, thành huề cả làng.

Có người cho biết rằng:

Xưa kia nước biển lên đến vùng Phụng Du, theo sông Tam Quan những khi thủy triều lớn. Sau cửa sông và lòng sông bị bồi cạn, nước mặn không lên được nữa, lớp đất trên trôi hết muối, không còn ảnh hưởng đến nước nguồn, nhưng nếu đào nơi vùng cầu, sâu xuống chừng vài sải thì có mặn ngay.

Có người lại bảo:

Gần đó có mỏ calcium hay sodium nên nước chịu ảnh hưởng, chớ không phải do nước biển ngày xưa còn đọng ở dưới lớp đất sâu.

Chưa biết bên nào phải, vì chưa ai thí nghiệm.

Còn về đầm nước ngọt thì nghe truyền rằng:

Năm Giáp Ngọ (1774) chúa Nguyễn là Định Vương bị họ Trịnh ở mặt bắc, nhà Tây Sơn ở mặt nam, đánh mạnh, liệu không chống nổi, bèn cùng cháu là Nguyễn Phúc Ánh xuống thuyền chạy vào Gia Định. Vội vã không kịp trữ nước uống. Nửa đường Định Vương cùng đoàn tùy tùng đều bị khát. Thuyền ghé vào động Bạch Sa, nhưng tư bề đều nước mặn. Vào xóm sợ quân của Tây Sơn bắt gặp, Nguyễn Ánh bèn ngửa mặt lên trời khấn: "Nếu Hoàng Thiên chưa dứt nhà Nguyễn thì xin ban cho nước ngọt". Đoạn truyền đào cát thành lỗ: ai nấy đều hết sức vui mừng vì toàn là nước ngọt (Ở Bình Định thì truyền như thế. Còn ở các nơi thì truyền rằng Nguyễn Ánh được nước ngọt ở giữa biển. Không có gì lạ nếu biết rằng dưới biển vẫn có dòng nước ngọt chảy. Nơi mà Nguyễn Ánh đào giếng hiện còn dấu, tục gọi là giếng Bẹn ở dưới chân Hòn Lang).
Do đó, đầm mới lấy tên là nước ngọt.

Nếu chuyện có thật, thì cũng không có gì là huyền bí linh thiêng cả. Hiện giờ nếu chúng ta đào quanh đầm, cách mé nước chừng vài thước thì vẫn có nước uống được chớ không đợi phải cầu trời xanh trời vàng, mà chẳng phải chỉ bờ đầm nước ngọt mới có đặc điểm ấy. Ở Quy Nhơn, Phương Mai… người chài lưới cũng thường đào giếng nơi bãi cát ở mé biển để lấy nước ngọt.

Đầm nước ngọt có rất nhiều cá, nhiều hơn tất cả các đầm. Cá cũng ngon hơn cá các đầm và ngon nhất là cá làm gỏi. Có người bạn "Dân Thiên trị vì" đã nói:

Đến Đề Gi mà không ăn gỏi thì cũng như đến Thủ Đức mà không ăn nem, vào Nha Trang không ăn hải sản cước cá.

Đó là hương vị đặc biệt của đầm nước ngọt mà Đề Gi đã có công quảng cáo, cho nên đầm nước ngọt cũng gọi là vũng Đề Gi.

Đầm Thị Nại

Tên thật là Hải Hạc Đàm, nhưng tên này đã bị tên Thị Nại làm lu mờ từ khi Pháp đã thay chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ trong học đường và trong các cơ quan hành chính.

Thị Nại là đầm lớn nhất của Bình Định.

Đầm rộng trên ba nghìn mẫu tây. Bề dài từ bắc vào nam có đến 12, 13 cây số. Bề ngang từ tây xuống đông phỏng chừng 3, 4 cây số.

Các chi phái sông Côn và sông Hà Thanh đều chảy xuống đầm chia bờ phía bắc và bờ phía tây thành nhiều cửa, nhiều lạch, nhiều bãi, nhiều doi… Thành phố Quy Nhơn làm bờ phía nam, dãy Triều Châu chạy từ Cách Thử đến Phương Mai làm bờ phía đông, phía ngoài cát vun trắng, phía trong non chồng xanh hô hê hóc hiểm.

Nước đầm chảy ra biển Quy Nhơn, qua hai "răng nanh giao mũi" là Gành Hổ và mũi Cổ Rùa.

Nước đầm theo thủy triều mà lên xuống. Khi lên thì lênh láng, ghe thuyền trọng tải lên xuống dễ dàng, những khi có gió thì sóng dậy như biển. Còn khi nước xuống thì ven bờ đầm bị lộ, bùn lầy lênh láng.

Trong đầm ở phía tây, gần phía Quy Nhơn nổi lên một cụm đá rộng, chừng một vài sào và cao chỉ trên mặt nước chừng một thước khi thủy triều lên. Người ta gọi là tháp Thầy Bói. Không hiểu tại sao gọi thế. Có người bảo rằng:

Xưa kia có một bốc sư bói hay như thần, xây một tòa tháp nơi đó. Ai muốn bói thì phải chịu khó đi thuyền ra. Sau khi bốc sư qua đời, không có người coi ngó bị sóng gió phá hoại.

Lại có người bảo:

Thầy Bói đây không phải là bốc sư, mà là tên của một giống chim ăn cá, lớn bằng bắp tay, lông xanh, ức đỏ, mỏ dài, tương tợ chim sa sả. Các nơi gọi là chim bói cá. Người Bình Định gọi là chim thầy bói. Giống chim này thường tụ nơi khóm đá để bắt mồi. Khóm đá dáng tròn tròn nho nhỏ trông như ngọn tháp, nên gọi là tháp Thầy Bói.

Thuyết sau có lẽ đúng hơn bởi vì ở phía bắc tháp Thầy Bói tại bờ phía tây của Thị Nại, nơi Gành Đăng (cửa sông Làng Sông) có một bãi cát rộng tên là Nhạn Chủ, tức bãi Nhạn. Nhạn là giống chim ăn cá như thầy bói, lớn bằng cổ vế, lông trắng cánh dài, giống này thường tụ tập nơi bãi hàng ngàn hàng vạn để nghỉ ngơi sau khi mồi no cánh mỏi.

Chim thầy bói thì chiếm tháp; chim nhạn thì chiếm bãi; nên có tên tháp Thầy Bói và bãi Nhạn.

Trước kia đi thuyền ngang qua tháp Thầy Bói và bãi Nhạn, chúng ta được thưởng thức cảnh:

Nước biếc dờn thu hồng thúy điểm,
Cát vàng trải nắng phấn ngân phơi.

Cách Bãi Nhạn chừng bảy cây số về phía bắc có một làng từ đời Gia Long đến đời Bảo Đại, dân làng được miễn sưu miễn thuế. Đó là làng Dương Thiện, thuộc huyện Tuy Phước.

Vì sao lại được đặc ân ấy?

Truyền rằng:

Lúc Định Vương Nguyễn Phúc Thuần cùng Nguyễn Phúc Ánh chạy vào Gia Định đến cửa Cách Thử thì dây chèo bỗng đứt. Trời lại tối, gió bấc thổi mạnh, sóng bạc trùng trùng. Thuyền Nguyễn Vương dạt vào cửa rồi trôi thẳng vào đầm Thị Nại (Cửa Cách Thử lúc bấy giờ chưa bị lấp, và thông lưu cùng đầm Thị Nại). Mịt mờ bốn mặt, không biết nên vào núp nơi đâu. Đương lo sợ phân vân thì chợt nghe tiếng "khịt khịt" ở trước mũi thuyền. Nhìn xem thì thấy một con rái cá to lớn nổi lên mặt nước, lưng óng ánh màu ngân. Rái vừa bơi vừa kêu, như mời như rủ. Nguyễn Vương liền truyền bơi thuyền theo. Rái trước thuyền sau. Đi được một chặng đường thì rái nhảy lên bờ, thuyền theo rái mà cập bến.

Nơi thuyền gặp rái thuộc địa phận làng Vinh Quang. Nơi rái đưa thuyền vào bờ thuộc địa phận làng Dương Thiện. Nguyễn Vương cùng đoàn tùy tùng được tiếp đãi trọng hậu.

Sau khi lên ngôi, vua Gia Long nhớ ơn cứu nạn, phong cho rái chức Đại Tướng Quân, lập đền thờ tại lăng Vinh Quang và xuống chiếu miễn sưu thuế đời đời cho toàn dân làng Dương Thiện. Bởi vậy trong thời phong kiến, ai cũng muốn tịch vào Dương Thiện. Và vì được vua phong làm Đại Tướng, Rái trở thành một vật linh thiêng. Người trong vùng đều gọi bằng "Ông" (Ông Rái) và không ai dám sát hại. Nếu bị phá lưới phá đăng để ăn trộm cá, thì đành vái "Ngài đoái thương". Do đó những kẻ không tài không đức mà có chút ít công lao cùng kẻ có quyền thế rồi được lên một địa vụ cao sang, người Bình Định thường gọi là "Tướng Rái".

Ở mé đông bắc đầm, dưới chân dãy Triều Sơn tại thôn Huỳnh Giản (Tuy Phước) có đền thờ bà Cố Hỷ.
Bà Cố Hỷ sống vào thời đại nào không được rõ, có lẽ đã lâu đời lắm nên có nói những việc quá cũ kỹ, người Bình Định thường nói "Từ đời bà Cố Hỷ Cố Lai". Bà nuôi trâu rất nhiều. Sau khi bà qua đời, trâu không người chăn, phá chuồng lên núi, lâu ngày thành trâu hoang. Trước đây trên dãy núi Triều Sơn có nhiều trâu rừng, người ta bảo đó là trâu bà Cố Hỷ.

Đền thờ bà Cố Hỷ do nhân dân sở tại lập, đền ngó xuống sông. Mỗi năm vào tiết xuân thiên, nhân dân trong thôn kết thuyền ở trước đền làm sân khấu, rước bạn hát bội đến hát để cầu bà phù hộ cho biển lặng sóng êm, chài lưới được nhiều cá.

Cuối thôn Huỳnh Giản, về phía nam, sát mé đầm có một rừng rậm, bùn lầy sập sình và mọc toàn cây chại. Trong rừng có nhiều trăn, ít người dám tới. Vùng ở quanh rừng gọi là bến Trảy.

Nơi bến Trảy có một cái khe gọi là khe đá. Hai bên khe nổi lên hai ngọn núi đất đen, cao chừng 59 thước, mọc toàn cây tràm.

Truyền rằng ở dưới khe có con cù to lớn, đầu quay ra Hòn Bà, đuôi trở vào Phương Mai, thỉnh thoảng cựa mình làm cho cát bồi đất sụp. Khe đá và núi đất đen tại bến Trảy do con cù mà ra. Từ khi ông Núi đến cất chùa tại núi Phương Phi, thuộc hòn Bà, thì cù không cựa quậy được nữa. Nhân dân trong vùng được bình yên.

Tại Huỳnh Giản lại có một bến đò đưa "nậu rổi" ở vùng Triều Châu sang Tân Giản để đi chợ Gò Bồi (phía tây đầm). Nậu rổi toàn là đàn bà con gái, sáng sớm đi chợ bán tôm cá, trưa về Tân Giản nghỉ ngơi, đợi xế chiều đò Huỳnh Giản sang đưa về nhà. Lúc nghỉ ngơi, trai gái thường giao duyên gặp vui xa nhớ. Nên ca dao có câu:

Vui thời một chút ngọt bùi,
Bước qua thân dậu ngậm ngùi nhớ thương.

Kể cũng tình tứ lắm!

Cá ở Triều Chân đem sang các chợ bán là cá biển. Cá đầm Thị Nại cũng rất nhiều, ăn không hết, bán không hết. Người ở quanh đầm dùng làm nước mắm và phơi khô đem bán cho người dân tộc thiểu số vùng cao nguyên.

Cá Thị Nại, Triều Châu ngon không thua cá nước ngọt. Có tiếng ngon nhất là cá nục. Giống cá này có nhiều thứ, được ưa chuộng nhất là cá nục vọng, bị "hất hủi" là cá nục gai. Vì vậy, để bênh vực cá nục gai các chị bán cá vừa bán vừa hát:

Cá nục gai bằng hai cá nục vọng,
Vợ chồng nghĩa trọng,
Nhơn ngãi tình thâm
Xa nhau muôn dặm cũng tầm
Gặp nhau hớn hở tay cầm lời trao.

Cũng ý vị lắm. Dù cá không ngon, chỉ nghe cũng đủ thấy ngon rồi vậy, huống hồ "cá nục Thị Nại ăn mãi không nhàm", cho nên khách phương xa có đến Gò Bồi và Quy Nhơn không nên quên nếm thử cá nục.
Nguồn lợi của đầm Thị Nại chẳng phải chỉ có tôm và cá. Tại bờ phía tây, từ Hưng Thạnh ra tới Bình Thới, ruộng muối thênh thang.

Thành phố Quy Nhơn phồn thịnh, một phần nhờ đầm Thị Nại. Chẳng những nhờ về sản phẩm mà còn nhờ mặt "phong thủy". Theo các thầy địa lý thì mũi Cổ Rùa và Gành Hổ là hai cái răng làm cho đầm Thị Nại trở nên cuộc đất "thủy khẩu giao nha" rất tốt vì nước tích trữ dồn tài lộc cho các miền xung quanh. Nghĩa là về mặt vật chất cũng như về mặt tinh thần, Quy Nhơn chịu ảnh hưởng của đầm Thị Nại không ít. Trái lại, đầm Thị Nại cũng chịu ảnh hưởng của Quy Nhơn rất nhiều vì có Quy Nhơn đầm mới mở mang về mặt thương mại, mới rộn rịp về mặt giao thông. Và từ trước đến nay, Thị Nại đã cùng Quy Nhơn chung vui chung chịu biết bao thăng trầm, suy thịnh.

Nhưng:

Quản bao thế sự thăng trầm,
Nghĩa non đá vững, tình đầm nước sâu.

Ngoài ba đầm đá vững, Bình Định còn nhiều ao, bàu. Đáng kể là:

Giao Trì

Tục gọi là ao cá sấu, ở làng Tài Lương, hội tỉnh, quận Hoài Nhơn.

Trước kia tên là Ngạc Ngư Trì, tức là ao cá sấu.

Năm Minh Mạng thứ 13 mới đổi là Giao Trì tức là ao cá nhám.

Chưa gặp người hiểu biết để hỏi rõ vì sao lại có tên là ao cá sấu và cớ gì lại đổi làm ao cá nhám.

Có hai ao nhỏ ở cạnh nhau, một ở phía bắc hình bầu dục, một ở phía nam hình giằng xay. Cả hai hợp lại thành hình chữ Sơn viết thảo.

Ngạc Đàm

Tục gọi là bàu Sấu ở dưới chân phía tây núi Kỳ Đồng, ở giữa thôn Đại Bình ở phía tây và thôn Triết Tràng ở phía đông (núi Kỳ Đồng nằm trong thôn Thiết Tràng) thuộc huyện An Nhơn.

Gọi là bàu Sấu vì xưa kia có một con cá sấu ở nơi bàu, sau bị lụt trôi đi mất.

Bàu chỉ lớn độ vài ba mẫu, nước sâu, nắng mấy cũng không cạn. Nước bàu do con suối ở vùng núi phía bắc chảy vào, rồi chảy ra bắc phái sông Côn, qua lại Đại Bình và Thiết Tràng, quanh năm phải đi đò chớ không bao giờ lội được.

Bàu rất nhiều cá, nhiều nhất là cá chép. Nhiều con lớn hàng ba bốn búng tay và dài hàng nửa sải, vảy sáng ánh như đồng, mắt đỏ ngời như lửa. Cá sông Côn đều do bàu Sấu mà ra.

Năm Đinh Hợi (1887) bàu Sấu đã chứng kiến một cuộc tranh đấu vừa anh dũng giữa nghĩa quân Cần Vương và giặc Pháp. Mai anh hùng đã dùng bàu Sấu để lập trận thủy bối đánh quân Trần Bá Lộc, tên Việt gian tay sai của thực dân. Sau trận này, nghĩa quân bị tan rã.

Trong bài văn tế Mai anh hùng có câu:

"Đuối tay kinh tế, hàng căn thân đóng khép Đồng Hưu;"
"Kết trận thư hùng, đoàn nghĩa sỹ máu trôi Bàu Sấu"

Ở Tuy Phước có:

Chằm Kim Ngân ở Dương Hội, chằm Thanh Huy ở thôn Thanh Huy. Hai chằm này, nước thông nhau, một nằm ở phía đông, một nằm ở phía tây. Đầm Thanh Huy ở phía đông lại thông với vực ông Đô ở phía đông bắc. Ba chằm này nằm phía tây bắc ga Diêu Trì, dưới chân núi ông Vồ.

Ở dưới chân hòn Sơn Chà, có Bàu Cả ở giữa thôn Long Vân (phía bắc), Phú Tài (phía nam), và Ngọc Châu (phía đông) và đường Q.L ở phía tây. Gối đầu lên hai ngọn núi Sơn Chà, ngó mặt xuống hai ngọn núi Vân Quang.

Bình Khê và Phù Cát, không có bàu ao nào to lớn. Duy ở Đồng Tre thuộc thôn Tả Giang (Bình Khê) có một cái bàu không lớn mấy, nhưng có tiếng:

Bàu Đồn

Bàu nằm dưới một dốc cao gọi là dốc ông Mai.

Nhà anh hùng Mai Xuân Thưởng đã lập một cứ điểm quân sự (đồn bảo) để chống Pháp tại nơi bờ bàu dưới chân dốc. Bởi vậy bàu dốc mới mệnh danh là bàu Đồn và dốc ông Mai.

Đó là một di tích lịch sử nên được nhiều người lưu ý.

Các bàu ao thượng dẫn đều có nhiều cá và nước ít khi bị khô, cho nên đồng bào ở thôn quê rất quí. Nhiều nơi có thể lấp bằng để làm ruộng, những người thấy xa không bao giờ tham chút lợi trước mắt.

Ao bàu giúp cho nhà nông "bát cơm dày, khúc cá ngon", cho nên quí là phải.


----------------------

3. Thắng cảnh, cổ tích

Một tỉnh có thắng cảnh - cổ tích nhiều chừng nào thì nổi danh chừng nấy. Thắng cảnh và cổ tích ở Bình Định không hiếm.

Nhưng hầu hết du khách đến Bình Định, người trong nước cũng như người nước ngoài ngày xưa cũng như ngày nay, ai nấy cũng đều để ý trước nhất đến những cổ tích. Mà vì Đồ Bàn là đất cũ của Chiêm Thành nên cổ tích phần nhiều là dấu tích cũ của Chiêm Thành để lại. Những ngọn tháp cổ đứng sừng sững khắp đó đây và những dấu thành trì nằm dưới lớp rêu xanh sỏi đỏ.



Tháp Cánh Tiên (huyện An Nhơn), ngày xưa nằm trong thành Đồ Bàn ( ảnh Trần Hồng Phong 2013)


Các ngọn tháp

Ở Bình Định hiện còn 8 cụm tháp. Theo con Quốc lộ số 1 đi từ bắc vào nam thì trước hết chúng ta thấy hòn tháp Phú Lộc, tục gọi là Phốc Lốc, và Pháp gọi là Tour d'Or (Tháp Vàng).

Tháp đứng chon von trên ngọn thổ sơn tròn trịa, không cây cối, ở giữa cánh đồng lúa mênh mông, một nửa thuộc Châu Thành (Phù Cát), một nửa thuộc Nhơn Thành (An Nhơn).

Tháp trông có vẻ ngạo nghễ nhưng đượm sắc trầm tư.

Từ tháp Phốc Lốc đi vào một chặng đường nữa lại thấy một ngọn tháp thứ hai cũng cao ngất trời xanh và cũng nhuộm màu bể dâu như Phốc Lốc. Đứng xa nhìn hai ngọn tháp thật giống hai chiếc sừng tê giác phủ khăn đà. Có người lại bảo giống đôi đũa gắp mây trời qua lại.

Ngọn tháp thứ hai đó là tháp Cánh Tiên, chữ gọi là Tiên Dực, và Pháp gọi là Tour de Cuivre (Tháp Thau).
Tháp ở trong phạm vi thành Đồ Bàn cũ, thuộc huyện An Nhơn. Vì đứng trên một gò cao và rộng đến mươi lăm dặm nên ở xa ngó thấy tháp cao ngất, nhưng lại gần vì không thể nhìn thấu chân gò được, trông dường không lấy làm cao. Bởi vậy cảnh tháp ngó không được oai nghi bằng tháp Phốc Lốc. Và cũng như tất cả các cổ tháp khác, tháp này dưới chân đã bị nắng mưa xói mòn nhiều lắm, và trên chóp cũng có đôi chỗ sập hư.

Tháp ở cách miếu Song Trung thờ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu không xa, nên người địa phương có câu:

Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên
Cảm thương ông Hậu thủ thiền ba năm.

Và một nhà thơ đến viếng Cánh Tiên có để lại mấy vần ký thác:

Rồng thiêng tiên cỡi đi đâu?
Cánh Tiên để đó dãi dầu nắng mưa.
Cùng non tháp giữ tình xưa,
Trải bao dâu bể vẫn chưa núng lòng.
Đồ Bàn còn núi còn sông,
Còn tiên kết cánh, còn rồng tuôn mây.

(Nói đến rồng vì có núi Long Cốt bên cạnh)

Qua khỏi Cánh Tiên, đi chừng mươi cây số thì thấy trên đỉnh núi sát bên đường một nhóm bốn tháp: một ngọn lớn ở trên cao, ba ngọn nhỏ ở dưới thấp, xa trông giống hình bốn chiếc bánh ít lá gai lột trần đơm trên mâm cổ bồng vun ngọn. Đó là tháp Thị Thiện, tục gọi là Bánh Ít, thuộc địa phận Tuy Phước, Pháp gọi là Tour d'Argent (Tháp Bạc).

Tại sao gọi là Thị Thiện?

Đại Nam nhất thống chí chép: "Tương truyền có bà Thị Thiện làm quán ở chân núi để bán bánh, nên gọi là tên ấy".

Tháp gọi là Thị Thiện, núi cũng gọi là Thị Thiện. Núi nằm trong địa phận Huỳnh Kim, Vạn Bửu, Phong Niên, Đại Lộc, thuộc quận Tuy Phước. Núi đất trơ trụi và không cao (177 thước) nhưng trông có bề thế.
Dưới chân núi Thị Thiện có con sông (một nhánh của sông Côn) chảy sát đường quốc lộ. Trên sông có cầu tục gọi là cầu Bà Di, nên đi qua tháp Bánh Ít, hành khách thường nghe hát rằng:

Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di,
Sông xanh núi cũng xanh rì,
Vào nam ra bắc ai cũng đi con đường này.
Nghìn năm gương cũ còn đây,
Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu.

Theo tiếng hát mà đi xuống tới địa đầu thành phố Quy Nhơn lại có tháp Hưng Thạnh, Pháp gọi là tháp Kmer (Cờ Me), người mình thường gọi là tháp Đôi.

Mang tên là tháp Đôi là vì tháp có hai ngọn đứng song song trên khoảnh đất liền, một ngọn cao một ngọn thấp, xê xích nhau bên chín bên mười. Tháp trông có vẻ hiền lành, khiêm tốn và đối với cảnh vật chung quanh coi bộ hòa hảo, chớ không có ý cô cao, độc lập như những ngọn tháp vừa qua.

Ở phía bắc tháp có một dãy núi chạy xuống và ở phía tây có một nhánh sông (chi lưu của sông Hà Thanh) chảy ngang. Trên sông có hai cầu, một cầu xe hỏa, một cầu ô tô bắc song song. Người ta gọi là cầu Đôi.
Tháp đã đôi mà cầu cũng đôi - cũng thật hữu tình quá. Bởi vậy những cặp tình nhân thường mượn cảnh cầu cảnh tháp để ngỏ nỗi lòng với nhau. Rằng:

Cầu Đôi nằm cạnh tháp Đôi,
Vật vô tri còn đèo bồng duyên lứa,
Huống chi tôi với mình.

Lại hát nữa rằng:

Tháp kia còn đứng đủ đôi
Cầu nằm đủ cặp, huống chi tôi với nường.
Tháp ngạo nắng sương,
Cầu nương sắt đá.
Dù người thiên hạ,
Tiếng ngã lời nghiêng,
Cao thâm đã chứng lòng nguyền,
Còn cầu còn tháp, còn duyên đôi lứa mình.
Non sông nặng gánh chung tình.

Các ngọn tháp trên đây đều nằm hai bên Quốc lộ 1, Quốc lộ 19, khách du lịch đến thăm viếng được dễ dàng. Ở trái đường xe, cách Quy Nhơn chừng vài chục cây số, có tháp Long Triều ở tại thôn Xuân Mỹ và tháp Thanh Trúc ở thôn Bình Lâm. Cả hai đều thuộc Tuy Phước, đường khó đi nên ít người đến viếng.
Nếu theo dòng sông Côn đi ngược về hướng tây, cách Quy Nhơn chừng ba chục cây số, chúng ta được xem hai cụm tháp nữa là tháp Thủ Thiện và tháp Dương Long.

Tháp Thủ Thiện, người Pháp gọi là Tour de Bronze (Tháp Đồng) đứng trên một dãy gò thấp, chung quanh ruộng nương, làng xóm, thuộc thôn Thủ Thiện xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn. Tháp đứng một mình, trên đỉnh có một cây đa cổ thụ, cành lá sum sê, đứng lắc la lắc lẻo, làm cho cảnh tháp trông thêm phần cổ kính.
Tháp Thủ Thiện ở bên nam ngạn sông Côn, cách sông chừng một cây số. Tháp Dương Long ở bên bắc ngạn sông Côn và cách tháp Thủ Thiện chừng bốn năm cây số.

Tháp Dương Long gồm có ba ngọn đứng ngang nhau trên một nổng gò cao, một nửa thuộc thôn Vân Tường, một nửa thuộc thôn Trường Định, quận Bình Khê. Ngọn tháp chính giữa cao hơn hai ngọn hai bên, một mười một tám. Người Pháp gọi tháp này là Tour d'Ivoire (Tháp Ngà).

Trong các tháp ở Bình Định, tháp Dương Long ít hư hơn hết và cũng đẹp hơn hết.

Về mặt kiến trúc, tháp này về kiểu thức cũng như về cách xây dựng không khác mấy các tháp trong nước, trong tỉnh: cũng xây bằng gạch nung đỏ nhưng không thấy dấu hồ, cũng chân vuông đỉnh nhọn, kiên cố hoành tráng. Song ở những hình chạm trổ trên đá xanh nguyên khối, trang trí nơi cửa tháp, bốn phía tháp và trên đỉnh tháp trông vẫn còn rõ ràng như mới. Kỹ thuật điêu khắc thật tinh vi. Những con vật kỳ hình, dị dạng, những vị thần mặt mày dữ tợn, những vũ nữ đương múa…, được chạm khắc tỉ mỉ, đường nét mềm dẻo nhịp nhàng, trông linh động như sống. Các nhà khảo cổ nước ngoài đến Bình Định, đều tìm đến xem tháp này, ai nấy cũng đều công nhận là một trong những ngọn tháp đẹp trong các tháp Chiêm Thành còn sót lại trong các tỉnh.

Tháp Dương Long và tháp Thủ Thiện xưa kia làm móc ranh giới cho ấp Tây Sơn, nơi phát tích nhà anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và vị nguyên soái lãnh đạo phong trào Cần Vương bốn tỉnh Bình, Phú, Khánh, Thuận Mai Xuân Thưởng, mà dấu thành lũy vẫn còn nơi núi Hương Sơn cảnh tháp.

Bởi vậy khách du lịch qua nơi này thường nghe hát rằng:

Vững vàng tháp cổ ai xây?
Bên kia Thủ Thiện, bên này Dương Long.
Nước sông trong,
Dò lòng dâu bể,
Tiếng anh hùng,
Tạc để nghìn thu…
Xa xa con én liệng mù,
Tiềm long hỏi chốn, vân du đợi ngày.

Những ngọn tháp của Chiêm Thành xây lên chắc để thờ phượng. Khắp miền Trung chỉ còn một ngọn tháp còn đủ tượng thần, bàn thờ và được người Việt Nam tiếp tục lễ bái là tháp Thiên Y-A-Na ở Nha Trang. Còn tất cả đều hoang phế. Trong các tháp Bình Định, ngoài những hình tượng trang trí, không còn thấy một tượng thờ nào, cũng không còn thấy dấu bàn thờ. Lòng tháp đều trống không, lâu lâu một viên gạch cũ rơi rụng, tiếng vang dội vào trong lòng những người hay cảm cổ thương kim.

Những cảnh tháp Chiêm Thành đã khơi nguồn hứng cho nhà thơ Chế Lan Viên sáng tác tập Điêu tàn giá trị. Chế quân đã "Bên cửa tháp ngóng trông người Chiêm nữ" và còn gởi tình trong mấy vần thơ:

Đợi người Chiêm nữ

Tối hôm nay chị Hằng nghiêm nghị quá,
Dãy cây bàng đợi mộng, đứng im hơi.
Không một mối trăng ngà rung muôn lá,
Không một làn mây bạc vẩn chân trời.
Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở
Trong sương mờ huyền ảo, lắng tai nghe
Từ một làng xa xôi, bao tiếng mõ
Tan dần trong im lặng của đồng quê.
Bên cửa tháp ngóng trông người Chiêm nữ,
Ta vẩn vơ nhìn không khí bâng khuâng:
Vài ngôi sao lẻ loi hồi hộp thở
Một đôi cành tơ liễu nhúng trong trăng.
Nàng không lại, và nàng không lại nữa!
Cả thân ta dần tan trong hơi thở!
Ôi đêm nay, lòng hỡi biết bao sầu!
Kìa trời ca, trên mãi chín tầng cao,
Hồn ta bay trong một làn khói tỏa,
Chẳng biết rồi lưu lạc đến nơi nao?

Cùng với những ngọn tháp Chiêm Thành xưa, người Bình Định chung lòng hoài cổ. Bạn đến viếng cảnh, lòng tha phương chắc cũng không khác lòng địa phương.

Các dấu thành cũ

Ở bên cạnh các tháp thường có dấu thành trì.

Bên cạnh tháp Dương Long có dấu thành Cha.

Bên cạnh tháp Thủ Thiện có dấu thành Sức.

Tháp Cánh Tiên thì nằm trong phạm vi thành Đồ Bàn.

Dưới chân tháp Phốc Lốc cũng có dấu thành, song không biết là thành của người Chiêm Thành xây từ trước, hay là của người Việt Nam mới xây lúc chúa Nguyễn dời phủ lỵ Quy Nhơn ra Châu Thành.

Ở thôn Phú Phong, huyện Tây Sơn, không thấy có dấu thành, song theo sách Đồ Bàn ký của Hoàng Giáp Nguyễn Văn Hiển, thì ở đó có thành Uất Trì. Thành ở nơi nào không ai biết đích xác. Hiện ở địa hạt Phú Phong có dấu thành ở tại Núi Xanh, tục gọi là thành Bá Bích, và ở trên đỉnh núi Chớp Vàng cũng có dấu thành và một số gạch vụn rất cổ, tục truyền là thành chàng Lía. Thành Uất Trì có lẽ là một trong hai nơi đó.
Những thành Uất Trì, thành Cha, thành Sức… không biết có phải là nơi các vua Chiêm Thành đã đóng đô hay không. Ai xây và xây thời đại nào? Không thấy sách nào nói rõ. Duy thành Đồ Bàn sách sử có nói tường tận, và hiện còn nhiều dấu tích đáng xem.

Thành Đồ Bàn

Thành Đồ Bàn tục gọi là thành Cũ, nằm trên dãy gò sỏi trùm hai thôn Nam An và Bắc Thuận thuộc huyện An Nhơn.

Thành do vua Chiêm Thành Ngô Nhật Hoan xây vào thế kỷ thứ X. Tường bằng gạch, mặt hướng về nam, chu vi hơn mười dặm, có bốn cửa, kiến trúc rất kiên cố. Bên trong có dựng tháp làm bảo chướng. Bên ngoài có dãy đồi Kim Sơn làm cánh che cửa Tây, có núi Long Cốt làm tiền án và gò Thập Tháp yểm hậu. Ngoài xa nữa, khắp bốn mặt lại có núi trùng điệp sông quanh co, biển bát ngát triều ủng. Khí thật là hùng, thế thật là hiểm.

Địa thế của Đồ Bàn rất có lợi cho Chiêm Thành về mặt quân sự.

Vào cuối thế kỷ thứ XIII, vua nhà Nguyên muốn đánh chiếm nước Việt Nam, bèn sai con là Thoát Hoan cùng Toa Đô, Ô Mã Nhi lãnh 50 vạn quân Nam tiến. Quân Nguyên chia làm hai đạo, một đạo do Thoát Hoan chỉ huy, đánh thẳng sang Việt Nam, còn đạo thứ nhì gồm mười vạn thủy quân, do Toa Đô làm tướng đi đường biển vào đánh Chiêm Thành để rồi tiếp ứng đạo quân Thoát Hoan.

Quân Toa Đô rầm rộ đột nhập Thị Nại. Bị đánh thình lình, quân giữ Thị Nại bị thua. Nhưng quân Toa Đô vừa kéo lên bờ thì quân Đồ Bàn chận đánh, quân Thị Nại tập hợp lại được liền đuổi theo. Quân Toa Đô trước sau đều bị công kích, không chống nổi, phải kéo nhau chạy bộ ra Bắc và khi đến địa phận Việt Nam thì bị quân nhà Trần tiêu diệt.

Năm Bính Thìn (1376) Chế Bồng Nga đem đến Hóa Châu 15 mâm vàng để cống vua Việt Nam. Quân trấn thú Hóa Châu là Đỗ Tử Bình đã không đệ nạp, lại dâng sớ nói dối rằng vua Chiêm Thành tìm đến nhục mạ, xin vua cử binh đánh phạt. Vua Duệ Tông nghe lời, sai Hồ Quý Ly đốc vận lương thực đến cửa biển Di Luận (Quảng Bình), còn tự mình đem 12 vạn quân vừa thủy vừa bộ đi thẳng vào Nhật Lệ. Đến Nhật Lệ nhà vua đóng binh một tháng để thao diễn.

Qua tháng giêng năm sau, tức năm Đinh Tý (1377), nhà vua mới tiến quân. Binh Trần tiến vào cửa Thị Nại, khí thế rất mạnh. Quân Chiêm Thành không kháng cự, bỏ thủy trại rút hết lên thành Đồ Bàn. Quân nhà Trần lấy được đồn Thạch Kiều và động Kỳ Mang, rồi kéo lên đánh thành Đồ Bàn.

Chế Bồng Nga làm cừ sắt ngoài thành, rồi làm kế dụ, cho người sang dinh Trần trá hàng nói rằng Chế Bồng Nga liệu thế không chống cự nổi, đã bỏ thành chạy trốn rồi. Trần Duệ Tông tưởng thật, hạ lệnh tiến binh. Vừa đến chân thành Đồ Bàn thì bị phục binh ùa ra vây thành. Quân ra không đề phòng bị đại bại. Vua Trần Duệ Tông tử trận. Tướng sỹ lớp bị giết, lớp bị vướng phải cừ sắt, mười phần chết đến bảy tám.

Năm Quý Mùi (1403) Hồ Hán Thương sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem quân thủy bộ cả thảy 20 vạn vào đánh Đồ Bàn. Quân nhà Hồ vây thành hơn một tháng, mà hạ không nổi. Đợi lúc quân nhà Hồ cạn lương, quân Chiêm mới mở cửa thành kéo ra. Sức quân nhà Hồ đã kiệt, sức quân Chiêm Thành nuôi dưỡng đương mạnh, nên chỉ đánh có một trận mà quân Chiêm Thành đã đuổi được quân nhà Hồ.

Thành Đồ Bàn giữ được là nhờ địa lợi.

Nhưng về sau khí vận Chiêm Thành xuống lần lần, cho nên năm Bính Dần (1446), vua Lê Nhân Tông sai Lê Thụ và Lê Khả đem đại binh vào đánh Đồ Bàn, vua Chiêm Thành là Bi Cái không chống nổi, bị bắt đem về Thăng Long. Thành Đồ Bàn bị lấy, nhưng vua Lê trả lại cho người Chiêm và lập người khác lên làm vua thay thế Bi Cái.

Đến năm Canh Thìn (1470) vì vua Chiêm là Trà Toàn gây sự, vua Lê Thánh Tông cử hơn hai mươi vạn tinh binh vào đánh Chiêm Thành. Đến Thuận Hóa, vua đóng quân lại, một mặt cho thao luyện binh sỹ, một mặt sai người vào Đồ Bàn vẽ bản đồ để biết rõ địa thế.

Rồi tiến binh cả hai mặt, thủy bộ, một lần.

Quân nhà Lê cứ nhắm những nơi hiểm yếu mà tấn công. Quân Chiêm Thành chống không lại, rút vào thành Đồ Bàn chống giữ. Thành trì tuy kiên cố, song nhuệ khí quân Chiêm đã nhụt vì vừa bị thua, và sức lực quân nhà Lê đương hăng vì vừa được thắng, nên chỉ mấy hôm công phá, đã hạ được thành Đồ Bàn và bắt sống được Trà Toàn.

Vua Lê Thánh Tông lấy đất Đồ Bàn sáp nhập vào đạo Quảng Nam, làm một phủ đặt tên là Hoài Nhân. Thành Đồ Bàn dùng làm phủ lỵ và gọi là thành Hoài Nhân.

Sang thời chúa Nguyễn vào Nam dựng nghiệp, năm Ất Tỵ (1605), Nguyễn Hoàng đổi tên Hoài Nhơn làm Quy Nhơn.

Năm Tân Mão (1651), chúa Nguyễn Phúc Tần đổi Quy Nhơn làm Quy Ninh. Nhưng đến năm Tân Dậu (1741) chúa Nguyễn Phúc Khoát lại lấy lại tên Quy Nhơn và sang năm Giáp Tý (1744) bỏ thành Đồ Bàn cũ, dời phủ lỵ ra thôn Châu Thành.

Đến đời Tây Sơn, năm Bính Thân (1776), Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Quy Nhơn là kinh đô và sửa sang thành Đồ Bàn làm kinh thành. Thành lấy tên là Hoàng Đế Thành với quy mô rộng lớn. Thành xây toàn đá ong, cao một trượng bốn thước, dày hai trượng. Trước kia chu vi thành chỉ có mười dặm, nay mở thêm xuống mặt đông, chu vi nới thành 15 dặm. Thành cũ chỉ có bốn cửa, Nguyễn Nhạc trổ thêm một cửa nữa ở mặt thành phía trước, nơi mới xây thêm và đặt tên là Tân Môn. Còn cửa nam môn cũ gọi là Vệ Môn. Trong thành đắp nhiều thổ sơn dùng để xem thế giặc nếu rủi thành bị vây. Phía tây thành đắp đê Đỉnh Nhĩ để ngăn nước lụt. Phía tây nam đắp đàn Nam Giao để tế trời đất. Phía trong thành lại còn xây một lớp thành nữa gọi là Tử thành. Trong Tử thành, chính giữa dựng điện Bát Giác là nơi vua ngự. Phía sau dựng điện Chánh tẩm, phía trước dựng lầu Bát Giác, bên tả bên hữu dựng hai tự đường, một thờ cha mẹ ruột, một thờ cha mẹ vợ của nhà vua. Trước lầu Bát Giác lại có cung Quyển Bồng và liền với mặt nam tử thành có cửa Tam Quan gọi là Quyển Bồng Môn, xây cổ lầu nên cũng gọi là Nam Môn Lâu. Trong thành và ngoài thành bài trí la liệt những tượng đá, nào voi nào nghê, nào nhạc công nào vũ nữ, là những di tích của người Chiêm Thành còn lưu.

Thành lúc bấy giờ thật là nguy nga tráng lệ.

Nguyễn Nhạc giữ ngôi vua ở Hoàng Đế Thành được 18 năm.

Đến năm Quí Sửu (1793), Nguyễn Nhạc chết, thành Đồ Bàn lệ thuộc Phú Xuân, không còn là kinh thành nữa. Tên Hoàng Đế Thành bỏ và lấy lại tên Quy Nhơn.

Năm 1799, Nguyễn Ánh lấy được thành Quy Nhơn, và đổi tên là Bình Định.

Thành Đồ Bàn mang tên Bình Định bắt đầu từ đấy.

Nguyễn Ánh giao thành cho hai tướng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu giữ. Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu đem quân từ Phú Xuân vào đánh, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đánh không lại nên đóng cửa thành trì thủ. Lâu ngày lương cạn, tướng sĩ mỏi. Liệu không giữ nổi nữa, Võ Tánh lên lầu Bát Giác tự thiêu và Ngô Tùng Châu uống thuốc độc tuẫn tiết. Thành trở về nhà Tây Sơn. Nhưng không bao lâu, nhà Tây Sơn bị dứt (1802), thành Bình Định thuộc hẳn về nhà Nguyễn. Vua Gia Long bèn lập lăng cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu và dùng lầu Bát Giác làm nơi hương hỏa.

Thành Bình Định từ ấy trở thành lỵ sở của quan trấn thủ địa phương.

Năm Gia Long thứ 12 (1814) trấn thành dời vào phía nam, trừ lầu Bát Giác được sửa sang lại làm miếu Song Trung, các cung điện cũ đều bị triệt hạ. Đá ong của thành cũng bị dỡ đem xây thành mới.
Thành Đồ Bàn từ ấy chỉ còn trơ một dãy gò sỏi mênh mông với ngọn tháp Cánh Tiên và lầu Bát Giác.
Trước đây một xử sỹ đất Hoan Châu (Nghệ An) là Nguyễn Khôi, đi ngang qua thành cũ Đồ Bàn, có bài điếu cố, rằng:

Đế vương khấu lỗ vị thời lôn,
Nhất phiến phong quang kỷ hiểu hôn
Ca quản lâu đài hòa cự lũng,
Tấn thân đình viện giá tang thôn
Cố khưu lưu lạc anh hùng phách,
Cô trủng thê lương tráng sỹ hồn!
Đa thiểu hào quang vân cọng tán
Duy dư tiên tháp lão càn khôn.

Phỏng dịch:

Ai vua ai giặc khôn bàn
Phong quang một mảnh ngỡ ngàng hôm mai.
Vườn dâu lấp nẻo cân đai
Nơi xưa ca viện vũ đài: Gò không
Mồ hoang lạc phách anh hùng,
Hồn thiêng tráng sĩ lạnh lùng gió sương
Mây tàn tàn cả ánh dương
Tháp tiên riêng vững can trường nghìn thu.

Bài điếu cổ trên có chỗ chép khác:

Đế vương khấu lỗ dĩ thời lôn
Cổ vãng kim lai hỷ hiểu hôn
Ca quản lâu đài hòa cự dã,
Tấn thân đình viện đố tang thôn
Cố khư liêu lạc anh hùng phách
Cổ lũy phiêu linh chiến sỹ hồn
Đa thiểu hào hoa vân quyện khứ
Duy dư tiên tháp lão kiền khôn.

Nghĩa là:

Rằng giặc rằng vua lý chẳng cùng,
Xưa qua nay lại phải rồi không.
Cân đai viện ngọc dâu đầy xóm,
Đàn hát đền hoa lúa mịt đồng.
Lũy cổ đìu hiu hồn chiến sỹ,
Gò hoang lạnh lẽo phách anh hùng.
Hào hoa nhiều ít mây bay sạch.
Tiên tháp tình riêng vững núi sông.

Thơ về Đồ Bàn còn nhiều nhưng toàn là thơ chữ Hán. Thơ Quốc âm chỉ thấy một bài của ông bạn Thọ Nguyên.

Trăm rưỡi năm trên một chiến trường
Bàn thành nay rặc dấu tang thương.
Tháp tiên dạm mặt nhìn sông núi,
Voi đá trơ hình ngạo nắng sương.
Thế cuộc trải xem bao mộng huyễn,
Anh hùng trông thấy một tòa hương.
Nồi da xáo thịt ôi nòi giống,
Trang sử trung hưng giọt máu hường.

Quang cảnh thành Đồ Bàn trước kia còn thế, huống hồ ngày nay đã dồn không biết bao nhiêu lần bể dâu.

Chuyện xưa lấp cỏ mờ rêu
Gót chân hờ hững mai chiều lại qua.

Mai chiều lại qua, khách vô tâm cớ ngờ đâu nơi đây, ngoài những chiến công oanh liệt, còn để lại nhiều sự kiện lịch sử mà khách du qua đó, nếu để lòng, lòng không dễ dửng dưng.

Kìa trên sắc cỏ màu cây héo hắt, trông mơ màng vẻ tiều tụy của công chúa Huyền Trân vì non sông mà phải vào đây... Và những khi đêm nguyệt mờ sương, bờ lau hắt gió, bồi hồi thổn thức, dường đâu đây ca khúc Nam Bình:

Nước non nghìn dặm ra đi…
Mối tình chi?
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly…
Xót xa vì đương độ xuân thì…
Độ xuân thì
Bởi oan khiên hay là nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết
Cũng liều như hoa tàn nguyệt khuyết,
Vàng lộn theo chì
Khúc ly ca sao còn lận bận nghe gì?
Tiếng chim hồng nhạn bay đi,
Tình lai láng, bóng như hoa quỳ
Nhắn một lời Mân Quân:
Nay mà như nguyệt
Đặng vài phân
Vì lời cho dân.
Tình đem lại mà cân:
Đắng cay muôn phần.

Tình thật là não nùng. Nghĩ đến cảnh Huyền Trân, người địa phương có câu:

Má hồng đền nợ quân vương,
Những tay chống đỡ miếu đường là ai?

Thương người thục nữ vì nước quên mình, chúng ta không khỏi thầm trách khách anh hùng vì mình suýt cắt đứt tình cốt nhục: Hai anh em vua Tây Sơn, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

Nguyên sau khi dẹp xong họ Trịnh ở miền bắc, hai anh em bất hòa nhau về việc chia nước non. Nguyễn Huệ ở Phú Xuân kéo quân vào Quy Nhơn đánh Nguyễn Nhạc. Quân Phú Xuân chiếm các nơi hiểm yếu, rồi đặt súng thần công trên dãy Long Cốt bắn vào thành Đồ Bàn. Nguyễn Nhạc bị khẩn, làm lễ tạ Thế Miếu, rồi lên thành kêu em mà khóc rằng:

Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn

Nguyễn Huệ động lòng khóc theo, rồi rút quân. Từ ấy hai anh em lại hòa thuận như cũ.
Nhân câu nói của Nguyễn Nhạc, bà thân sinh nhà thơ địa phương Cổ Bàn Nhân diễn dịch ra quốc âm rằng:

Lỗi lầm anh vẫn là anh
Nồi da nấu thịt sao đành hỡi em?

Nhắc đến nhà Tây Sơn chúng ta phải liên tưởng đến chén thuốc độc và ngọn lửa hồng của song trung Ngô Tùng Châu và Võ Tánh.

Truyền rằng: nghe tin Võ Tánh sắp tuẫn tiết, một người ái thiếp và một người lão bộc xin được chết theo. Võ công không cho, nhưng khi công đã lên giàn hỏa rồi, thì hai người tự trói mình vào cột lầu Bát giác, lửa cháy đều chết; đồng thời quan tổng binh là Nguyễn Thận ở ngoài vào trông thấy, cảm khích cũng nhảy vào lửa chết theo luôn.

Khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, lấy lầu Bát Giác làm nơi hương khói cho họ Võ, họ Ngô và làm lễ truy điệu trọng thể. Trong bài văn tế do Đặng Đức Siêu soạn, có câu:

Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết, ngọn lửa hồng mát mẻ tấm trung can
Chỉ nước non giã với cô thành, chén thuốc độc ngọt ngon mùi chính khí

(Câu này các sách chép có đôi chữ khác… ngọn quang minh un mát tấm trung can… Chén tân khổ nhắp ngon mùi… Song ở nơi miếu thì khắc như trên).

Câu này được trích làm câu đối thờ nơi miếu song trung.

Ngoài câu đó ra, nơi miếu còn nhiều câu đối bằng Hán tự rất hay, song câu sau đây được truyền tụng nhất:

Quốc sỹ vô song, song quốc sỹ;
Trung thần bất nhị, nhị trung thần.

Võ Tánh, Ngô Tùng Châu vì nghĩa mà chết. Người lão bộc và quan tổng binh cũng vì nghĩa mà chết. Thế mà họ Võ họ Ngô có sử ghi chép, có đền thờ phụng, có văn thơ ca tụng, còn các người kia thì:

Lửng lơ bia miệng giấy trời,
Âm thầm bút tháp chép đời trung trinh.

Khách du qua đó, nhìn cảnh trước mắt, nghĩ chuyện nghìn xưa, lòng ai khỏi thê nhiên cảm khái.

Nhưng nếu chúng ta trèo lên hòn tháp Cánh Tiên trông ra bốn mặt, thâu nghìn dặm vào tấc gang, gần từ nội cỏ, xa đến chân trời, nào cao nào thấp, nào thanh nào u, thảy đều hợp thế hợp tình trình bày ra dưới tháp, thì lòng tự nhiên mở rộng và thân dường mọc cánh lên tiên.

Kìa ở phía đông thành, có ao Liệt Trì, tục gọi là bàu Sức, rộng đến vài ba chục mẫu, nước cạn nhưng trong. Xa xa có những vũng nước tròn và hẹp, đó là ao Lực Tụng; những đường nước cong và dài, đó là mương Thủy Câu. Bên ao gò đống chồng chất nửa ẩn nửa hiện, đó là dấu vết cửa đông mà sắc đá ong chưa hết đỏ.

Ở phía tây gần bên thành, gò Kim Sơn (tên do Nguyễn Nhạc đặt), từng vồng từng vồng nối tiếp như sóng cuộn.

Ở phía nam, núi Long Cốt nổi lên ba ngọn tròn trịa như ba khúc xương rồng uốn trong mây và dưới núi bóng xoài xanh làm nổi bật sắc sỏi đỏ.

Nơi góc đông bắc, hồ nước láng lai, hình trông như một chiếc khánh bạc. Hồ không bao giờ cạn và truyền rằng xưa kia có giống thủy tộc linh thương nương náu, những năm trời hạn, hễ nước hồ thấy trắng hoặc đỏ, thì nhất định một vài hôm sau có mưa to. Vì thế người địa phương gọi là Linh Hồ.

Ở phía bắc, xưa kia có nổng gò cao với mười ngọn tháp chơm chởm: gò Thập Tháp, mà nay là chùa Thập Tháp Di Đà với vườn xoài thâm u tĩnh mịch.

Đó là những cảnh gần.

Xa xa, cách thành chừng bốn năm cây số, về mặt đông, ngọn núi Mò O đứng ngước miệng lên lưng mây "Mắng Trời" và về mặt tây, sông Côn chia ra bốn nhánh chảy xuống đông bắc, chảy xuống đông nam… rồi hợp nơi đập Lý Nhơn, như những cánh tay của con bạch tuột ôm giữ tiếng mồi ngon là thành Đồ Bàn.

Ngoài xa nữa: phía đông, cửa biển Thị Nại và đầm Thị Nại nằm giữa những gành đá cửa sông mênh mông bát ngát, một bên thì bán đảo Phương Mai che chở ở mặt đông, một bên thì động Kỳ Mang yểm hộ ở mặt tây. Vị trí thật tốt. Còn ba mặt nam tây bắc, thì núi non trùng điệp dựng nên "tiểu vạn lý trường thành" hùng tráng hoành vỹ, mà đèo An Khê ở phía tây, đèo Thạch Đê ở phía bắc, đèo Cù Mông ở phía nam, là những cửa thành có thế "bách nhị".

Khí thế thật là hiểm và hùng.

Xem qua hình thế núi sông, chúng ta phải công nhận người Chiêm Thành đã khéo lựa nơi đóng đô. Và thành Đồ Bàn với đại trí như kia, đứng vững trong bao nhiêu thế kỷ là phải lắm.

Thành Bình Định

Như trên đã nói, từ đời Lê đến đời Tây Sơn, lỵ sở của cấp chỉ huy tối cao ở địa phương đều đóng tại thành Đồ Bàn cũ. Đến năm Gia Long thứ 12 (1814) lỵ sở mới dời vào phía nam và thành Đồ Bàn bị triệt hạ để lấy vật liệu xây thành mới.

Thành tuy mới nhưng vẫn mang tên cũ đã đặt cho thành Quy Nhơn, tức thành Đồ Bàn cũ, từ năm Kỷ Mùi (1799) lúc Nguyễn Ánh chưa thống nhất lãnh thổ: Bình Định.

Thành Bình Định nằm trên hai thôn An Ngãi và Liêm Thực thuộc quận An Nhơn.

Địa cuộc của thành rất tốt: Dựa lưng vào núi Mò O ở mặt bắc, và lấy dãy Triều Sơn làm tiền án ở mặt nam. Thành xây trên một dãy gò thấp, nhưng đứng nơi thành ngó vào dãy Triều Sơn thì thấy núi hạ thấp xuống như đàn voi phủ phục trước người quản tượng. Hai nhánh nam phái và trung phái của sông Côn cùng các nhánh sông khác lại còn tạo thêm cho thành cái thể "tứ thủy triều qui" tức là bốn mặt nước về chầu. Cảnh trí thật đẹp, có thể gọi là đắc địa.

Vách thành xây toàn đá ong lấy ở thành cũ. Chu vi trên ba cây số, cao ba thước rưỡi tây và dày gần một thước trên đầu thành - còn dưới chân thành, phía trong đắp đất dày đến mươi thước và chạy lài lài lên đến đầu thành. Trông thật hoành tráng bốn mặt thành trổ bốn cửa, xây cổ lầu đồ sộ, kiên cố. Ngoài thành có hào sâu bao bọc. Để vô ra, trước cửa thành có xây cổng bằng đá, hình cầu vồng. Trong thành dựng hành cung, là nơi nhà vua nghỉ ngơi những khi hành du và các quan cùng những người có phẩm hàm từ cửu phẩm trở lên đến bái mạng trong những ngày khánh tiết; những dinh thự của các quan tỉnh tòa ngang dãy dọc, tráng lệ nguy nga.

Chung quanh các cung thự đều trồng xoài, bóng mát, trái ngọt. Quang cảnh thành có vẻ sầm tịch u nhàn.
Nhưng dưới bầu không khí yên tĩnh, hiền hậu, thành Bình Định đã chứng kiến nhiều sự kiện hùng tráng có, bi đát có, hài hước có.

Năm Ất Dậu (1885) nước mất, vua chạy, các sĩ phu trong nước hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp, thành Bình Định đã anh dũng chống cự cùng quân xâm lăng mấy trận. Sau vì viên Tổng đốc là Lê Bá Thận phản bội, bắt bỏ ngục người cộng tác là chí sĩ Nguyễn Cung (án sát) rồi mở cửa thành đầu giặc. Nguyễn Cung xé vạt áo trắng, cắn tay lấy máu viết tâm thư gởi đến nghĩa quân ở An Khê, rồi tuẫn tiết ở trong ngục. Quân Pháp lấy được Bình Định rồi thì giao thành cho quan nam triều đóng cơ quan hành chánh tỉnh, còn chánh quyền thực dân thì đóng tại Quy Nhơn.

Năm Mậu Thân (1908), hưởng ứng phong trào "khất sưu" nam nghĩa, đồng bào Bình Định kéo nhau đến tỉnh kêu xin hai quan chánh phủ Pháp, Nam giảm bớt gánh nặng cho dân. Quan tỉnh đóng cửa thành không cho vào. Đồng bào phải tụ tập ở ngoài thành, bắt ống loa kêu gọi. Vâng lệnh quan trên, lính tỉnh ở trên mặt thành bắn vãi vào đám lương dân, lớp bị thương, lớp thiệt mạng.

Dưới triều Thành Thái (1889-1907), Nguyễn Thân ngồi ghế Tổng đốc Bình Định, máu người Bình Định đã chảy một cách oan uổng, không biết bao nhiêu lần. Có một chuyện ở Bình Định, ai ai cũng biết, là chuyện Nguyễn Thân giết Bá hộ Huệ.

Bá hộ Huệ tên Trịnh Đình Huệ, thôn Bá Canh, quận An Nhơn, là một nhà cự phú tỉnh Bình Định thời bấy giờ, người hào hiệp khí khái. Nguyễn Thân đến lỵ Bình Định, Bá hộ Huệ đến mừng một tấm biển cẩn xà cừ bốn chữ "Thiên Lý Nhân Lương" nghĩa là người hiền tiếng bay xa nghìn dặm. Quan Tổng đốc rất lấy làm vừa lòng, đem treo ngay giữa dinh. Một hôm, một nhà nho địa phương đem lễ vật đến mừng nữa. Quan Tổng đốc khoe tấm biển, nhà nho mỉm cười, quan hỏi không nói. Gạn hỏi năm ba phen, nhà nho khúm núm bẩm:

- Nói ra sợ cụ lớn bắt tội.

Nguyễn Thân nài ép mãi. Nhà nho ung dung thưa:

- Đây là một cách chơi chữ. Chữ Thiên chữ Lý ghép lại thành chữ Trọng. Chữ Lương và chữ Nhân ghép lại thành chữ Thực. Kẻ đi bức hoành này muốn chửi cụ lớn là vị quan "Trọng Thực", tức ham ăn.

Nguyễn Thân căm giận, cho trát đòi Bá hộ Huệ phải đến tỉnh hầu vào buổi chiều hôm sau.

Trời vừa chiều, thầy Bá đã đến dinh quan Tổng đốc, nhưng mãi đến nhá nhem tối, quan mới mời vào, và quở:

- Sao tới giờ này mới đến?

Thầy Bá nói lớn:

- Tôi chờ cụ Lớn, "đầu thân mút dậu", chớ đâu phải mới tới bây giờ.

Câu "đầu thân mút dậu" có hai nghĩa. Nghĩa đen là từ đầu giờ Thân, tức là vào khoảng ba bốn giờ chiều, đến cuối giờ Dậu, tức vào khoảng bảy giờ tối. Nghĩa bóng chửi cụ Lớn "Thân mút Dậu". Bởi vậy, Nguyễn Thân đã căm hờn lại căm thù thêm và quyết rửa hận cho kỳ được.

Nguyễn Thân bèn truyền hạ ngục Bá hộ Huệ. Mấy hôm sau mật sai người giữ ngục nửa đêm lén thả những phạm nhân trọng tội ra và xúi giục đi trốn, rồi chận bắt trở lại bảo khai rằng Bá hộ Huệ âm mưu… Trăm miệng một lời, Bá hộ Huệ bị xử tử. Hồn oan theo Nguyễn Thân đòi thường mạng suốt mấy mươi năm… và ở Bình Định hễ nhắc đến Nguyễn Thân thì nhắc đến chuyện giết Bá hộ Huệ.

Dưới triều Bảo Đại có một lúc quan Tổng đốc và quan Bố chánh đã làm cho nơi công đường nghiêm trang trở thành một nơi hý trường giúp vui cho thiên hạ. Đó là thời cụ Vương Tử Đại ngồi ghế Tổng đốc và cụ Nguyễn Bá Trác ngồi ghế Bố chánh. Cụ Thượng vốn là thông ngôn tòa sứ xuất thân, giỏi Pháp văn, thông tây học. Cụ Bố là một tay khoa bảng đã từng cùng các nhà chí sĩ đông du, sau về đầu đầu thú được miễn tội, ra giúp tạp chí Nam Phong, rồi được bổ đi làm quan lớn. Hai bên ghét nhau ra mặt. Cụ Bố thường lấy thơ văn làm binh khí để công kích cụ Thượng. Những tật xấu, việc xấu của cụ Thượng đều bị cụ Bố truyền làm thơ. Có mười bài tứ tuyệt gọi là Bình Thành thập thủ, được phổ biến tận đến hương thôn. Có hai bài được truyền tụng nhất là "Khán hổ bì" và "Ký cốc xa".

Khán hổ bì là xem da cọp.

Nguyên có một thiếu phụ tên Võ Thị Cú ở Phù Mỹ chê chồng, kiện xin ly dị. Người chồng không chịu. Vụ kiện kéo dài. Để cho được kiện, Võ Thị Cú lén vào dinh quan Tổng đốc để lo lót. Mong che mắt thế gian, Thị chờ đến đêm mới vào. Chẳng may quan Bố biết được, liền thẳng đến dinh Tổng đốc. Thấy bóng dáng quan Bố, Võ Thị Cú lật đật đứng dậy nép vào vách. Quan Bố bước vào chỉ mặt Võ Thị Cú thét mắng:

- Mi là con đàn bà kiện để chồng, sao đang đêm dám vào dinh cụ Lớn?

Đoạn thét lính bắt trói.

Quan Tổng đốc lính quýnh, không biết gỡ gạc thế nào. Nhân trên vách nơi Võ Thị đứng có treo tấm da cọp làm đồ trang trí, quan Tổng đốc liền nói:

- Con nhỏ dại quá. Nó vào thấy tấm da cọp, tò mò đứng xem. Xin quan lớn hỉ xả.

Quan Bố ra về làm bài thơ Khán hổ bì để ngạo quan Tổng đốc, rằng:

Bạc hạnh lang quân thiếp tảo tri.
Lang quân tư thiếp, thiếp tư ly.
Nhi kim dục ngoài ly lang kế,
Dạ nhập dinh môn khán hổ bì.

Nghĩa là:

Sớm hay chàng vốn bạc tình,
Chàng dù thương thiếp, thiếp đành phân ly.
Cung loan mong đứt giây tỳ,
Đang đêm vào "khán hổ bì" dinh quan!

Vương Tử Đại một khi đến Bình Định liền niêm yết cấm việc hối lộ. Một hôm quan cải trang làm thường dân mướn xe kéo đi chơi quanh ngoài thành, để dò xét dân tình. Quan hỏi người phu xe:

- Nghe đồn quan Tổng đốc đương kim thanh liêm chánh trực lắm phải không chú?

Không biết rằng người ngồi xe là quan Tổng đốc, người phu xe thật tình đáp:

- Dạ, phải, thanh liêm chánh trực. Nhưng ai muốn được việc thì đừng đi ngõ lớn mắc bảng cấm hối lộ, mà phải đi ngõ sau, tìm bà lớn là "hảo tai".

Quan liền ghi số xe, về dinh truyền bắt người phu xe tống ngục.

Trước vụ người phu xe, lại có chuyện dân làng Đông Lương huyện Phù Cát cũng vì chỉ trích quan tỉnh nên bị bắt giam cả làng. Vợ con đến khóc xin đêm ngày mà vẫn chưa được thả. Nhân hai vụ đó, quan Bố làm bài "Ký Cốc Xa" (xe kéo tay, chạy kêu cọt kẹt) rằng:

Sanh nhai ký cốc nhất xa hành.
Hưu huyết quan gia lãng phẩm bình.
Bất ký Đông Lương đương nhật sự,
Thê hiền nhi khốc đáo tàn canh.

Nghĩa là:

Làm ăn cút kít tay xe,
Miệng mồm khuyên hãy kiêng dè việc quan.
Đông Lương mang vạ cả làng,
Vợ con kêu khóc ngày tàn lại đêm.

Không rải truyền đơn, không đăng báo chí, thế mà mỗi khi thơ quan Bố vừa làm ra thì tất cả nhân viên ty, tào đều biết, rồi không mấy chốc bay khắp ra cả thành thị thôn quê. Quan Tổng đốc rất căm và để trả thù, quan làm một câu đối Nôm, cho người gởi đến quan Bố, rằng:

"Sóng Âu hải tràn ngang, tràn Hương Cảng, tràn Hoành tân, tràn Mã Lịp Nhĩ Sơn, coi như tuồng dạ sắt gan đồng, một mực giữ gìn dân với nước;

Gió Nam Phong thổi ngược, thổi hường lô, thổi binh bộ, thổi Bàn thành cụ Bố, quen những thói vào luồn ra cúi, đôi đường chen chúc lợi và danh".

Thật là "ăn miếng trả miếng". Miếng nào cũng cay.

Không phải thành Bình Định đều đón tiếp những vị quan như hai họ Nguyễn họ Vương.

Trước đó, vào khoảng 1925, 1926, thành Bình Định có quan Tổng đốc rất khí khái. Đó là tiến sĩ Nguyễn Đình Hiến.

Lúc bấy giờ chí sĩ Đồng Sỹ Bình bị bắt giam tại thành Bình Định. Quan Tổng đốc đối xử hết sức tử tế, cơm nước đều do người nhà của quan nấu dọn. Những lúc rỗi rảnh, ngoài giờ làm việc, quan thường đến nơi giam cầm hoặc vời chí sĩ lên tư dinh bàn luận văn chương và thế sự. Quan Tổng đốc Nguyễn Đình Hiến phục chí sĩ Đồng Sỹ Bình chẳng những vì khí tiết mà còn vì văn chương, vì chí sĩ chẳng những giỏi bên Pháp văn (vì là một thư ký tòa sứ) mà lại rất giỏi bên Hán tự. Những tờ khai của chí sĩ toàn bằng Hán văn, mà hễ đặt bút là viết thao thao bất tuyệt. Quan Tổng đốc mỗi lần đọc lời khai là vỗ vế khen "hay!hay!" và có lần cao hứng cầm bút son khuyên đỏ cả tờ khai. Đến khi cơn hứng tàn, phải năn nỉ Đồng Sỹ Bình chép lại. Viên Công sứ Quy Nhơn biết được thái độ Nguyễn Đình Hiến đối với Đồng Sỹ Bình liền khởi mật thư khiển trách, song cụ Hiến coi như không. Sau Công sứ Pháp sợ quan Tổng đốc tìm cách tha nhà chí sĩ, bèn xin triều đình Huế rút cụ về kinh…

Đối với dân, cụ Nguyễn Đình Hiến cũng rất chiếu cố, những việc kiện cáo đều được xét xử công minh, việc an ninh trật tự đều được lưu ý. Cho nên cụ đi rồi, mà phần đông nhân sĩ Bình Định vẫn luôn luôn nhắc nhở.

Rồi, trước khi chiến tranh bùng nổ trên đất nước Việt Nam mấy năm, cơ quan hành chánh tỉnh dời xuống Quy Nhơn, giao thành Bình Định cho phủ lỵ An Nhơn đóng lỵ sở.

Cơ quan tỉnh dời xuống Quy Nhơn trong thời kỳ ông Nguyễn Hy, con ông Nguyễn Thân làm Tổng đốc Bình Định (khoảng Giáp Tuất-Ất Hợi, tức 1934, 1935).

Nghe đồn rằng: Khi ông Nguyễn Hy vừa đến nhậm sở thì liền mấy đêm nằm thấy một chiếc xe chở một đùm ruột lòng thòng đi qua lại trước mặt. Tỉnh dậy thì dường nghe tiếng kêu khóc ở quanh dinh, liền mời thầy bàn đến bàn. Thầy bàn giật mình, bẩm:

- Đây là hồn Bá hộ Huệ hiện về.

Đoạn kể lại câu chuyện Nguyễn Thân giết Bá hộ Huệ, và nói:

- Xe chở đùm ruột là chữ xa và chữ tâm. Hai chữ này ghép lại thành chữ Huệ. Như thế là Bá hộ Huệ hiện hồn về chực báo oán.

Nguyễn Hy sợ hãi không dám ở nơi lỵ sở, chiều chiều làm việc xong xuống ngủ ở Quy Nhơn, rồi nhân khí hậu ở thành Bình Định không tốt, thường sanh bệnh sốt rét, bèn mượn cớ xin triều đình Huế cho dời cơ quan xuống Quy Nhơn. Nghĩ rằng tòa sứ và tỉnh ở cạnh bên, thuận tiện cho công việc cai trị, nên triều đình Huế chấp thuận.

Từ ấy thành Bình Định trở thành phủ lỵ An Nhơn.

Và những khi khách du quan đi ngang qua phạm vi thành Bình Định, nhìn thấy lầu cửa đông cũ kỹ, không khỏi nhớ đến hai nhà thơ sanh trưởng ở Bình Định và đã dùng tòa lầu cửa đông làm lầu thơ: Chế Lan Viên và Yến Lan.

Chế Lan Viên với tập Điêu tàn làm lúc mới 17 tuổi (1937) và tập Vàng Sao xuất bản năm 1942, đã làm cho làng văn thơ Việt Nam lưu tâm đến Bình Định.

Và Yến Lan, một đợt sóng thứ hai làm vang dội tên Bình Định bằng bài thơ Bình Định sau đây:

Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt,
Đàng chờ xe, sông nước ước mong thuyền!
Tịch dương liễu không biết mình đang biếc
Tương tư trời, tương tư nhạc triền miên…
Mây nổi đó nhưng hồn chừng viễn xứ,
Nguyệt cô liêu trắng mộng hồ xa nao?
Xe lỗi hẹn với người trong lữ thứ,
Trường hận thuyền muôn dặm cũng hư hao.
Ôi Bình Định hương phong chừng cách biệt,
Nhưng bâng khuâng trong bất hạnh sương hoa,
Nhà ngơ ngẩn những tường vôi keo kiết,
Nam quách sầu, đông phố quạnh, tây môn xa…!
Cây lặng lẽ vui làm bầy hải đảo,
Thuyền bồ câu nghiêm buồm trắng trôi ven.
Tăm chiêu mộ nổi trên dòng nước đạo,
Rượu ân tình Bình Định xứ lên men.
Ôi Bình Định tự thành cao trao gửi,
Buổi xế tà qua mấy cửa song xanh:
Nơi đã đọng những vũng đàn lạnh đợi
Của trăng gầy, gió lụy xuống mong manh.
Nhà thiêm thiếp khổ trong quầng nắng nhạt
Nhớ thương từ vườn chuối nuối vương đưa
Giấc Trang Tử đêm vầy theo hội hát,
Cuối đôi làng xam xám dệt tơ mưa.
Đây tôi sống trong thanh nghiêm thánh thất:
Đèn lưu ly hao sáng mộng tràn đầy.
Lan can đỏ xuống lần từng bậc bậc,
Lòng cuộn dần bậc bậc khói hương xây.
Hồn tôi loãng trên bệ vàng thếp chảy,
Cùng hồn trưa quấn quít lấy giao lân.
Tám phương bạn chợp hàng mi mộng thấy
Thái bình trang vàng rộn lá thu phân.
Kiếp tòng bá có xanh vì xứ sở,
Chớ quăng mình thêm nức nở hồn tôi.
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi.
Trời Bình Định có thương em lẻ chiếc?
Em nằm thương xanh biếc của trời buồn!
Trên đài trán thơ hằng lên vọng nguyệt,
Trăng còn nương thuyền nhạc khuất trong sương.
Hoa tư tưởng phân thân chiều gió trải,
Trời Giang Nam hồ hải nói trong tâm.
Ôi Bình Định ngươi nằm trong mãi mãi…
Đĩa dầu vơi tim cháy ngọn âm âm…

-------------------------------

Sông suối

Hầu hết các con sông ở Bình Định đều phát nguyên tại dãy Trường Sơn ở phía Tây và chảy xuống biển Đông, theo chiều rộng của tỉnh, nên không được dài lắm. Lòng sông nhiều khúc bị cát bồi, mùa nắng nước cạn, ghe thuyền trọng tải không thể lên xa được.

Trong tỉnh có ba con sông lớn, được liệt vào hàng Đại Giang, là:

Lại Dương Giang,
La Tinh Giang,
Côn Giang.

Đó là ba "Sợi tim" của ba huyện cũ Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn.

Trong ba đại giang này, sông Côn lớn nhất.

Sông Côn

Ngày xưa gọi là sông Tuy Viễn.

Đến triều Đồng Khánh (1885-1889), sau khi đất Tuy Viễn đã chia thành ba huyện Bình Khê, Tuy Viễn, Tuy Phước, thì sông lấy tên là Ba Huyện.

Và sau khi huyện Tuy Viễn đã bị bãi bỏ để lấy đất cho phủ An Nhơn, và huyện Tuy Phước đổi làm Phủ, tên Ba Huyện không còn thích hợp nữa tên mới đổi tên là Côn Giang.

Tên Côn Giang mới có từ triều Khải Định (1916-1925), Triều Duy Tân, khi soạn Đại Nam Nhất Thống Chí (1910) còn dùng tên Ba Huyện.

Tại sao đặt tên là Côn Giang?

Trên thượng lưu của sông có con suối Kon (phiên âm tiếng Thượng). Nhân đó có người bảo rằng:

- Khi đi vẽ bản đồ Bình Định, người Pháp lấy tên suối mà gọi sông. Giọng Pháp đọc tiếng Kon lơ lớ ra tiếng Côn. Rồi các nhà viết sách địa dư cho trẻ em trường Pháp Việt học, dựa theo thầy Pháp mà viết là "sông Côn", Từ xưa đến nay, những chữ ở nhà trường của Chánh Phủ dùng, thường được đa số nhân dân dùng theo. Vì vậy tên sông Côn lần lần được phổ biến và cuối cùng được thay thế cho tên sông Ba Huyện không còn "hợp thời".

Nghe có lý lắm, và trường hợp theo giọng đọc của thầy Pháp mà đặt tên cho sông núi Việt Nam, thường xảy ra lắm, như Mũi Ba Làng mà đọc thành Cap Batagan, Vàm Cỏ đọc thành Ve Cô, núi Chớp Vàng đọc thành Tuop Vang, v.v… Thầy dạy thế, trò học thế. Lúc ra đời, người nào có để ý đến non sông Tổ Quốc thì mới thấy sai, mà sửa lại, bằng không thì cứ như thế mà truyền lại cho con cháu, lâu ngày thành phổ thông.

Nhưng trường hợp sông Côn thì khác.

Chữ Côn mượn ở Nam Hoa Kinh của Trang Tử.

Nam Hoa Kinh chép rằng:

"Biển Bắc có loài cá tên là Côn. Bề lớn của Côn không biết mấy nghìn dặm. Côn hóa thành loài chim tên gọi là Bằng. Lưng của Bằng rộng không biết bao nhiêu dặm. Vùng vẫy bay, cánh như đám mây rũ ngang trời. Loài chim ấy khi biển động thì sắp dời sang biển Nam … Biển Nam là Ao Trời… Khi Bằng dời sang Biển Nam thì nước sóng sánh ba nghìn dặm. Liệng theo gió lốc mà lên chín vạn dặm. Đi cứ sáu tháng mới nghỉ…".

Mượn tên Côn mà đặt cho sông, cổ nhân dụng ý cầu mong cho con cháu sanh trưởng trên dãi đất đã sản sinh các vị hào kiệt Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Mai Xuân Thưởng v.v… mà dòng sông Côn nhuần thấm, có ngày trỗi dậy "quạt cánh bằng bay chín vạn tầng cao". Nếu không được như thế, ít ra cũng đừng làm những giống cá con con hễ thấy mồi ngon là đớp.

Đó là hoài bão, là kỳ vọng.

Uống nước nhớ nguồn. Và nguồn gốc tên sông Côn là thế.

Sông Côn phát nguyên tại đâu?

Đại Nam Nhất Thống Chí chép là "từ núi Phong Sơn".

Sách Địa Dư Mông Học tỉnh Bình Định của cụ Bùi Văn Lăng - một quyển sách giáo khoa từ trước đến giờ dùng ở các trường Tiểu Học trong tỉnh - chép rằng "Sông Côn phát nguyên từ núi Kim Điều về huyện Bình Khê".

Đó là lấy những con suối ở gần dưới này mà nói. Chứ nếu đi lên nữa thì chúng ta thấy nguồn phát tận vùng giáp giới ba tỉnh Quãng Nghĩa, Kontum, Bình Định.

Nơi đó các con suối hợp lại, rồi chảy vào Nam, quanh co giữa các dãy Trường Sơn, vượt qua nhiều gành, nhiều thác, lướt gần 50 cây số thì đến Định Quang. Khúc này tục gọi là Suối Kon. Tuy hai bên bờ có nhiều khe nhỏ từ Tây chảy xuống, từ Đông chảy lên, nhưng nước thường không được nhiều và lòng suối có phần hẹp.

Đến Định Quang, suối tiếp nhận nước Suối Sem từ Tây Bắc chảy xuống, rồi chạy vào chừng vài cây số đến Vĩnh Thạnh thì tiếp nhận thêm nước con suối từ Đông bắc chảy vào. Tại đây dòng nước quày xuống hướng Đông, đi chừng hai cây số đến Vĩnh Bình, thì lại quẹo vào Nam, chảy quanh co chừng mười, mười hai cây số đến Hữu Thuận, thì lại chảy ngược lên hướng Tây. Lên chừng vài cây số, đến Thượng Giang, thì gặp dòng Suối Cỏ từ Tây Bắc chảy vào.

Từ Định Quang xuống Thượng Giang tục gọi là sông Hà Giao hay Hà Rêu.

Khúc sông này hẹp, lòng lại thường nổi đá từng đống. Thuyền bè lên xuống rất khó khăn.

Tại giáp khẩu Suối Cỏ, dòng sông lại trở xuống Đông Nam. Đi chừng hai cây số đến Tả Giang thì gặp suối Ba La, từ Đồng Tre ở phía Tây Nam chảy ra. Từ giáp khẩu suối Ba La. Lòng sông mở rộng, và theo hướng Đông Nam, chạy chừng chín, mười cây số thì đến địa đầu Phú Phong.

Bắt đầu từ Hữu Giang, Tả Giang trở xuống, sông mới chính thức gọi là Côn Giang.

Trên khúc sông từ Tả Giang, Hữu Giang xuống Trinh Tường, đây đó nổi lên những đống đá đen láng. Đối với việc lưu thông đó là những chướng ngại vật. Nhưng đối với du khách thì đó là những món "gia vị" có thể gọi là "nên thơ". Mùa lụt thì những đống đá ấy bị ngập, không trông thấy, nhưng đến mùa nắng thì những khả ái như những hòn non bộ trong các hồ nước trong của đám phong lưu, tài tử.

Truyền rằng xưa kia ông Khổng Lồ thường ngồi trên những đống đá trong vùng, để câu. Hiện còn để dấu nơi hòn Đá Tượng.

Hòn Đá tượng không phải ở trong sông, mà ở trong suối Ba La, gần sông, cách cầu Ba La chừng vài chục thước. Đây là một tảng đá cao lớn (mỗi chiều có đến 10 thước). Trên mặt có dấu hai bàn chân và có dấu mổng ngồi, to lớn. Các ông bà già cả quyết đó là chân và mổng ông Khổng Lồ ngồi câu.

Những dấu Ông Khổng Lồ để lại trên các cụm đá khác trên sông đã bị nước "gụt rửa" hết.

Vì có chuyện "Khổng Lồ ngồi câu trên đá" nên khách làng thơ gọi là "Đá Khổng Lồ".

Đá Khổng Lồ không thấy trên khúc sông từ Trinh Tường đến Phú Phong.

Đến địa đầu Phú Phong, sông Côn tiếp nhận nước sông Đá Hàng.

Từ nguồn xuống cho đến cuối Trinh Tường, ngoài những dòng suối đã kể, sông Côn tiếp nhận nhiều suối khe khác nữa. Nhưng các phụ lưu ấy, phần nhiều đều khô cạn về mùa nắng không "giúp ích" cho sông được bao nhiêu.

Chỉ có sông Đá Hàng là phụ lưu quan trọng.

Sông Đá Hàn không dài lắm và có hai nguồn. Một phát tại vùng Núi Bà thuộc An Nhơn, chảy từ Nam ra Bắc, rồi quành lên Tây, độ vài chục cây số, thì gặp dòng suối Đồng Hưu thuộc thôn Phú Phong quận Bình Khê từ hướng Tây chảy xuống. Hai suối hợp lại chảy lên hướng Tây Bắc. Lên độ năm cây số thì gặp nguồn thứ hai, là suối Đồng Le từ phía Tây chảy xuống. Nguồn này chỉ bằng nửa nguồn trước (chừng 11, 12 cây số). Hai nguồn hợp lại thành sông Đá Hàng chảy ra sông Côn về hướng Đông Bắc.

Từ chỗ giao chi của hai nguồn đến sông Côn, bề dài của sông Đá Hàn không trên 10 cây số. Lòng sông lắm nơi đá mọc lởm chởm, thác đổ bọt tung.

Thôn Trinh Tường nằm ở bờ Tây.

Thôn Phú Phong nằm ở bờ phía Đông.

Cách nơi giao thủy giữa sông Đá Hàng và sông Côn, chừng một cây số, có một dãy đá xanh nổi lên như một đập đá chạy từ Phú Phong lên Trinh Tường. Người địa phương gọi là dãy Đá Hàng, và con sông do đó mà mệnh danh. Thường thường dãy Đá Hàng bị ngập nước, sõng nhỏ, bè lớn, lên xuống dễ dàng. Nhưng đến mùa nắng thì đá bày ở nhiều chỗ, sõng bè không qua được.

Tại dãy Đá Hàng có bến lội.

Gần bến lội có chợ nhóm vào buổi chiều, tục gọi là Chợ Chiều, nằm ở địa phận thôn Phú Phong. Bên kia sông, thuộc địa phận Trinh Tường lại có một xóm gọi là Đồng Lẫm. Tên gọi như thế vì nơi đó có đồng lúa trì và xưa kia nghĩa quân Cần Vương có cất lẫm chứa lúa nuôi quân. Bên lẫm có đồn để canh coi. Cho nên bến kia gọi là bến Đá Hàng khi thì gọi là Bến Đồn.

Vì có bến có chợ, nên thời thái bình, Đá Hàng là nơi nhóm khách tứ phương, khách phong tao cũng thường đến du ngoạn và có gởi lại đôi vận phong lưu được nhiều người thưởng thức:

Khách song thơ với khách đài trang,
Chung bóng đêm xuân cảnh Đá Hàng.
Bãi thẳm hương trao làn gió nhẹ,
Dòng trong sóng lộng ánh trăng vàng.
Tình không đắm rượu say dường đã…
Hứng cũng vì thơ thú mãi càng…
Đồng Lẫm Chợ Chiều thiêm thiếp mộng,
Gà đâu vội vã… tiếng đưa sang!
(Hương Sơn)

E mỗi ngày mai tóc bạc phơ
Đợi thuyền Tây Tử biết bao giờ?
Mượn tình mượn cảnh chơi cho thú,
Rằng tục rằng tiên nghĩ cũng khờ.
Bốn mặt non sông ba mặt khách,
Nửa lòng trăng gió một lòng thơ.
Rồi đây bến đá còn qua lại,
Nhìn nước nhìn mây chớ thẩn thờ..

Sông Đá Hàng cùng khúc sông từ địa đầu Phú Phong trở lên là hai nhánh của sông Côn. Sông Đá Hàng gọi là Tả Trạch tức nhánh Tả, khúc kia gọi là Hữu Trạch, tức nhánh Hữu.

Nhánh Hữu từ Tây Bắc chảy xuống Đông Nam.

Nhánh Tả từ Tây Nam chảy xuống Đông Bắc.

Rồi hợp nhau lại chạy thẳng xuống Đông.

Trông như một gốc cổ thụ có hai chảng đều đặn cân phân.

Nhưng cảnh trí đó do người tạo, chứ không phải do trời sinh.

Khi xưa, nhánh Hữu xuống đến cuối thôn Hữu Giang, đầu thôn Phú Lạc, tại nơi cây Muồng, thì quành ra phía Bắc, rồi chuyển xuống Đông, dọc theo Phú Lạc, Kiên Mỹ, đến nữa Thuận Nghĩa lại quay vào Nam, tại xóm Soi để đi thẳng xuống Đông.

Còn nhánh Tả, sau khi qua khỏi Đá Hàng chừng vài ba trăm thước thì quẹo xuống Đông. Qua hết địa phận Phú Phong, Xuân Hòa, đến địa đầu An Xuân thì nhập cùng suối Đồng Sim, chảy ra sông Côn ở phía Bắc, cách nơi giao thủy chừng một cây số.

Đường nước cũ của hai nhánh sông hiện còn dấu tích, như Bàu Ấu, sông Lấp… ở Phú Lạc, soi rộc ở Thuận Nghĩa, bàu Bà Lặng, các bàu ở xóm Phú Văn tại Phú Phong …v.v…

Chính vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đã sửa đổi vị trí hai nhánh sông vào khoảng Canh Tuất, Tân Hợi (1790-1791).

Tại sao lại có sự sửa đổi như thế?

Truyền rằng:

Chiến thắng quân Mãn Thanh của vua Quang Trung tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) làm chấn động cả Trung Quốc, Ông Thầy Địa đã tìm ra long huyệt tại Hoành Sơn đoán biết rằng hai anh em họ Nguyễn đã cướp phước của mình, căm giận muốn trả thù, nhưng tuổi già sức yếu, chưa tìm được cách sang Việt Nam. May thay, vua Càn Long lúc bấy giờ lại đang tìm người giỏi thuật phong thủy cho sang Việt Nam để tiêu diệt vượng khí. Thầy Địa Tàu bèn phụng mạng cùng người con trai dùng phương tiện của nhà vua mà đi. Hai cha con đến thẳng Qui Nhơn. Sau khi biết đích xác là nhà Tây Sơn dựng được nghiệp cả là do long huyệt của mình tìm ra, thầy Địa Tàu lánh mặt, sai con vào chầu vua Thái Đức.

Vốn sẵn cảm tình cùng người Trung Hoa từ xưa, vua Thái Đức tiếp đãi người con trai Thầy Địa rất trọng hậu, mặc dù không biết rõ tung tích. Khách khen cuộc đất ở Hoành Sơn, nhưng tiếc rằng hai nhánh sông không ôm chặt lấy địa cuộc, sợ sinh khí không vượng được lâu dài. Đoạn tìm lời mê hoặc và khuyên nhà vua "cải tạo thiên nhiên". Nhà vua nghe theo, cho đào nhánh Hữu từ Cây Muồng thẳng xuống Đông Nam, chia đôi Hạnh Lâm và Chơn Tự, và đào nhánh Tả từ Đá Hàng thẳng ra Đông Bắc, giáp với nhánh Hữu mới đào. Hoành Sơn ngó ngay xuống chỗ giao thủy của hai nhánh, phong cảnh trông đẹp hơn trước, nhưng long mạch bị trọng thương!.

Vì vậy, công trình cải tạo thiên nhiên của vua Thái Đức hoàn thành chưa được bao lâu thì vua Quang Trung băng hà! Nhà Tây Sơn lần lần suy nhược…

Đó là chuyện xưa.

Chúng ta hãy trở về với cảnh hiện tại.

Từ địa đầu Phú Phong trở xuống, nhờ sông Đá Hàng lòng sông Côn mở rộng thêm, và nước sông Côn trở thêm lai láng.

Khúc sông rộng nhất và sâu nhất là từ Phú Phong xuống đến An Thái (địa đầu An Nhơn), dài chừng 14 cây số. Quang cảnh trên khúc sông này rất ngoạn mục. Có thể nói đó là khúc sông đẹp nhất trên dòng sông Côn. Tám bức Tiêu Tương của Tống Địch đời Tống bên Trung Quốc đều đã ‘thể hiện" nơi đây:

- Đứng nơi bến Kiên Mỹ nhìn sang Chợ Cây Cốc nằm trên Gò Ngựa thôn Phú Phong, lúc mặt trời gác núi, một họa sĩ trứ danh đất Bình Khê là Cố Mai Chi đã khen rằng linh động hơn cảnh "Sơn thị tình lam" của họ Tống.

- Nhìn bãi cát trắng phau phau ở Miễu Ông, thuộc thôn Xuân Hòa, hoặc bãi Cà Đáo thuộc thôn Dõng Hòa, buổi tạnh trời ngàn cò bay lượn, thì so với bức "Bình sa lạc nhạn" ai dám bảo rằng thua kém.

- Đi đò qua ngang Vĩnh Lộc, nghe chuông Nện Sương trong bóng cây xanh tỏa khói, thì dám tin rằng cảnh "Yên tự vãn chung" ở Tiêu Tương không thể hơn.

- Còn những cảnh "Ngư thôn tịch chiếu", "Giang biên mộ tuyết", "Viễn phố qui phàm", "Tiêu Tương dạ vũ", "Động Đình thu nguyệt", nếu để lòng là thấy ngay.

Lại thêm những soi dầu quằng nhánh lục của thôn Thuận Nghĩa, những bãi mía lả lướt màu xanh của các thôn Vĩnh Lộc, An Chánh, An Vinh…, bên Hữu Ngạn, những cánh đồng lúa mênh mông hết xanh mởn lại trở vàng hươm của các thôn Xuân Hòa, An Xuân, Lai Nghi, Thú Thiện… ở bên Tả Ngạn, và những hàng tre nghiêng bóng xanh trên mặt nước xanh, những cây da hình thù cổ quái, tàn cao vướng mây, chạy dọc theo hai bên bờ, làm cho khách đi xuống lên trên sông Côn luôn tìm thấy cảnh sắc mới, hương vị mới, khoái mắt khoái lòng.

Ở khoảng giữa khúc sông Phú Phong An Thái này, lại có ngọn Hương Sơn ở phía hữu ngạn trên địa phận hai thôn Kiên Thạnh và An Chánh, điểm xuyết cho Côn Giang thêm phong vị thêm tình tứ. Những khách ưu non mến nước thường dong thuyền chơi trên khoảng sông này và có để lại nhiều văn thơ để vịnh. Được nhiều người tán thưởng là bài thơ sau đây của Định Phong:


Nguồn tiên cuồn cuộn xuống Tây Cương,
Uốn khúc rồng xanh lướt dặm trường…
Ba huyện lúa dâu bờ trải gấm;
Một trời mây rán nước lồng gương.
Dập dìu bãi thắm tình âu lộ,
Lặng lẽ dòng khơi mạch đế vương.
Biển Bắc trời Nam dồn sức gió,
Thênh thênh chín vạn cánh bằng trương.

Hình ảnh của sông, danh hiệu của sông, còn thấy trong nhiều bài có giá trị khác. Như trong bài văn tế Vua Quang Trung:

Dòng Côn Thủy mây lồng thức gấm,
mãn vui tình mai liễu độ xuân;
Đỉnh Tây Sơn gió cuộn sóng tùng,
chạnh tưởng đấng anh hùng cứu quốc!

Trong bài văn tế anh hùng Mai Xuân Thưởng:

Thân trơ trọi một gươm một ngựa, vì nỗi
quốc cừu vị báo, dòng Côn giang vượt bến rủi dong;
Bước gập ghềnh càng nghĩ càng đau, nhớ câu
"quyển thổ trùng lai", miền Linh Đỗng tạm đường ẩn náu.

Trong bài văn tế "Tướng sĩ trận vong năm Đinh Hợi" (1947):

Giải Tây Lĩnh hắt hiu chiều gió bấc,
tưởng hồn chiến sĩ ngậm ngùi thương;
Dòng Côn giang lai láng bóng trăng khuya,
xui dạ hoài nhân chan chứa lệ!

Vân vân…

Chẳng những bên nam giới mới nặng tình với sông Côn.

Tình phái nữ giới đối với sông Côn cũng rất đằm thắm. Trong văn thơ của họ thường in đậm bóng dáng sông Côn, nhất là khúc sông có trăng Non Hương, mây Non Hương lồng bóng.

Như trong hai bài đã đăng ở tạp chí Lành Mạnh năm trên. Một của Mộng Hoa, nhan đề là:

Niềm Mía Lúa

Em là gái sông Côn
Không lòng khe giặt lụa.
Em là gái hương thôn,
Lòng đơn sơ mía lúa.
Mía ngọt đời văn chương,
Lúa thơm tình đất nước.
Tin sương sóng trùng dương
Không bận lòng chim thước.
Rồi một hôm anh về:
Ánh phiền ba nắng nhuộm,
Xui hương nở đồng quê,
Mộng vàng vương cánh bướm!
Nhưng vầng trăng Non Hương
Thầm nhắc niềm nguyện ước:
Mía ngọt đời văn chương,
Lúa thơm tình đất nước.

Và một của Chức Thành, nhan đề là:

Sông Côn Giặt Sợi

Hanh hanh nắng vàng
Trên dòng Côn giang
Em ngồi giặt sợi
Nước trời mênh mang…
Nước loáng màu ngân,
Sợi ngời ánh tuyết.
Tay em mãi miết
Phăn tình cố nhân.
Gió thổi tình vương
Mây triền non Hương
Bay vào tay sợi
Kết niềm yêu đương,
Kết niềm nhớ thương,
Dệt thành bức gấm
Tặng đời văn chương.

Những bài trích dẫn trên đây là những mảnh lòng của những người chịu ảnh hưởng sâu đậm của nước non Bình Định, nhất là của dòng sông Côn. Những người ở xa mà nặng tình non nước, dù mắt chưa thấy, xem những vần trên cũng biết qua được phong vị của sông Côn.

Phong cảnh và khí vị của sông Côn, từ Phú Phong đến An Thái, đại để là như thế.

Xuống khỏi An Thái chừng nửa cây số, sông Côn chia làm hai nhánh, một chảy vào Đông Nam, gọi là Nam Phái, một nhánh chảy ra Đông Bắc, gọi là Bắc Phái.

Nam Phái chảy được chừng một cây số đến gần Phụng Ngọc, Quan Quang lại phân làm đôi. Một chạy dọc theo quan quang chảy thẳng xuống Đông, qua hết địa phận An Nhơn đến địa phận Tuy Phước, rồi chảy ra đầm Thị Nại. Nhánh này gọi là Trung Phái. Còn nhánh kia chảy vào Phụng Ngọc rồi thẳng đường chảy vào Đông Nam, chừng vài cây số nữa, thì trở xuống Đông, qua trước cửa Tiền Thành Bình Định. Do đó mệnh danh là sông Cửa Tiền.

Sông Trung Phái cạn, mùa nắng thường bị mưa nhiều chặng. Chạy giữa đồng ruộng mênh mông, phong cảnh ít thay đổi. Đông cũng như Tây, Nam cũng như Bắc, đâu cũng lúa xanh cò trắng, vàng sớm hồng chiều. Cho nên thuyền du tử ít hay lên xuống.

Sông Cửa Tiền khi gần đến thành Bình Định thì tiếp nhận nước sông An Tượng từ Tây Nam chảy ra. Nhờ vậy mà từ đó trở xuống lưu lượng gia tăng gấp bội. Hành khách đi trên Q.L. số 1, qua cầu Tân An là cầu bắc ngang sông cửa Tiền, lúc nào cũng thấy sông xanh lục lìa và nước chảy cuồn cuộn. Khi xuống đến Tuy Phước, sông chia làm nhiều nhánh nhỏ chảy ra đầm Thị Nại.

Trên con sông Cửa Tiền cũng không có gì đặc biệt để thưởng ngoạn. Duy ở trước cửa thành Bình Định, có một bến đò quang cảnh và phong vị phảng phất Bến My Lăng của nhà thơ Yến Lan:

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi ông lái chẳng buồn câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.
Ông không muốn run người ra tiếng địch,
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao.
Vì đìu hiu, đìu hiu trời tĩnh mịch,
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao!
Trôi quanh thuyền những lá vàng quá lạnh,
Tơ vương trời, nhưng chỉ giải tơ trăng…
Chiều nghi ngút dài trôi về nẻo quạnh,
Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng.
Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly.
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả,
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.
Ông lão vẫn say trăng nằm gối sách,
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng.
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách,
Gọi đò thôi run rẩy cả ngàn trăng.
Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng,
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng!

Cửa Tiền và Cửa Đông vốn không xa cách, mà tác giả "Bến My Lăng" lại là người ở Cửa Đông, cho nên những khách yêu thơ yêu cảnh thường gọi bến Cửa Tiền là bến My Lăng.

Sông Cửa Tiền dài độ chừng 25 cây số kể cả khúc quẹo, đường cong

Còn dòng Trung Phái thì ngắn thua chừng một mười một tám.

Đó là Nam Phái.

Còn Bắc Phái từ chỗ phân lưu chảy xiêng xiêng ra Đông Bắc, chừng ba cây số đến Thị Lựa, thì chia làm hai:

Một nhánh gọi là sông Thạch Yển, tức sông Đập Đá, chảy vào Đông Nam chừng ba cây số đến Thanh Danh, thì trở ra Đông Bắc. Chạy chừng năm sáu cây số, đến trước hòn Mò O, thì dừng lại tại đập Lý Nhơn.

Hai nhánh Thạch Yển và La Vỹ chảy ra Gò Găng rồi chảy xuống Lý Nhơn để hợp thành sông Thạch Yển. Nhánh này dài độ sáu bảy cây số.

Hai nhánh Thạch Yển và La Vỹ phân nhau ở phía Tây thành Đồ Bàn cũ và hợp nhau ở phía Đông, thành một vòng đai bao quanh một vùng rộng, dáng tròn tròn, gồm các vùng Thập Tháp, Thành Cũ (Đồ Bàn), Vân Sơn, Nhạn Tháp, Đập Đá. Ở trên ngó xuống phảng phất giống một quả bầu ve để nằm, đầu day xuống phía Đông, đập Lý Nhân là cuống.

Hai nhánh Bắc Phái hợp nhau ở Lý Nhân rồi lại chia làm hai một lần nữa. Một chảy cong cong xuống Đông Bắc rồi lại quẹo vào Đông Nam để vào đầm Thị Nại. Một chạy thẳng xuống đầm Thị Nại, cũng chạy vào một cửa cùng nhánh kia. Trên cao nhìn xuống, hai nhánh sông này trông giống một cây cung, mà dây là hai nhánh phái trong bị dùn, cần là nhánh phía ngoài bị vẹo vọ. Bề dài của hai nhánh từ Lý Nhơn đến Thị Nại chỉ trong vòng mười hai đến mười bốn cây số.

Ngày xưa Bắc Phái chỉ có một dòng là sông Thạch Yển, chạy từ Thị Lựa đến Thị Nại.

Sông La Vỹ do vua Thái Đức mới đào sau.

Truyền rằng:

Phá long mạch của Hoàng Sơn xong thầy Địa thấy vượng khí đất Tây Sơn vẫn còn thạnh, vì còn long mạch của Trung Sơn. Long mạch này chạy thẳng xuống hòn Mò O, qua Kỳ Đồng và gò Thành Cũ. Thầy Địa bèn khuyên Nguyễn Nhạc tạo cho Hoàng Thành (tức thành Đồ Bàn vừa kiến thiết lại) cái thế "Tứ thủy triều qui" để trước thêm tú khí cho Hoàng Thành, sau thêm rào dậu để phòng địch. Nhà vua nghe theo, cho đào sông La Vỹ: long mạch bị thương đến hai nơi, một ở dưới chân hòn Kỳ Đồng phía trên Thành Cũ, một ở chân hòn Mò O phía Đông Thành Cũ!

Sông La Vỹ vừa đào xong thì lụt làm lở phía Đông, tức là phía thành Đồ Bàn. Nhà vua liền cho đắp một bờ đê hình quai vạc gọi là Đỉnh Nhĩ Đê, để giữ nước. Do đó sông La Vỹ mang thêm một tên nữa là sông Quai Vạc.

Sông La Vỹ hết bị lụt lở ở Đông thì sông Thạch Yển bị bồi lần lần, mùa nắng nước không xuống được thấu hạ bạn. Nhân dân ta thán! Kế đó vua Thái Đức băng hà, con là Nguyễn Bảo bị truất ngôi. Tiếp đến nhà Nguyễn trung hưng, nhà Tây Sơn bị diệt vong…Nhân dân không mấy lúc được an cư lạc nghiệp. Hết chạy giặc đến đi lính, không còn thì giờ để lo việc đào cát vét sông.

Mãi đến cuối đời Gia Long (1802-1820) hai nhà phú hào ở thôn Háo Đức là họ Châu và họ Trần xuất tiền mua đất, đào lại con sông Thạch Yển. Nhân dân địa phương cảm đức, lập đền thờ. Vua Minh Mạng phong thần và sắc tứ:

- Châu Thị Ngọc Mã,

- Trần Thị Ngọc Lân.

Đến năm Bính Thìn (1916), triều Khải Định, Hội Bảo Nông Bình Định do bá hộ Nguyễn Cẩn, bá hộ Lâm Thanh Cẩn, phú hộ Ôn Huỳnh Châu đứng ra cổ động góp cổ phần, xây đập đá tại thôn Phương Danh, để dẫn thủy nhập điền.

Từ khi được hai họ Châu, Trần xây lại và nhất là sau khi đập đá ở Phương Danh xây xong, sông Thạch Yển trở thành nhánh sông quan trọng. Ghe thuyền lên xuống mỗi ngày mỗi thêm đông. Các vùng lân cận đã nhờ nước đầy đủ trở nên phì nhiêu, dâu lúa được mùa, mà còn nhờ sự buôn bán với ghe thuyền, mà thêm trù phú.

Rồi tên Thạch Yển (nghĩa là đập đá) lần lần ít nghe nói đến, và tên Đập Đá (nghĩa là Thạch Yển) càng ngày càng nổi như cồn.

Đập Đá chẳng những dùng để gọi con sông Thạch Yển mà còn trở thành địa danh. Những thôn ở quanh Đập Đá Phương Danh đều mang tên là Đập Đá. Và hiện nay những thôn ấy gồm có Phương Danh, Bằng Châu, Mỹ Hòa, Bá Canh hợp nhau lại thành một xã, mệnh danh là xã Đập Đá. Và Đập Đá đã trở thành bất hủ, vì đã "thể nhập" vào văn chương:

- Em về Đập Đá quê cha,
Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng.

- Anh về Đập Đá đưa đò,
Trước đưa quan khách sau dò ý em.

- Anh về Đập Đá Gò Găng,
Để em kéo vải sáng trăng một mình.

(Ca dao)

Nhân tiện cũng nên xét tên "Thạch Yển" "Đập Đá" có phải do cái đập bằng đá xây ở Phương Danh mà ra chăng?

Có người quả quyết rằng do đó.

Nhưng xét kỹ thì:

- Đập Đá mới xây triều Khải Định, năm Bính Thìn (1916) mà trong Đại Nam Nhất Thống Chí do cụ Cao Xuân Dục soạn năm Duy Tân thứ 3 (1910) có nói rõ rằng: "Bắc phái từ thôn Nhơn Nghĩa chảy ra Đông Bắc, đến Tân Kiều lại chia thành hai chi: một chi chảy vào Nam mười hai dặm đến thôn Phương Minh, làm sông Thạch Yển, lại thuận dòng chảy hơn ba mươi dặm đến thôn Đa Tài huyện Tuy Phước. Chi thứ hai chảy về phía Bắc tám dặm đến thôn Thuận Chánh là sông Gò Găng…"

- Sông Thạch Yển xưa cũng gọi là sông Bằng Châu. Và tại nơi xây đập đá hiện thời, trước kia người địa phương, mùa hạ mùa xuân, vẫn có đắp đập dẫn nước vào ruộng. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí gọi đập ấy là "Bằng Châu Giang Thạch Yển" tức là "Đập Đá sông Bằng Châu" (Bằng Châu ở gần Phương Danh). Và vì sao lại gọi là Thạch Yển trong khi đập đắp bằng bổi, Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết "Vì lòng sông có đá nên gọi tên ấy ".

- Các câu ca dao thường dẫn đã có từ lâu, từ khi chưa có cầu, chưa có đập đá, nối liền hai bờ sông, người qua lại còn phải dùng đò (anh về Đập Đá đưa đò…,) chớ không phải mới có từ đời Khải Định về sau.

Như thế chứng tỏ rằng tên "Thạch Yển" và "Đập Đá" đã có từ thời xưa. Nhưng chắc chắn rằng vùng Đập Đá nổi danh sau khi đập đá đã đắp xong và làm cho các vùng xung quanh trở nên phồn thịnh, con sông Thạch Yển trở nên con đường giao thông suốt bốn mùa.

Hiện thời nhánh sông Thạch Yển là con sông chính của Bắc Phái, cũng như con sông Cửa Tiền là nhánh sông chính Nam Phái.

Ghe thuyền, nhất là thuyền lớn, chở hàng hóa, chỉ dùng hai con sông này để xuống lên. Còn những nhánh khác thì chỉ dùng để đem nước vào ruộng.

Và tất cả các nhánh của ba phái Trung Nam Bắc, trước khi chảy vào đầm Thị Nại, nhánh nào cũng chia thêm nhiều nhánh nhỏ, nhánh thì hòa mình vào đồng lúa, nhánh thì trở lại cùng "mẹ" hoặc rót vào nhánh khác, chằng chằng chịt chịt như rễ cây. Các nhà văn ví sông Côn như một cây da muôn tuổi, mà thượng lưu là đọt và nhánh, từ Phú Phong đến An Thái là thân, từ An Thái đến Thị Nại là gốc và rễ. Đi tàu bay ngó xuống thật giống chín mươi chín rưỡi phần trăm.

Sông Côn tuy rộng và dài, nhưng chỉ có lợi cho nông gia và các giang thuyền hạng nhẹ. Ghe thuyền trọng tải lên xuống không tiện nhất là về mùa nắng. Bởi vì lòng sông thường nổi cát từng vùng, và trên sông có nhiều đập ngăn nước để tưới ruộng.

Đập trên sông Côn rất nhiều và hầu hết đều đắp bằng bổi. Đập xây xi măng có vài cái.

Đập đá xây trước nhất là đập Phương Danh, công trình của hội Bảo Nông Bình Định mà đoạn trên đã nói. Đập xây rất công phu và rất chắc chắn. Những người đứng đốc công đã được Chánh phủ đương thời thưởng phẩm hàm xứng đáng.

Sau ngày tiếp thu tỉnh Bình Định (1955), Chánh quyền đương thời có xây thêm mấy đập nữa.

Công trình đáng kể nhất là đập Bảy Yển.

Đập Bảy Yển nằm tại nơi phân lưu Trung Phái và Nam Phái (tức sông Cửa Tiền).

Đó là đập lớn nhất tỉnh.

Gọi là đập Bảy Yển vì đập này chia nước làm bảy đập nhỏ ở hai phái Trung và Nam. Ngày trước việc đắp đập do các ban Yển của bảy đập liên hệ đảm nhiệm. Mỗi năm, đến mùa lụt, đập bị nước phá vỡ hết. Mùa lụt qua, vào khoảng cuối tháng 10 đầu tháng 11 âm lịch, các ban yển lo mướn phu chở cây chở bổi đến đắp lại. Công của hàng năm tốn không phải ít. Từ ngày đập đá xây xong (1959), nông dân ở trong vùng đỡ lo về việc đắp đập.

Sau đập Bảy Yển, Chánh Phủ còn đắp thêm hai đập đá nữa:

- Đập Kiền Giang, trên suối Kiền Tiền, là một phụ lưu của sông Đá Hàng, quận Bình Khê.

- Đập Thuận Hạc, tức là đập Lý Nhơn (cũng có tên nữa là đập Thiên Hạc) thuộc quận An Nhơn.

Tiền để ra để đắp đập rất nhiều, song hai đập này vừa xây xong thì bị lụt lội xói sập! Nhân dân đã chẳng nhờ được gì mà còn phải chịu mất thêm nhiều công nhiều của để đắp lại đập bổi mỗi năm. Vì đập đá bị hư, chân đập bị xói sâu hơn cũ, và những mảnh vỡ của đập đá bỏ lăn lóc làm chướng ngại công việc của nhân dân.

Đập hư, chủ thầu đổ thừa cho sức nước.

Nhưng sự thật là do "Mọt xi măng".

Ở Hòa Lan có những đập vô cùng kiên cố, nhưng thỉnh thoảng cũng bị vỡ. Vì ở đó có giống vật biển gọi là Ta rê (Taret) đục thủng một vài lỗ nhỏ. Nước biển chảy vào những lỗ thủng ấy, xoi lần lần đến vỡ đê!

Giống Ta rê làm vỡ đê Hòa Lan.

Giống "Mọt xi măng" làm vỡ đập, sập cầu Việt Nam.

Nhưng hai bên không giống nhau.

Vì giống Ta rê đợi đê làm xong rồi mới đục.

Còn giống "Mọt xi măng" thì đục trước hoặc trong khi làm. Chúng chẳng cần dùng răng cắn chân đào như giống Ta rê, mà chỉ có việc nuốt trửng một số lớn xi măng dự trù trong điều kiện sách, rồi đẻ trứng thay vào số xi măng ấy. Trứng mọt trộn với xi măng đắp đập xây cầu, ít lâu nở con. Một con không ăn được xi măng chết bèn đục lỗ chui ra để kiếm mồi… Đập cầu, bị nước tràn vào lỗ đục làm hư làm sập, hoặc kíp hoặc chầy, tùy lỗ mọt nhiều hay ít. Nhân dân có nhiều người biết, song phải bóp bụng làm ngơ vì chúng có "bùa hộ mệnh".

Nhiều khi người dân chỉ có "hai bàn tay trắng ôm lấy tấm lòng vàng", toan trừ chúng để trừ hại cho nước, thì chẳng những chúng không lâm nguy, mà còn "đẻ" trứng lên người có thiện tâm thiện chí nữa là khác! Mà trứng của chúng, phải biết, cầu đập còn không chịu nổi huống là "thịt da ai cũng thế mà thôi".

Khi đập Kiền Giang và Lý Nhơn đã sập rồi, nhân dân Bình Định rất lo cho thân phận Bảy Yển. Vì biết đâu trong đập lại không có ít nhiều "trứng mọt xi măng". Cho nên các ông già bà lão thường thắp hương tâm cầu trời Phật làm cho ung hết trứng trong đập đi, nếu có, để đập Bảy Yển khỏi theo Kiền Giang và Thuận Hạc mà "hạc giá du tiên".

Còn các đập khác ở trên sông Côn, thân bổi nghìn xưa vẫn còn thân bổi! Nhân đó trường Xuyên có mấy câu cảm tác:

Đống lương dù chẳng sánh tài,
Tấm thân vì nước chi nài nắng mưa…
Đá nung năm sắc có thừa,
Mà người vá khuyết sao chưa thấy về.

Những đập đắp bằng nổi trên sông Côn, về mặt cấu tạo, cũng như về mặt phong cảnh, không có gì đặc biệt.

Nhưng cũng đắp bằng bổi và phong cảnh cũng chỉ có sông dài bãi rộng, mặt sóng chen mây, nhưng ở Bình Định hễ nói đến đập, không một ai không nhắc đến tên.

Đó là đập Văn Phong.

Đập Văn Phong ở địa đầu thôn Phú Lạc, quận Bình Khê. Văn Phong là tên vị tiền hiền đứng ra tổ chức việc đắp đập và mương đào dẫn nước. Đập không lớn lắm nhưng tưới được 2 phần 3 ruộng của quận Bình Khê nằm dọc theo Bắc Ngạn sông côn, từ Phú Lạc cho tới Bỉnh Đức. Đường mương trổ rất khéo, nơi nào cũng ăn nhập với địa hình địa thế, nên nước đập về rất đều đặn, không mấy khi thiếu cũng ít khi thừa. Bộ Yển dùng để thâu "tiền đập" lập rất công phu và rất công bằng. Bộ thuế của Chánh phủ lặp lại qua bao nhiêu chế độ vẫn không thể sánh bộ Yển Văn Phong. Đó cũng là công của người khai sáng. Vì vậy, để ghi ơn, nhân dân mới đặt tên đập là Văn Phong, và mỗi năm đến ngày kỵ người ơn, ban yển đều có cúng tế long trọng.

Ở gần đập Văn Phong lại có một bãi cát rộng thênh thang. Bãi cát nằm cạnh một cây Muồng cao lớn, sống lâu đời, nên gọi là bãi Cây Muồng. Chính nơi bãi này, nhà anh hùng Mai Xuân Thưởng đã lập đàn tế cờ trước khi xuất nghĩa binh đánh Pháp, năm Ất Dậu (1885).

Các vị cố lão cho biết rằng lễ tế cờ cực kỳ long trọng. Đàn cao ngất mây. Bóng tinh kỳ rợp cả mặt sóng và tiếng chiêng trống vang dội cả một góc trời. Tướng sĩ nai nịt gọn gàng, binh khí sáng giới, đứng sắp hàng trước đàn, mặt hướng về Bắc. Đồng bào đến dự lễ đông như kiến, ai nấy đều náo nức, nhưng không ai bảo ai, mà vẫn không ồn ào lộn xộn. Quang cảnh thật là trang nghiêm và hùng khí ngất trời đất…

Đập Văn Phong đã chứng kiến giờ phút thiêng liêng của lịch sử và gương anh dũng của Văn Thân Bình Định vì nước quên mình, tuy đã trải nhiều lớp biển dâu, vẫn còn treo cao nơi sông Côn núi Trụ. Người hữu tâm ai đó, đi ngang qua bãi cây Muồng, dừng trước nơi đập Văn Phong, nhìn nước nhìn mây trước mắt, đố ai khỏi chạnh lòng cảm cựu thương kim:

Bóng nghĩa kỳ chờn vờn mặt sóng.
Trống bình nhung đồng vọng lưng mây.
Văn Phong hùng khí còn đây
Trãi gan rèn đá chờ tay anh hiền?!

Trên dòng sông Côn tuy có nhiều đập ngăn nước, song từ nguồn chí biển, lòng sông không nhiều nơi có bùn đọng, và nước sông mùa nào cũng trong, nhất là mùa nắng.

Mùa nắng, nước sông Côn chẳng những trong mà còn ngọt nhất là khoảng trung lưu. Múc về pha trà uống thì dù trà dở mấy cũng trở nên ngon.Do đó, tặng trà cho Nguyễn Tử Chuyết, tiên sinh ở Phú Phong, Thị Nại Thị có câu rằng:

Ân cần gởi tặng lão tiên sinh
Một gói Ô long ướp nặng tình.
Nguồn rót Côn giang hương vị sẵn,
Pha xuân ngào ngạt chén bình minh.

Và nơi khúc sông chảy ngang qua An Thái, nước sông dường như có tánh chất đặc biệt: ở nơi bãi sông An Thái có lò làm bún Thằng (thường gọi trại là Song Thần). Bún làm bằng bột đậu xanh. Cách làm cũng không lấy gì làm khó.Nhưng những người nghề nghiệp đã tinh xảo đến nơi khác mở lò làm thử, đều bất thành. Bún bị hỏng, bị vàng chớ không dẻo dai và trong trẻo như bún An Thái. Ai nấy đều bảo là tại nước.

Nhân đó, người địa phương có câu rằng:

Nước trong thời bún mới trong,
Tình anh bạc bẽo vì lòng anh đen.

Thói thường, hễ nước trong thì ít cá. Nhưng nước sông Côn thật là trong mà cá nhiều mới lạ! Nhất là cá chép. Đến mùa lụt, cá chép về nhiều đẻ từng bầy. Những người ở hai bên sông dùng đăng bủa lưới bắt mỗi ngày hàng gánh cá. Nhiều con to lớn đến hai ba búng tay, vảy vàng ánh và đuôi, vi, kỳ, mắt, miệng đỏ như son tàu. Dáng thật là đẹp, mà vị cũng rất là ngon.

Cá Chép chữ gọi là Lý Ngư.

Ở sông Ngô Giang bên Trung Quốc có giống cá Vược tên chữ là Lư Ngư. Trương Hàn đời Tấn, nhân trận thu phong sanh lòng cảm khái mà chạnh nhớ quê hương thèm ăn món rau thuần và món gỏi cá vượt, bèn từ quan mà về với Ngô Giang.

Không biết gỏi cá vượt có ngon bằng gỏi cá chép chăng? Nhưng cũng không khác Trương Hàng, người sông Côn ở nơi đất khách, mỗi lần gió bấc thổi, lòng thiết tha nhớ mùi vị của quê hương:

Cù Giang chiếc lá trôi vàng,

Tưởng bầy cá chép Côn Giang sững sờ.

Nơi Côn Giang lại có giống chim nước, lớn bằng cườm tay, lông rằn ri, cẳng cao, đi ăn nơi mé sông từng đoàn. Đến mùa xuân mùa hạ, đẻ trứng trên cát trong những nơi ít người qua lại. Trứng lẫn trong sạn đá, không chú ý không thể nhận ra. Trứng đẻ ra cứ bỏ vãi đó, mẹ không cần ấp, chỉ nhờ khí nóng của cát và mặt trời mà nở con. Và con vừa nở ra, liền tìm nơi ẩn lánh. Không biết các con sông khác có giống chim "biết tự lập từ trong trứng", hay chỉ riêng sông Côn.

Đó là những điểm có thể gọi là đặc biệt mà người yêu mến sông Côn không nỡ bỏ qua.

Ở Bình Định có con sông lớn và có tiếng sau Côn giang là Lại Dương Giang.

Lại Dương Giang

Lại Dương Giang thường gọi tắt là Lại Giang cũng nhiều khi gọi là sông Bồng Sơn.

Lại là nhờ cậy, là lợi ích.

Dương là khí dương, tức khí ấm.

Mệnh danh cho sông là Lại Dương, không biết cổ nhân có thủ nghĩa gì cao xa hay không, chưa ai giải thích được đích xác.

Chỉ hiểu tàm tạm rằng Lại Dương Giang là con sông nương vào khí dương để đem phồn thịnh vào cho xứ sở.

Sông đã được liệt vào hàng Đại Giang và được ghi vào Tự Điển năm Tự Đức thứ 3 (1850).

Sông có hai nguồn:

- Nguồn An Lão từ Bắc chảy vào.

- Nguồn Kim Sơn từ Nam chảy ra.

Do đó ca dao Bình Định có câu:

Nước nguồn hai ngọn giao chi
Bồng Sơn hai huyện thiếu gì vợ anh.

Nguồn An Lão.

Cũng thường gọi là sông An Lão.

Nguồn này là hai ngọn:

- Một ngọn từ Ba Tơ tỉnh Quảng Nghĩa chảy vào, gọi là Nước Dinh. Dài độ vài chục cây số.

- Một ngọn chạy từ phía Tây chảy xuống, gọi là Nước Teup, dài cũng độ vài chục cây số.

Vì Nước Dinh chảy qua vùng Nước Trong, Nước Teup chảy qua vùng Nước Trắng, nên nguồn Nước Teup, Nước Dinh cũng có tên là nguồn Nước Trong, Nước Trắng. Hai tên này có phần thông dụng hơn hai tên kia.

Hai ngọn hợp nhau lại tại Nước Giao thành nguồn An Lão.

Nguồn An Lão chạy thẳng ra hướng Nam, chừng chín, mười cây số thì gặp suối gọi là Nước Săng từ Tây chảy xuống và dài đến 14,15 cây số. Hợp với Nước Săng, nguồn chạy 14 cây số nữa đến Thanh Lương thì gặp Nước Trop từ Tây Bắc chảy vào Đông Nam dì chừng tám, chín cây số.

Nhờ những phụ lưu kể trên mà nguồn An Lão mỗi lúc mỗi thêm nhiều nước. Và ngoài những suối lớn ấy, nguồn còn tiếp nhận nước của các khe, các suối nhỏ ở hai bên bờ phía Đông, phía Tây.

Nhân có ngọn nguồn từ Ba Tơ chảy vào, thời Cần Vương còn để lại một câu hát mang màu sắc thời đại:

Nước Ba Tơ chảy vô Bình Định,
Nhắn bạn thân tình tránh nịnh chớ theo.

Nịnh đây là ám chỉ Nguyễn Thân, Tiểu Phủ sứ trấn giữ trấn vùng núi Đá Vách Ba Tơ. Nguyễn Thân đã phản lại quyền lợi quốc dân mà theo giặc Pháp, sát hại nghĩa quân Cần Vương không biết bao nhiêu!

Và nơi nguồn An Lão đây vẫn còn ôm ấp xương máu của nhiều nhà chiến sĩ Cần Vương lên lánh nạn Nguyễn Thân.

Chuyện xưa để đó. Chúng ta trở lại cùng nguồn An Lão hiện nay.

Nguồn An Lão chảy đến Thanh Lương, sau khi tiếp nhận Nước Trop, thì quẹo xuống Đông Bắc. Chảy độ ba cây số đến Tư Đức, lại gặp Nước Lại Đức từ Phước Đính ở phía Bắc chảy vào (dài độ sáu cây số).

Tại Tư Đức nguồn lại quay xuống Đông Nam, độ chừng sáu cây số, thì đến Phú Văn, gặp nguồn Kim Sơn từ Tây Nam chảy đến.

Nguồn Kim Sơn.

Cũng thường gọi là sông Kim Sơn.

Nguồn này cũng có hai ngọn như nguồn An Lão:

- Một ngọn từ vùng An Lão chảy vào, dài chừng 24, 25 cây số, gọi là Nước Lương.

- Một ngọn từ phía Nam chảy ra, dài chừng 10, 12 cây số. Gọi là Nước Lăng hay Nước Roong.

Sau khi tiếp nhận nhiều suối khe ở hai bên bờ rót vào hai ngọn hợp nhau tại Xuân Sơn, thành nguồn Kim Sơn chạy xuống Đông Bắc, đến Phú Văn để gặp nguồn An Lão.

Từ Xuân Sơn đến Phú Văn, nguồn Kim Sơn dài chừng vài chục cây số, chuyển mình khi vào Nam, khi ra Bắc, khi xuống Đông, quanh co đoanh lộn, như một con thanh xà chạy trong hòn giả sơn.

Nguồn An Lão và nguồn Kim Sơn họp nhau ở cuối thôn Phú Văn, thành hình chữ V rất cân đối, cân đối từng khúc quanh, đường quẹo, như hai nhánh cây kiểng được tay người uốn nắn công phu. Hai nhánh Tả Trạch và Hữu Trạch của sông Côn trông đã đẹp, mà hai nhánh An Lão và Kim Sơn trông lại còn đẹp hơn, duyên dáng hơn. Vì nhánh sông của sông Côn là hình chữ V viết theo lối Cổ Điển, ngay thẳng mạnh mẽ. Còn hai nhánh Kim Sơn An Lão là chữ V viết theo lối Tài Tử, phụng múa rồng bay. Chính những đường quanh co, khúc đoanh lộn làm cho phong cảnh thêm vẻ lưu luyến hữu tình.

Từ nơi Giao Thủy (Phú Văn) sông chảy xiêng xiêng về hướng Đông Bắc, được chừng bốn cây số, qua khỏi cầu Bồng Sơn, thì chuyển mình vào Đông Nam. Vào chừng một cây số đến Định Bường thì quày ra Đông Bắc trở lại. Đi chừng năm cây số nữa lại quẹo vào Đông Nam một lần thứ hai, quành một vòng xuống vào cửa An Giũ.

Từ Phú Văn đến An Giũ sông dài chừng 14, 15 cây số, tính cả những khúc quẹo đường cong.

Lòng sông có chỗ rộng đến tám trăm thước. Nhưng bãi cát chiếm hơi nhiều. Cửa sông cũng không được rộng, cũng không được sâu, nên thuyền trọng tải không lưu thông được dễ dàng.

Xuống khỏi Bồng Sơn độ một cây rưỡi số, sông tách ra một nhánh nhỏ, ở bờ phía Bắc, tại thôn Trung Yên. Nhánh này chảy ra Tam Quan, song song cùng Quốc lộ 1.

Đó là một nhánh sông đào. Đến vùng Tài Lương thì dứt. Dài chừng chín, mười cây số thôi.

Cũng trong vùng Tài Lương, phía Tây đường Quốc lộ số 1 có hai bàu nước, một hình bầu rượu, cổ trở ra Bắc, một hình dằng xay, nằm theo hướng Tây Đông, ở phía Nam bàu trước. Hai bàu hợp lại trông giống hình chữ Sơn là núi. Một con mương nhỏ chạy từ Nam ra Bắc rồi chuyển xuống Đông để nối hai bàu này vào con sông đào kia, và làm cho mạch nước không bao giờ cạn. Ao đó gọi là Giao Trì.

Khi gần đến biển, cũng phía hữu ngạn, sông còn tách ra một nhánh nhỏ nữa chạy dưới chân hòn Hương Sơn. Nhánh này xưa là một cái bàu gọi là Bàu Tượng bị lấp mà trở thành, chiều dài độ ba cây số, và khi gần tới biển lại chạy trở lại vào lại sông Cái.

Trên sông Lại Dương (cả sông cái lẫn hai nhánh) cứ mỗi đoạn chừng vài ba trăm thước thì có một bờ cừ ngăn nước để xe đem vào ruộng. Mùa đông lụt lội, xe nước dỡ cất, bờ cừ bị trôi hoặc bị phá. Không có gì ngăn cản, nên hết lụt lội rồi thì lòng sông nhiều nơi bày cát. Đến mùa nắng, các bờ xe đắp lại, nước đầy nhẫy cả sông. Cho nên trong mùa nắng Lại Giang trong xanh lặc lìa, và hai bên bờ xe nước chạy phun những vòi nước trắng xóa theo những tiếng xe chạy đều đặn và dẻo dai. Quang cảnh cựu kỳ thanh tú.

Tuy chảy song song cùng Côn Giang, mùa nước của Lại Giang như thế là trái hẳn với Côn Giang. Sông Côn, mùa mưa thì nước khỏa bờ, đứng bên này trông sang bên kia, không phân biệt được dê và ngựa. Còn mùa nắng thì dù cầm vàng lội qua cũng không sợ trôi mất. Cho nên người Bình Định có câu:

Nước Lại Giang mênh mang mùa nắng
Dòng sông Côn lai láng mùa mưa.

Đứng trước sự trái ngược thường xuyên của phong thủy, người Bình Định đã rèn được tánh thản nhiên trước cảnh điên đảo của cuộc đời. Hễ khi gặp việc nghĩa đáng làm thì cứ làm, gắng sức làm, vững chí làm, làm cho tròn nghĩa vụ, còn kết quả nên hay hư là việc phụ, không đáng quan tâm. Bởi vậy sau hai cây tả cảnh sông Côn và Lại Giang, người Bình Định nối thêm chút lòng nữa, rằng:

Đã cam tháng đợi năm chờ,
Duyên em đục chịu, trong nhờ, quản bao.

Khúc sông đẹp nhất của Lại Giang có lẽ là bến đò Trung Lương.

Ở đây nước không bao giờ cạn, mùa nắng cũng như mùa mưa. Và nước sông trong xanh như chàm đổ và im lặng như mặt hồ thu. Những khóm tre ở hai bên bờ, không biết nhờ giống tốt hay nhờ thủy thổ, thân cao lớn và sắc xanh hơn tất cả tre ở nơi khác trên sông. Khách đi đường xa trong những ngày nắng gắt, bước chân đến đây, hứng khí mát, nhìn phong cảnh "dễ thương", thì dù mệt mỏi đến đâu, thâm tâm tự nhiên cũng thấy khoan khoái.

Và nơi đây thời kỳ kháng chiến (1946-1954) còn để lại một câu chuyện khá vui.

Nguyên trong vùng có một nhà giáo rất sợ nước. Quanh năm lúc nào ngứa ngáy lắm mới lấy khăn ướt lau sơ qua. Một hôm nhà giáo đi qua cầu bắt ngang một con mương từ Lại Giang chảy vào xóm. Cầu bắt bằng hai cây tre, gập ghềnh gập gữ. Nhà giáo sơ ý bị rơi xuống mương, lấm hết. Vì nước mương không được sạch, nhà giáo buộc lòng phải tắm. Thiên hạ cho là một chuyện lạ kéo nhau đi xem! Câu chuyện không mấy lúc được lưu truyền. Một nữ cán bộ đi ngang qua đò Trung Lương nghe câu chuyện, cười ngắt nga ngắt nghẻo đến nỗi té ùm xuống sông…

Nhân câu chuyện đã vui, hai nhân vật lại có tên đẹp nên Quách Kiến Đạo có câu thơ rằng:

Lại giang để tiếng về sau
Chuyến đò Lệ Hải, nhịp cầu Ngô Uyên.

Từ Trung Lương đến Bồng Sơn bờ xe nước có ít, nên có bãi cát rộng. Người ở gần bờ sông hay ra đó làm việc "mất vệ sinh". Thời bấy giờ có một "vè sĩ" bút hiệu Nguyễn Đình làm bài vè "Vàng nhà nông" được Thủ tướng Phạm Văn Đồng khen thưởng. Đi ngang qua bãi sông Lại Giang, trông thấy cảnh tượng, sực nhớ đến thơ "phục vụ giai đoạn" anh chàng Kiến Đạo nói trên cũng có một câu thơ nữa rằng:

Vệ sinh hàng xóm hững hờ,
Đi ngang bãi rộng nực thơ Nguyễn Đình.

Trên sông Lại Giang, tại Bồng Sơn, có hai cầu dài, một cầu xe hơi và một cầu xe lửa. Hai cầu này thời chiến tranh đã bị phá hủy, và mới xây lại sau này.

Đi ngang qua cầu, những bạn lưu tâm đến lịch sử cận đại đều căm giận lòng độc ác của Nguyễn Thân.

Nguyễn Thân là người của đảng Cần Vương, sau phản đảng theo Pháp. Để lập công danh, Nguyễn Thân đã sát hại không biết bao nhiêu người ái quốc và chiến sĩ chống Pháp. Năm Nhâm Thân (1886), Nguyễn Thân từ Quảng Nghĩa kéo quân vào đánh úp nghĩa quân Bình Định đóng tại Bồng Sơn. Nghĩa quân bị tử trận và bị bắt sống, có mấy trăm người. Nguyễn Thân sai chặt đầu hết đem treo hai bên đường và hai bên cầu còn xác thì đem phơi trên bãi cát Bồng Sơn.

Một nhà châm phúng bảo:

- Đáy sông Lại Giang nhiều bùn là do xương máu của thời loạn.

Nhưng có riêng gì Lại Giang mới có tay người lây bẩn. Chính sông Côn trong trẻo kia cũng đã có lần vẩn đục vì cốt nhục tương tàn. Đó là thảm cảnh năm Mậu Ngọ (1798). Nguyễn Quang Toản, con vua Quang Trung, đã bắt Nguyễn Bảo, con vua Thái Đức, dìm xuống sông Côn để củng cố ngai báu!

Như thế làm hoen ố non sông là bọn người săn đuổi công danh, ham hố quyền vị, những bọn người mượn tiếng vì dân vì nước để thỏa mãn dục vọng cá nhân. Nhưng trên đất nước Việt Nam thân yêu nói chung, và Bình Định nói riêng, đâu phải chỉ có hạng người đó, Côn Giang đã từng soi bóng tam kiệt nhà Tây Sơn, nữ kiệt Bùi Thị Xuân, anh hùng Mai Xuân Thưởng, văn hào Đào Tấn, kỳ sĩ Nguyễn Trọng Trì… thì Lại Giang vẫn còn để dấu Đào Duy Từ , một tay kinh luân lỗi lạc, Đặng Đức Siêu một trang hàn mặc siêu quần, Tăng Bạc Hổ , một nhà Cách mạng tiền bối đã đem đường mở lối cho cuộc Đông Du v.v… Nói đến Côn Giang , Lại Giang, không mấy ai quên nhắc đến các nhân vật ấy và nói đến các nhân vật ấy, không mấy ai quên nhắc đến Lại Giang, Côn giang.

Và cũng như Côn Giang, Lại Giang là một con sông có nhiều cá. Giống cá có tiếng ở Lại Giang là giống cá Bống Cát tên chữ gọi là Sa Ngư.

Cá Bống thịt trắng và thơm. Cá bống Lại Giang còn thêm chất béo. Cá con con lớn bằng cườm tay người lớn, trắng như mụt măng lột hết vỏ. Trong ruột đầy cả mỡ. Kho với tiêu thì mùi thơm ngon bay ra, đến cả những bạn ăn chay trường lâu ngày, nhiều khi muốn trở ăn mặn.

Cá Bống Lại Giang, lớn con và ngon nhất là cá ở trên hai nhánh Kim Sơn và An Lão.

Thời phong kiến, trên hai nhánh An Lão, Kim Sơn có một số gia đình ngư phủ hợp thành làng gọi là Bình Giang.

Dân làng Bình Giang lấy nước làm đất, lấy thuyền làm nhà. Nay ở trên khúc sông này, mai sang khúc sông khác ở trong vùng. Trong làng cũng có đặt ngũ hương và lý trưởng như các làng trên "lục địa". Khi "quan trên" có việc gì sai khiến thì đến nơi Đồng Dài tại bãi sông Kim Sơn, cắm một cây gậy buộc một chiếc khăn trắng làm dấu hiệu. Người làng trông thấy sẽ báo cho lý hương biết để xuống huyện nhận chỉ thị.

Dân làng cũng phải đóng thuế đinh. Đóng cả thuế "điền" nữa. Nhưng "thuế điền" đây là thuế đánh cá hằng năm, giá biểu do chánh quyền địa phương định. Ngoài thuế ra, làng Bình Giang, đến mùa cá bống, phải đem nạp cho huyện sở tại một số cá, lựa những con to béo nhất, để đem ra Huế dâng lên vua. Cá ấy gọi là "Bình Giang Sa Ngư". Chỉ nghe tên gọi cũng đủ thấy ngon lắm vậy.

Đó là một đặc điểm của Lại Giang. Các bạn "Dân Thiên" tưởng cũng nên biết khi đến viếng Lại Giang.

Sông La Tinh

Con sông lớn thứ ba của Bình Định, sau Côn Giang và Lại Giang là sông La Tinh.

Đối với ba huyện ngày xưa, ba con sông chẳng khác ba ngọn tim đèn sáp, như trên đã nói. Sông Côn là “sợi tim” của Tuy Viễn, sông Lại Dương là sợi tim của Bồng Sơn, và sông La Tinh là sợi tim của Phù Ly. Cho nên sông La Tinh thường gọi là sông Phù Ly. Hiện nay làm ranh giới cho Phù Mỹ và Phù Cát.

Sông La Tinh phát nguyên tại vùng Hội Sơn thuộc Phù Mỹ.

Hội Sơn là nơi nhóm hội các núi trong vùng. Những khe phát nguyên từ các ngọn núi chung quanh hợp thành Suối Cả. Suối Cả chạy độ 11 cây số thì đến An Điềm, sau khi tiếp nhận nước nhiều khe suối nhỏ ở hai bên bờ phía Đông phía Tây. Đến An Điềm dòng nước chuyển xuống hướng Đông, chạy quanh co chừng mười cây số thì đến Vạn Ninh. Trong khoảng này, có nhiều suối chảy vào. Suối lớn nhất phát nguyên từ vùng Phú Hội Hội Khánh (Phù Mỹ) ở phía Bắc chảy vào, dài đến 11, 12 cây số. Nhờ vậy mà lòng sông mở rộng, lưu lượng lên cao.

Đến vạn Ninh, tại Cửa Khẩu, sông chia làm hai phái: Nam Phái tục gọi là Sông Cái và Bắc Phái tục gọi là Sông Con. Hai phái chảy song song và cách nhau chừng hơn nửa cây số.

Nam Phái chảy xuống Phú Hội, An Mỹ, An Bình rồi vào đầm Đạm Thủy tức đầm Nước Ngọt.

Bắc Phái chảy xuống Kiên Trinh, An Lương, An Xuyên, và cũng vào đầm Nước Ngọt.

Nơi địa đầu Kiên Trinh. bắc Phái có tiếp nhận thêm con suối từ Trung Thành chảy vào, dài chừng năm cây số.

Từ Cửa Khâu đến Nước Ngọt, mỗi phái dài chừng 11,12 cây số, thường bị cạn về mùa nắng.

Thôn Kiên Trinh và thôn Phú Hội nằm trên bờ hai phái, Kiên Trinh thì Hữu Ngạn Bắc Phái, Phú Hội thì thì ở tả ngạn Nam Phái, đối diện nhau. Ở Kiên Trinh thì có đập Bờ Xe, ở Phú Hội lại có đập Ông Tờ. Gần đập Ông Tờ có một bến đò mà người lái đò lại là một người có học nhưng không xuất sĩ. Ở gần đập Bờ Xe lại có một nhà giáo họ Trần có hoài bão:

Rèn tâm chí trẻ bền son sắt,
Mong nước nhà sau vững cột rường.

Nhà giáo đi dạy ngày nào cũng qua lại bến đò. Ông lái đò không chịu nhận tiền, tiền chuyến cũng không đã đành, tiền tháng, tiền năm cũng nhất định không. Đã biết rằng là chỗ thân tình, nhưng đi năm này sang năm khác, nghĩ cũng ngài ngại trong lòng, nên nhà giáo ngỏ ý muốn đền ơn. Ông Lái Đò cười đáp:

- Thì tặng lão một bài thơ hay.

Tiền bạc thì dễ kiếm chớ thơ hay đào đâu ra! Nhưng nghĩ rằng “Cây nhà lá vườn, không thơm cũng thắm” nhà giáo bèn rủ ông lái đò lên bãi cát, lấy que làm bút, dùng cát làm giấy, và viết một bài theo thể song thất lục bát, có nhiều câu khả ái, rằng:

Bác ở bến Ông Tờ đưa khách,
Tôi lệ thường cặp sách ngày hai
Trần ai tri kỷ là ai?
Non xanh nước biếc hôm mai bạn bằng.
Tôi không ước cung Hằng bẻ quế,
Bác chẳng lòng đáy bể mò châu…
Tình cờ mây nước gặp nhau,
Càng quen càng mến càng lâu càng tình.
Câu tâm sự nay dành riêng bác,
Mong gởi cùng gió mát trăng trong:
Phái chia Nam Bắc mặc lòng,
Vẫn đầm Đạm Thủy vẫn dòng La Tinh,
Nguồn biển vẫn chung tình đất nước,
Thú yên hà mượn chước làm khuây .
Non cao còn quyến lấy mây,
Cá nằm ấp trứng đợi ngày mưa sa…
Vững chèo lái phong ba nào ngại,
Càng chông gai bước lại càng hăng.
Muôn xa chưa tiện cánh bằng,
Đồng giang bóng nguyệt Vũ Lăng hoa đào…

Câu chuyện vừa xảy ra trong vòng mười năm nay, và từ bấy đến nay, khách qua bến Ông Tờ thường nghe nhắc đến câu chuyện. Đó cũng là một cái thú lúc sang sông.

Trên sông La Tinh, cách đầm Đạm Thủy chừng 400 thước, tại xóm Xuyên Mỹ, Thôn An Thuyên, có lăng của Mãn Xà Vương.

Lăng nhỏ xây trên một cồn đất ở giữa đìa nước.

Lăng mới xây vào khoảng Minh Mạng, Thiệu Trị.

Nguyên thời ấy ở trên núi trôi xuống một vỏ rắn to đến hai ôm và dài đến mấy chục thước, tấp đìa nhà họ Trần ở bên sông, mà không ai thấy. Đêm đến, rắn ứng mộng cho dân làng:

- Phải lập lăng thờ, nếu không thì sẽ xảy ra tai nạn.

Dân làng kéo nhau đến nhà họ Trần. Nhà họ Trần ra đìa xem thì quả thấy vỏ rắn, bèn xuất gia-xuy xây lăng nơi đìa mà thờ, Xuân kỳ thu tế. Sau không đủ sức tiếp tục việc phụng sự, bèn giao lại cho làng.

Truyền rằng thần rắn rất linh. Ai cầu gì được nấy. Người qua lại phải lấy nón cổi guốc. Nếu buộc giây lưng đỏ thì phải mở ra cất đi. Trong vùng có hai người không tin, tỏ ý xấc xược, bị thần rắn bắt hộc máu chết tươi.

Một năm cách đây không xa (vào khoảng 1910-15) Bình Định bị nắng hạn, vùng Phù Cát Phù Mỹ không còn một hột nước tưới đồng. Quan Tỉnh nghe đồn lăng Xuyên Mỹ linh thiêng, bèn đến cầu đảo. Hương bén mới nửa cây thì ngoài sau nghe tiếng reo mừng:

- Trời sắp mưa! Trời sắp mưa!

Quan đòi vào hỏi có gì chứng ứng? Thưa rằng có hai “sứ giả” đến báo tin. Quan ra ngoài sân xem thì thấy hai con quạ ở hướng Tây bay về đậu nơi cây đước ở cạnh lăng. Lúc bấy giờ trời vừa đứng ngọ. Trời nắng chang chang. Bỗng gió hiu hiu thổi, rồi mây từ hướng Nam kéo ra, mỗi lúc một dày, ùn ùn ngùn ngụt… Không mấy chốc che lấp cả ánh mặt trời. Liền đó mưa đổ như xối…

Vì thần rắn linh thiêng nên quan địa phương tâu lên triều đình Huế, và nhà vua sắc phong tước “Mãn Xà Vương”.

Lại truyền rằng sau khi lập lăng xong thì có một cặp cua biển và một cặp rắn ngựa đến chầu. Cặp cua biển mai lớn bằng mâm, mắt sáng như một chùm đôm đốm và càng to bén như lưỡi thanh long đao. Những khi tạnh trời thường nổi lên mặt nước. Còn cặp rắn ngựa, thân lớn như cột nhà, da đen mồng đỏ. Khi thì vào nằm trong lăng. Khi thì quấn nơi các cây đại thọ. Những lúc ra đi, tiếng kêu rẻng rẻng như tiếng lạc ngựa rung. Người ta bảo đó là bộ hạ của Mãn Xà Vương. Không ai dám xúc phạm.

Lăng Mãn Xà Vương hiện vẫn còn. Tục gọi là “Lăng Ông Mãn”. Còn cua và rắn thì đã bỏ đi từ khi non nước nôi phong trần.

Những khách du quan đến viếng sông La Tinh, không mấy ai ghé vào Lăng Ông Mãn, nghe chuyện ngày xưa.

Lăng xưa trước mặt sờ sờ,
Khó tin rằng có khó ngờ rằng không.
La Tinh hai nhánh một dòng,
Vàng gieo ánh nguyệt, hoa lồng bóng mây.

Ngoài ba con sông lớn Côn Giang, Lại Dương Giang và La Tinh Giang, Bình Định còn nhiều con sông nhỏ. Đáng kể là :

- Sông Tân Quan thường gọi là Tam Quan.
- Sông An Tượng.
- Sông Hà Thanh.

Sông An Tượng

Nằm trọn trong địa phận An Nhơn. Phát nguyên tại vùng Hòn Bà (phía Bắc Hòn Ông). Từ Nam chảy ra Bắc chừng tám chín cây số thì chuyển mình xuống Đông Nam, qua vùng núi An Tượng, đoanh đoanh lộn lộn trên vài chục cây số, và hợp nhau khi tiếp nhận nước nhiều suối nhiều khe, sông An Tượng hợp cùng sông Cửa Tiền để chảy xuống đầm Thị Nại.

Nước sông An Tượng không được dồi dào, nhất là về mùa nắng. Chỉ đủ tưới cho những cánh đồng ở hai bên sông: Thọ Lộc, Đông Viên, Trung Ái, Phụ Quan, Hòa Nghi. Và có thể coi sông này là một phụ lưu của sông Côn. Nhưng sông được nổi danh là nhờ có Nguồn An Tượng, nơi giao dịch giữa các lái buôn người dân tộc thiểu số và người Kinh.

Sông Hà Thanh

Nằm phía Đông sông An Tượng và cũng như An Tượng, sông Hà Thanh chạy từ Nam ra Bắc.

Sông có nhiều nguồn. Hai nguồn phát xuất tại vùng núi ở phía Nam hòn Phước Sơn tức Hòn Ông, tục gọi là suối Rào và suối Cây Sung. Một nguồn nữa từ vùng Mục Thịnh chảy ta, tục gọi là suối Sơn Thành. Ba nguồn này hợp nhau lại tại Vân Canh, thành sông Hà Thanh.

Từ Vân Canh, sông chảy xiêng xiêng xuống Đông Bắc, chừng 26, 27 cây số, thì đến Vân Hội tục gọi là Cây Da (thuộc Tuy Phước). Trong khoảng này, sông tiếp nhận nhiều khe suối ở hai bên bờ phía Đông phía Tây, nên cữ nước lên cao và lòng sông mở rộng.

Tại Vân Hội sông chia ra làm hai chi:

- Một chi tục gọi là sông Tọc, chảy ra Bắc, qua Trung Tín, Thuận Nghi… để xuống đầm Thị Nại ở phía Đông.

- Một chi tục gọi là sông Ngang, chảy xuống Đông, qua An Thạnh, Bình Thạnh… rồi vào đầm Thị Nại. Trên nhánh sông này có nước đầm Ngọc Châu tức Bàu Cả ở dưới chân núi Sơn Chà, và nước đầm Thanh Cẩn ở dưới chân Đèo Son, chảy ra, hợp nhau lại rồi mới chảy vào biển.

Từ huyện Tuy Phước xuống Quy Nhơn, đi trên Q.L 19, chúng ta phải đi qua ba cầu dài: Cầu Trường Úc bắc ngang nhánh sông Tọc chảy qua Trung Tín; Cầu Chợ Dinh ở trên nhánh sông Ngang chảy qua Bình Thạnh; và Cầu Đôi ở trên con nước từ đầm Thanh Cẩn chảy ra.

Khi đi ngang qua những cầu này, chúng ta thường nghe những câu hát ru em, tuy mộc mạc, nhưng nếu chúng ta để ý thì cũng biết được những phần nào những đặc điểm của địa phương và tánh tình người bản xứ. Như:

- Bao giờ Cầu Úc hết vôi
Đôi ta hết đứng hết ngồi với nhau.

- Chợ Dinh bán nón quai hai,
Bộ tua quan mốt bộ quai năm tiền.

- Cầu Đôi nằm cạnh tháp Đôi,
Vật vô tri còn đèo bồng duyên lứa,
huống chi tôi với mình.

Hà Thanh nước mãi trong xanh,
Đèo Son thắm mãi mối tình đôi ta…
Sông sâu cầu đã bắc qua,
Nén hương bên tháp gọi là đền ơn.

Sông Hà Thanh, sông An Tượng cũng như hầu hết các con sông trong tỉnh Bình Định, lòng không được sâu, nên chỉ có lợi cho nhà nông. Thuyền trọng tải nặng không thể lên xuống được.

Về mặt phong cảnh, sông Hà Thanh và An Tượng có nhiều vẻ kỳ tú khi còn chảy quanh co trong vùng núi non trùng điệp. Nhưng khi ra ngoài đồng bằng rồi thì quang cảnh ít thay đổi của những ruộng nương làng mạc không làm cho du khách quan sanh nhiều khoái cảm như lúc còn ở trên cao. Tuy vậy, lặng nhìn những sắc xanh chen vàng điểm lục của ngũ cốc, những điểm xanh xám hoặc đo đỏ của những nóc nhà chen chúc dưới bóng tre xanh, xoài xanh, những đàn cò trắng, những bầy én tía điểm xuyết tình cây cỏ nước mây…, thì chúng ta sẽ nhận thấy vẻ đẹp của những cô thôn nữ, không làm duyên, không làm dáng, lúc nào cũng giữ nét thùy mị tự nhiên.

Đó là đặc điểm của Hà Thanh và An Tượng.

Sông Tân Quan

Ở quận Hoài Nhơn, phía Bắc sông lại Dương.

Thường gọi là sông Tam Quan.

Cổ nhân cho là một con sông nhánh của Lại Giang. Có lẽ xưa kia hai con sông lưu thông với nhau do con nước mà hiện nay là con sông đào chảy từ Trung Yên đến Tài Mương.

Hiện nay con sông Tân Quan biệt lập hẳn.

Sông có nhiều suối làm nguồn, từ dãy núi phía Tây chảy xuống. Có hai nguồn chính:

- Một từ ngã Phụng Du chảy xuống Cầu Nước Mặn, xuống Trung Lương, Tăng Long rồi chảy ra Cửu Lợi.

- Một từ ngã Phú Thọ, Phú Lương (tức Lương Thọ) chảy xuống nhập với nhánh trên tại Cửu Lợi, rồi chảy ra cửa Tân Quan.

Vì phát nguyên nơi vùng núi chạy xuống gần biển quá, nên sông Tân Quan dài không quá 15 cây số. Lòng sông cũng không được sâu. Thuyền trọng tải chỉ vào được đến Cửu Lợi.

Chảy vào cửa Tân Quan còn một con sông nữa do những con suối vùng núi Hoài Sơn và Hoài Châu hợp thành.

Con sông này từ phía Tây Bắc chảy xiêng xiêng xuống Đông Nam, đến Trường Xuân (Thiện Xuân và Trường Thành) thì chảy vào cửa Tân Quan. Sông dài độ chừng 11, 12 cây số. Cũng không được sâu, nên chỉ có lợi cho nông nghiệp.

Nhưng cửa Tân Quan nhờ hai con sông hợp lại, nên nước nhiều và lòng sâu. Thuyền trọng tải vào ra tấp nập. Nhờ vậy mà những vùng ở quanh cửa trở nên phồn thịnh. Và Tân Quan trở thành một nơi đô hội, nổi tiếng phong lưu tự ngày xưa. Một vị tiền bối tỉnh Bình Định, tự danh Ông Kiều có bài ca kể những nơi danh thắng ở dọc bờ biển Việt Nam, từ Phú Xuân vào Gia Định. Trong bài có câu nói về Tân Quan:

Đi qua khỏi mũi Sa Hoàng (Sa Huỳnh)
Kìa kìa lố thấy Tam Quan nhiều dừa.
Anh em thề thốt buổi xưa,
Nam thanh nữ tú rõ vừa con ngươi.
Gặp nhau chưa nói đã cười,
Lần vô Từ Phú là nơi nhiều ghè…

Cửa Tam Quan là cửa sông nằm dọc theo mé biển, từ Nam ra Bắc dài chừng ba cây số, từ Tây xuống Đông rộng hơn nửa cây số. Hai con sông ở hai đầu Bắc, Nam. Cửa Tam Quan chảy ra cửa biển Kim Bồng ở phía Bắc, hẹp nhưng sâu, ghe thuyền vô ra dễ dàng, và không sợ sóng gió.

Suối Đá Trải

Suối phát nguyên tại Đồng Lớn, thuộc xã Bình Nghi, quận Bình Khê, ở phía Nam quốc lộ số 19.

Ngọn nước từ Đông chảy lên Tây rồi chuyển ra Bắc qua cầu Đập Bộng ở xóm Cao, thôn Phú Thiện (Bình Nghi) rồi chảy ra sông Côn qua cầu Đập Bộng.

Người ta gọi suối Đá Trải là vì nhiều khoảng trong lòng suối, đá xanh trải dài ngay ngắn, bằng lặng, như có tay người sửa sang.

Từ cầu Đập Bộng (QL 19) đi vào Nam chừng ba cây số, chúng ta thấy trên mặt đá có nhiều dấu chân to lớn, in sâu vào đá, như dấu chân người đi, mỗi dấu cách nhau chừng năm sáu bước người lớn, và cứ một dấu ở phía trái thì đến một dấu bên phải. Đi một khoảng dài đến nơi gọi là Trổ Đó.

Tại Trổ Đó có dấu hai bàn chân ngón sâu ngón cạn và dấu hai đầu gối. Chính giữa hai đầu gối có một lỗ tròn, miệng lớn như miệng bát uống nước và sâu đến hai gang tay. Truyền rằng xưa kia có ông Khổng Lồ vào đây đơm cá. Những dấu chân kia là dấu chân Khổng Lồ đi. Và những dấu chân nơi Trổ Đó là dấu chân và đầu gối cùng dấu "cậu ấm" in vào đá khi Khổng Lồ quỳ xuống để giở đó bắt cá.

Vì những dấu "ông Khổng Lồ" ở dưới nước, nên mỗi ngày bị nước chảy mòn lần. Hiện những vết chân đi chỉ còn thấy lờ mờ. Riêng những dấu nơi Trổ Đó còn thấy rõ, nhất là lỗ "cậu ấm" nước rữa láng bong.

Suối Đá Trải có nhiều cá. Nhưng tuyệt nhiên không có cá rô. Vì ông Khổng Lồ ăn cá rô bị mắc cổ, tức mình không cho cá rô vào Đồng Lớn và ở các mương suối xung quanh.

Khách du quan tìm đến Suối Đá Trải chỉ vì Ông khổng Lồ và Thi Nại Thị có để lại mấy câu hài hước:

Lòng tham con diếc tiếc con rô,
Trổ đó còn bia tiếng Khổng Lồ
Hồng để mống chân rồng để nhớt,
Khổng Lồ đi để dấu hồ lô!

Lại có mấy câu nữa rằng:

Không Lộ Khổng Lồ
Ông bắt cá rô
Ông ăn mắt cổ
Ông không xấu hổ
Đỗ lỗi cá rô!
Nước nguồn đồng lớn ít khô
Ông thù ông cấm cá rô không được vào!
Rồi ông bỏ Suối Đá Trải,
Ông đi mãi đến phương nào?
Tháng ngày vắng vẻ âm hao,
Nước qua Trổ đó dạt vào nguồn cơn!
Bụi đời lòng suối sạch trơn!
Lòng ông còn giận còn hờn cá rô?!
Nhớ nguồn rô chẳng dám vô…

Cổ nhân nói rằng:

Sơn bất tại cao hữu tiên tắc danh,
Thủy bất tại thanh hữu long tắc linh.

Nghĩa là :

Non chẳng tại cao, hễ có tiên thì nổi tiếng
Nước chẳng phải tại sâu, hễ có rồng thì phải linh.

Ông Khổng Lồ không phải tiên, cũng không phải rồng, nhưng đi đến đâu để dấu lại đến đó, và làm cho nơi ông đến nổi danh. Như thế công ông Khổng Lồ có thể sánh với rồng tiên vậy.

Thế mà vào chơi Suối Đá Trải, ít người nghĩ đến công "trang điểm nước non" của Khổng Lồ. Nghe chuyện ông đối với cá rô và thấy những dấu tích ông để lại, mọi người đều giễu cợt ông. Ngoài những vần thơ hài hước của Thi Nại Thị dẫn trên, còn có mấy vần của Định Phong cũng không kém phần hí lộng:

Hỡi ông Khổng Lồ
Ông vô Đá Trải,
Vì tình qua lại
Vướng ngãi vướng nhân
Đi rồi để lại dấu chân,
Gởi tình thêm dấu "đòn cân nặng tình".
Nước tràn Trổ Đó xinh xinh,
Các cô yếm thắm rùng mình… khi đơm.

Suối Từ Bi

Suối ở xóm Tiên An, ấp Tiên Thuận, xã Bình Giang, quận Bình Khê. Phát nguyên tại vùng núi đèo Bồ Bồ ở phía Bắc, chảy vào Nam, quanh co chừng sáu, bảy cây số thì vào sông Hà Giao tức Hà Rêu.

Khi đến Tiên Thuận thì suối chảy ngang qua chân phía Tây hòn Kho.

Gọi là suối Từ Bi vì hai bên bờ suối có giống cây Từ Bi mọc đầy. Lá cây thơm, đàn bà thường hái về nấu nước gội đầu, hoặc lót dưới chiếu nằm cho hết mỏi.

Phong cảnh không có gì đặc biệt. Danh được truyền chỉ vì mấy vần ca dao ngậm chứa một niềm cay đắng trong lời văn nửa thống thiết nửa mỉa mai:

Củ lang Đồng Phó,
Đỗ phộng Hà Nhung,
Chàng bòn,
Thiếp mót,
Đổ chung một gùi.
Chẳng qua duyên nợ sụt sùi,
Chàng giận chàng đá cái gùi thiếp đi.
Chim kêu dưới suối từ bi
Nghĩa nhơn còn bỏ huống chi cái gùi

Đồng Phó thuộc Thương Giang, Hà Nhung thuộc Hữu Giang là những vùng ở dưới Tiên Thuận. Cặp tình nhân trong câu ca dao, có lẽ là người Tiên Thuận xuống làm ăn nơi Đồng Phó, Hà Nhung.

Nhưng xét trong ba vùng này, dấu tích nghĩa quân Cần Vương còn rải rác ở nhiều nơi (như Hòn Kho là một). Nên ngờ rằng tâm sự trong câu cao dao kia không phải về tình nhân mà về quốc sự vậy. Có điều gì phũ phàng xảy ra trong các đồng chí coi giữ những vùng này, nên mới thác lời mà gởi nhắn.

Ai viếng suối Từ Bi, thử "đi sâu vào lòng suối" xem coi, ngoài giống cây làm thơm tóc phái nữ, còn có những gì bí ẩn nữa chăng.

Suối Đá Dàn

Suối phát nguyên ở vùng núi Phú lạc, thuộc Bình Khê, chảy xuống Kiên Ngãi, Thuận Yên, rồi chảy ra suối Thuận Ninh. Suối còn một tên nữa là Suối Cây Cóm.

Cũng như suối Từ Bi, Suối Đá Dàn, không có kỳ nham quái thạch, nhưng có danh là nhờ câu ca dao ý nhiệm tình thâm:

Chim kêu dưới suối Đá Dàn,
Em còn chút mẹ cậy chàng viếng thăm.

Câu này vì quá phổ biến đã trở thành ca dao, chớ sự thật là một câu tâm sự của người xưa: anh hùng Mai Xuân Thưởng, quê Phú Lạc, nơi phát xuất suối Đá Dàn.

Mai anh hùng tuẫn quốc năm Đinh Hợi (1887). Thái mẫu lúc bấy giờ còn sức khỏe, và khỏi bị liên lụy vì nghĩa Cần Vương. Câu thơ trên là của Mai anh hùng nhắn một ông bạn đồng chí được thoát khỏi nanh vuốt của đối phương.

Truyền rằng: Sau khi phong trào Cần Vương đã lắng dịu, bọn phong kiến thực dân hết đi lùng bắt những người trong phong trào còn sống sót, thì ở Phú Phong các nhân sĩ hợp nhau để cầu tiên hỏi vận nước nhà. Tiên giáng nhưng không xưng tên. Chỉ viết chữ bảo đi mời "Vân Sơn tiên sinh". Vân Sơn tiên sinh tức cụ Nguyễn Trọng Trì, ở thôn Vân Sơn, thuộc An Nhơn, một trong những lãnh tụ phong trào Cần Vương Bình Định được miễn tố. Các nhân sĩ nghe tiên bảo đều có ý ngần ngại:

- Xuống An Nhơn mời được Vân Sơn tiên sinh, trở về thì trời sáng rồi còn chi?

Tiên liền cho biết rằng tiên sinh hiện nằm tại nhà một ông bạn ở xóm trên. Các nhân sĩ cử người đi mời. Lúc bấy giờ tiên sinh đang nằm nơi tây hiên. Phần trời nóng, phần ghẻ ngứa, tiên sinh không ngủ được, đương nghĩ làm "thơ ghẻ" để mua vui. Không giấy bút, tiên sinh lấy ngón tay viết lên không trung những câu nghĩ được. Nghe nói "tiên mời" tiên sinh liền đứng dậy khoác áo đi ngay.

Vừa thấy Vân Sơn đến, cây cọ liền cử động và viết ngay một bài thơ. Vân Sơn giật mình, vì bài "Thơ Ghẻ" của mình vừa phác thảo. Liền đó, cọ viết thêm bài họa. Vân Sơn tiên sinh hỏi tên, Tiên không chịu nói. Hai bên xướng họa cho đến khuya. Những bài xướng họa đều là chữ Hán. Và những vần thơ đều chứa đựng khí vị thần tiên, chớ không đề cập đến quốc sự. Các nhân sĩ có ý chán, bỏ ra về lần lần. Lúc đã thưa người, cọ liền viết một câu Quốc âm:

Nghìn thu Hà Nhạc nương theo bóng,
Một gánh quân thân gởi lại chàng.

Vân Sơn tiên sinh biết thần tiên không phải người xa lạ nhưng chưa đoán được là ai, thì cọ viết tiếp:

Chim kêu dưới suối Đá Dàn,
Em còn chút mẹ cậy chàng viếng thăm.

Vân Sơn tiên sinh liền ôm cọ khóc lớn:

- Mai Nguyên Soái! Mai Nguyên Soái! Cố nhân ơi! Cố nhân!

Câu chuyện không mấy chốc đã truyền xa. Nhưng rồi qua lại ngày qua, già đi trẻ đến, câu chuyện lần lần phai nhạt chỉ còn nghe "Chim kêu dưới suối Đá Dàn…"

Ngày nay:

Ai lên thăm suối Đá Dàn
Để lòng tưởng tới can tràng người xưa.

Suối Đục

Tên chữ là Trược Tuyền. Phát nguyên tại vùng núi phía Bắc ngả Tùng Chánh, chảy vào Thuận Hạnh, chạy gần chân núi Chà Rang, qua ruộng Ba Gò, xuống Hữu Hạnh, rồi hợp cùng suối An Hành chảy vào sông Gò Găng tức sông Quai Vạc.

Nước suối hơi ngà ngà như nước vo gạo. Do đó mà mệnh danh. Suối chảy giữa khoảng đồng trống gò hoang, phong cảnh không có chi lạ. Duy tại Thuận Hạnh, gần đường cái đi, có hai bụi tre lâu đời mọc ở hai bên bờ suối phía Nam phía Bắc. Hai ngọn giao liên, hợp thành một cái nhà tạm thiên nhiên, bóng lồng nước mát. Dưới gốc tre phía Bắc, nổi lên một ụ gò mối vừa to vừa cao. Bò trâu qua lại hằng ngày, cạ lưng vào hoặc lấy sừng hút, năm này sang năm nọ, chân gò mối bị lõm sâu vào thành một mái hiên.

Đã có "nhà tạm tre" lại có "mái hiên gò mối" đủ che mưa tủ nắng, nên khách bộ hành gặp lúc mưa to nắng dữ, thường ghé vào đụt cho qua cơn. Bởi vậy suối cũng có tên nữa là Suối Đục.

Những lúc ghé vào Suối Đục đụt nắng, đụt mưa, trai "anh hùng" gái "thuyền quyên" thường hay gặp gỡ. Mắt qua lời lại, nhiều khi gây nên nợ nên duyên, và "nảy nở" ra những câu hát huê tình làm vang danh Suối Đục:

- Ghé vào Suối Đục đụt mưa,
Chẳng duyên thời nợ gió đưa gặp nàng.
Tư bề ruộng vắng gò hoang,
Cho đây gởi chút can tràng được chăng?

- Giữa đường không tiện nói năng,
Xửng mưa cùng xuống Gò Găng tỏ tình.
Gò Găng có chợ có đình,
Người quen thấy mặt thần minh chứng lời.

Đó là gặp lúc mưa. Còn gặp lúc nắng thời:

- Trời mưa không quán không nhà,
Bờ tre Suối Đục đôi ta cùng ngồi,
Chờ cho ráo giọt mồ hôi,
Cầm tay tỏ thiệt rằng tôi yêu mình.

- Yêu nhau thời mối thời manh,
Tình trao cát trắng dâu xanh tốt gì,
Bọt bèo chút phận nữ nhi,
Miệng đời thị thị phi phi cực lòng.

Suối Nước Nóng

Suối ở tại thôn Hội Vân quân Phù Cát, chữ gọi là Thang Khê. Suối ở giữa gò mọc cây tràm và chổi thanh hao (dùng nấu dầu khuynh diệp). Phát nguyên từ vùng núi thấp ở phía Bắc, đến Hội Vân nước chảy vào một vũng lòng chảo rộng chừng một sào, đáy sâu chừng trên dưới một thước tây, đá mọc lởm chởm. Nước nóng từ dưới "đáy chảo" trào lên, bong bóng sôi, hơi bốc. Mùi tanh tanh. Nước ngoài chảy vào pha với nước nóng trong vũng, rồi chảy xuống gò, theo hướng Nam chảy vào sông Quai Vạc.

Vì có nước lạnh pha lẫn nên nước ở bốn phía bìa, nhiệt độ không cao bằng nước ở giữa vũng. Nước ở giữa vũng nóng phỏng tay. Những người ở chung quanh, khi làm heo làm gà, thường đem đến suối mà trụng. Khi xuống khỏi gò chừng năm chục thước thì nước nguội hẳn và không còn phảng phất mùi tanh.

Ngoài vũng nước nóng ra, suối không có gì lạ.

Nhưng dưới thời Pháp thuộc, suối đã làm chấn động cả tỉnh.

Nguyên có một người mắc bệnh phong đến tắm mấy bận thì bệnh lành. Tiếng đồn. Những người có bệnh ngoài da, như ghẻ ruồi, chùm bao… đến tắm cũng đều lành hết. Tiếng nổi vùn vụt… người ta đồn rằng "đức Thánh Mẫu" giáng trần chữa bệnh cứu dân. Ban đầu năm mười người đến…, và mới chỉ có những người mắc bệnh ngoài da. Rồi mỗi ngày mỗi đông thêm, và những người vàng da, ỏng bụng, đau ruột ruột đau gan, đau phèo đau phổi…, cả đến kẻ mù, người câm… hết gần đến xa, đều kéo đến… Đi đường hỏi thăm nhau. Ai nấy đều bảo linh nghiệm hết sức"… Ai nấy đều tin và một số người bệnh vừa đến tới suối "trong mình khỏe lắm rồi!". Một đồn mười, mười đồn trăm, đồn ngàn, đồn muôn… Tự nhiên chẳng những rắn sanh chân mà sanh cả sừng cả gạc! Người khắp tỉnh kéo nhau đi… Người Phú Yên, Quảng Nghĩa nghe đồn cũng đưa nhau đến… Chật cả đường, đầy cả đồng… Chen nhau mà tắm gội, lấn nhau mà múc nước đem về nhà tặng bà con… Có đến gần cả tháng, ngày nào cũng đông nghẹt cả người. Chánh quyền địa phương sợ lâu ngày sanh biến, liền ra lệnh cấm ngăn. Nhưng chận ngã này người ta đi ngả khác. Sau phải bắt giam một số mới "chấm dứt" được việc "đi tìm nước thiêng".

Nhờ đó mà suối nước Nóng nổi tiếng.

Có gì đâu. Suối nước nóng từ các lớp đá nóng trong lòng đất chảy ra, có chất lưu hoàng, tức là diêm sinh, trị được các chứng bệnh hô hấp, ghẻ sài, phong thấp, nhức óc… những người mắc phải những bệnh ấy uống hoặc tắm nước nóng ở suối thì tất nhiên bệnh giảm hoặc ít hoặc nhiều. Nếu bệnh nhẹ thì khỏi hẳn. Nhưng vì không biết tính chất của nước, nên mới tưởng rằng linh thiêng. Người mình lại có tánh ưa long trọng hóa sự việc. Nhiều người không hẹn nhau, nhưng vì "đồng thanh tương ứng ", cùng nhau gây nên một "phong trào nước thiêng".

Không phải chỉ ở Bình Định mới có suối nước nóng. Trong sách "Đất Việt Trời Nam" của Thái Văn Kiểm có bài nói về Suối Nước Nóng ở Việt Nam. Thái quân cho biết rằng " khắp lãnh thổ Việt Nam, người chuyên môn nghiên cứu về suối nước nóng đã tìm ra từ trước đến nay gần 100 suối". Các địa điểm đều có ghi rất rõ trong Đất Việt Trời Nam.

Trong các Suối Nước Nóng ở Việt Nam, chỉ có suối Vĩnh Hảo ở Bình Thuận được khai thác theo phương thức khoa học.

Suối Nước Nóng ở Thừa Thiên, nằm ở nguồn Tả Trạch sông Hương, cách Huế chừng 30 cây số, được vua Minh Mạng ban cho tên là "Tây Lãnh Thang Hoằng" và được vua Thiệu Trị liệt vào "Thần Kinh nhị thập thắng cảnh" với thơ đề vịnh khắc vào bia đá dựng trên bờ suối.

Còn suối Hội Vân ở Bình Định thì:

- Thời Pháp thuộc các nhà chuyên môn đến lấy nước thử và cho biết rằng trong nước có rất nhiều chất lưu hoàng và nóng 73 độ.

- Thời Tự Đức, quan chánh chủ khảo trường Bình Định khoa Ất Mão (1855) là Bảng Nhãn thị Trạng Nguyên Vũ Duy Thanh có đến thăm và đề vào đá một vịnh rằng:

Cảnh ấy khen ai khéo đặt bày,
Nước sôi một vũng ở nơi đây.
Rát bao nhiêu độ càng thêm nóng,
Nắng mấy mươi phen vẫn cứ đầy.
Lò tạo hóa nung thâu sớm tối,
Lửa âm dương nấu mãi xưa rày.
Đồ Bàn dấu cũ nay còn lại,
Muốn hỏi nguồn cơn nỗi nước này.
Thật là một tao ngộ đáng ghi.

Và ngày nay, đá tuy không còn nét chữ, nhưng tên người đề thơ cùng mấy vần thơ lưu niệm vẫn còn mãi trong lòng người biết quí Suối Nước Nóng Hội Vân.

Suối Nước Ngọt

Chảy xuống đầm Nước Ngọt, ngoài con sông La Tinh ra còn nhiều suối, mạch nước dồi dào, mà người địa phương gọi là sông.

Vì chung chảy vào đầm Nước Ngọt nên xin gọi chung những suối ấy là "Suối Nước Ngọt" cho được gọn gàng.

Những suối đó là:

- Sông Ngòi phát nguyên tại vùng Núi Bà ở phía Nam đầm Nước Ngọt, chảy từ Chánh Hùng, Chánh Thắng, ra An Quang để xuống Đầm. Đi con đường từ Chợ Gành xuống Đề Gi phải qua cầu bắc ngang sông, gọi là Cầu Ngòi.

- Sông Đức Phổ cũng từ vùng Núi Bà chảy ra Chánh Danh, Gia Lạc, rồi chuyển mình xuống Đạo Long, An Trị, đến Đức Phổ để trút nước vào Đầm.

- Sông Bến Trễ, có hai ngọn. Một từ vùng núi Lạc Phụng chảy vào, một từ Núi Hương ở Trung Thuận chảy xuống, hợp nhau ở An Hoan rồi xuống Công Trung Thanh Xuân để vào Đầm.

- Sông Xuân Kiển từ triền phía Đông núi Lạc Phụng chảy vào Nam, qua Xuân Chánh, để vào Đầm.

Sông Xuân Kiển và sông Ngòi ở bờ phía Bắc và phía Nam đầm. Bến Trễ và Đức Phổ ở bờ phía Tây; Bến Trễ ở gần Xuân Kiển, phía Bắc, Đức Phổ ở gần sông Ngòi, phía Nam.

Trong bốn con sông trên, chỉ có sông Đức Phổ là có tiếng.

Có tiếng nhờ nhiều cá.

Sông Đức Phổ từ nguồn đến Đầm, dài chỉ độ mười một, mười hai cây số. Sông có nhiều con suối nhỏ rót vào nên nước không bao giờ cạn. Khúc sông tại vùng Đạo Long, An Trị lại rất sâu và có nhiều hầm hố, nên cá tụ rất nhiều. Nhiều nhất và ngon nhất là giống cá Vược.

Cá Vược ở đây lớn con và nhiều mỡ, thân trắng nõn nà như những bắp tay cô gái Tây Phương , nhìn cá bơi trong lòng nướctrong xanh thì thật là ngon mắt.

Chính giống cá Vược đã làm cho nhiều người ở phương xa để ý đến sông Đức Phổ. Không biết giống cá Vược này có phải là loại cá Lư Ngư ở Ngô Giang mà Trương Hàn mỗi lần gió thu thổi chạnh nhớ đến phong vị, đó chăng? Chỉ biết rằng, ngoài vẻ đẹp bề ngoài vô cùng gợi hứng, thịt cá Vược sông Đức Phổ rất ngon. Côn Giang có cá chép, Lại Giang có cá bống, thì Đức Phổ có cá vược. ba giống cá này đã làm cho mỗi con sông có một biệt thú đối với khách "Dân Thiên" tri vị.

Còn các tay hàn mặc lại tìm thấy nơi sông Đức Phổ, cũng như nơi sông Côn, sông Lại Dương, cái thú của thầy Trang lúc chơi trên hào cùng thầy Huệ. Nên có mấy câu tỏ tình:

Côn Giang cá chép mép son,
Lại Giang cá bống trắng non vóc ngà.
Tình cờ Đức Phổ lần qua,
Đầy sông cá vược nõn nà búp măng.
Đừng lòng tung lưới tấn đăng,
Để lòng chung thú đớp trăng giữa vời.


Hương vị của sông Đức Phổ kể cũng đã ngọt ngào, nên mệnh danh là "Suối Nước Ngọt" tưởng thật xứng đáng vậy.

Trong những nơi đồng vắng non cao của Bình Định, còn nhiều suối nhiều khe , phong cảnh đẹp đẽ, khí vị thanh thoát. Nhưng chưa được xem tường, chỉ mới nghe mà nghe cũng chưa được rõ, nên tạm "dừng bước" nơi đây:


Nguồn tiên mạch suối còn đầy,
Còn duyên bút mực còn ngày tới lui.

-----------------------

Núi non

Bình Định núi non trùng trùng, điệp điệp, và thuộc hệ thống dãy Trường Sơn.

Dãy Trường Sơn chẳng khác một cây đại thọ nằm vắt ngang ở mặt phía Tây, và nứt ra nhiều nhánh nhiều nhóc, lớp chạy thẳng xuống Đông, lớp chạy xiên xiên vô Đông Nam, lớp chạy lài lài ra Đông Bắc. Khi khởi khi phục. Khởi thì núi non bàn khác. Phục thì gò đống hoặc lúp xúp, hoặc ngổn ngang, hoặc lơ thơ, hoặc trơ trọi… Lắm khi bị gián đoạn hoặc vì sông suối, hoặc vì ruộng nương. Nên hình thể khi thấp khi cao, khi đứt khi nối… Nối thôi lại đứt, thấp rồi lại cao… nghĩa là luôn luôn thay đổi, khiến khách du lãm nhìn thấy mới mẻ luôn luôn.

Sơn hệ tuy chia, nhưng nhánh nhóc nhiều khi lẫn lộn. Muốn phân biệt rành mạch núi nào gò nào thuộc nhánh nào, cụm nào thuộc khóm nào theo mạch nào, thì thật là khó.

Cho nên chỉ tạm chia một cách đại khái.

Các dãy núi

Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến cuối Quảng Ngãi đầu Bình Định thì tách ra một nhánh lớn chạy từ Tây xuống Đông, quanh co khúc khuỷu, chất ngất nghênh ngang. Khi gần đến biển thì núi chạy vào Nam cho đến cửa Tam Quan.

Nhánh này tạm gọi là dãy Thạch Tân, tục gọi là Bến Đá.

Vì trong dãy có ngọn núi Thạch Tân nổi danh.

Núi nổi danh là nhờ có di tích lịch sử:

Năm Tân Dậu (1801) Trần Quang Diệu đương vây thành Quy Nhơn, nghe tin kinh thành Phú Xuân bị uy hiếp, liền sai tướng là Trần Văn Chiêu đem quân ra cứu. Trần Văn Chiêu ra đến Thạch Tân, bị quân của Lê Văn Duyệt ở Quảng Nam kéo ra chận đường, phải rút lui. Cũng năm ấy, Tống Viết Phước đem quân đến giải vây cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu bị khốn trong thành Quy Nhơn. Trần Quang Diệu chận đánh tại Bức Cốc. Tống Viết Phước tử trận, hài cốt được đem mai táng tại chân núi Thạch Tân. Đến khi Gia Long lên ngôi liền truy tặng tước Quận công và lập miếu thờ bên mộ.

Dãy Thạch Tân là ranh giới thiên nhiên của Quảng Ngãi và Bình Định. Núi non chia hẳn hai tỉnh ra làm đôi. Nhờ đèo Bình Đê mở nẻo lưu thông cho Nam Bắc.

Đèo Bình Đê trước kia gọi là đèo Thạch Tân. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822) mới đổi tên trạm Thạch Tân ra trạm Bình Đê, nhân đó người ta cũng thấy tên trạm mà gọi đèo. Tuy vậy tên tục "đèo Bến Đá" vẫn còn giữ mãi.

Ngày xưa, người Bình Định, ngoài việc đi lính và đi làm quan, ít ai ra khỏi đèo Bến Đá. Cho nên người địa phương có câu:

Trung quân vương bến Đá trở ra
Hiếu phụ mẫu Bồ Đề trở lại

(Bồ Đề ở Tài Lương, Hoài Nhơn, có chợ có quán, bán buôn thạnh vượng)

Qua khỏi dãy Thạch Tân, vào địa phận Bình Định, Trường Sơn lại chia ra nhiều nhánh nữa. Để cho dễ kêu dễ nhớ, tạm mượn những vùng núi mà nhánh tách ra để đặt tên.

Vậy kế dãy Thạch Tân, là dãy An Lão.

Núi chạy từ vùng An Lão xuống Hoài Nhơn. Nhưng nửa chừng thì phục xuống thành bình cương (gò nổng) và bình dương (đồng bằng). Đến thôn An Giũ lại đột khởi thành núi, núi này gọi là Hương Sơn.

Gọi là Hương Sơn, vì xưa kia núi có nhiều cây dáng hương. Dưới chân núi phía Nam, có bàu nước sâu rộng. Dưới triều nhà Nguyễn, chánh quyền đốn cây dáng hương để cất kho tại lưng núi, tích trữ tiền thuế lúa, thuế trong hạt và lúa nghĩa thương của làng. Do đó núi có tên nữa là Núi Kho. Và cũng do việc cất kho này mà cây trên núi bị đốn hết.

Việc chuyên chở thường dùng voi. Voi nuôi từng bầy hàng ngày đến bàu uống nước và tắm. Vì vậy mà bàu mang tên BàuTượng.

Bàu Tượng nay đã lấp thành một nhánh sông nhỏ chảy vào sông Lại xuống cửa An Giũ. Và kho lương hiện vẫn còn di chỉ.

Núi Kho không cao (224 thước) nhưng có danh, vì có di tích lịch sử và nhất là nhờ vị trí: Đứng chênh vênh giữa khoảng đồng rộng trời cao: dân cư đông đúc, thì ai lại không "biết mặt biết tên".

Trong dãy có nhiều ngọn cao, khí thế rất hùng. Phần nhiều ở xa khuất, được nhiều người biết đến là núi Phước Đính (600 thước), lùn nhưng ngang ngửa, trông bệ vệ, uy nghi, chung quanh có nhiều núi nhỏ vây bọc, và ở trước mặt về phía đông có Hòn Đền (381 thước) ở hướng Bắc, Hòn Dốc Dội (461 thước) ở giữa, và hòn Đồng Bò tên chữ là Độc Dã Sơn ở phía Nam, cũng là những ngọn núi được nhiều người để ý.

Đứng tại An Giũ trông lên chúng ta thấy ba ngọn Hòn Đền, Dốc Dội, Đồng Bò là bộ Tam Sơn để trước bức bình phong là hòn Phước Đính. Còn Hòn Kho là chiếc lư nhỏ để trước án thờ.

Những ngọn núi kể trên, đi ngang qua Hoài Sơn đều trông thấy. Những ngọn núi cao, như Núi Cheu (952 thước), Nước Teup (963 thước), Nước Non (967 thước)… trừ đồng bào sinh sống ở vùng cao ra, ít người lên đến chân đến đỉnh.

Trong dãy An Lão còn nhiều ngọn núi cao, càng lên trên càng cao ngất, nhiều ngọn trên 1.000 thước, song không nổi tiếng vì ở xa.

Dãy An Lão nằm phía Bắc ngạn sông Lại. Ở phía Nam ngạn, song song cùng dãy An Lão, Kim Sơn là tên vùng.

Gọi Kim Sơn vì vùng này có vàng. Vàng có ít. Người trong vùng thường đãi cát lấy vàng, nhưng làm lụng suốt ngày, số vàng bán chỉ đủ tiền công nhật.

Truyền rằng dưới triều Hậu Lê, vàng ở Kim Sơn đã góp một phần lớn trong công việc đúc người vàng để cống hiến Trung Quốc. Nhưng từ khi Nguyễn-Trịnh phân tranh, vàng tự nhiên cạn gần hết, chỉ còn cho người địa phương đủ dùng hàng ngày.

Vùng Kim Sơn thuộc địa phận Hoài Ân.

Núi trong dãy Kim Sơn, cũng như trong dãy An Lão, khi chưa xuống Hoài Nhơn, thì liên tiếp nhau không dứt, và cao chớm chở. Thế rất hiểm, khí rất hùng.

Có danh nhất là hòn Tổng Dinh.

Đó là mật khu của nghĩa quân Cần Vương ngày trước.

Nghĩa quân Cần Vương tỉnh Bình Định do anh hùng Mai Xuân Thưởng chỉ huy. Chia làm hai trấn, coi hai mặt. Mai Xuân Thưởng trấn phía Nam. Tăng Bạt Hổ trấn phía Bắc và đóng Tổng hành dinh tại núi này. Vì vậy núi mệnh danh là hòn Tổng Dinh.

Phía Nam hòn Tổng Dinh (hoặc Tổng Doanh) có hòn Trà Vinh, nghĩa quân cất kho tích trữ lương thảo. Do đó núi có tên nữa là Núi Kho (hay núi Đồng Kho).

Hòn Tổng Dinh và hòn Trà Vinh không cao lắm (495 thước và 428 thước) nhưng chung quanh có núi làm thành, có khe suối làm trì. Rõ là một cõi "trở sơn đái hà" có cái thế "bách nhị". Nhờ vậy mà quân của bọn Việt gian tay sai thực dân Pháp là Nguyễn Thân và Trần Bá Lộc, mặc dù binh đông đúc và vũ khí tối tân, vẫn không thể lên tới. Nhưng sau khi đại bại trận Bàu Sấu, anh hùng Mai Xuân Thưởng tuẫn quốc, thì nghĩa quân ở mật khu Tổng Dinh cô thế, phải giải tán. Tăng Bạt Hổ xuất ngoại, rồi sau này cùng Phan Sào Nam hướng dẫn phong trào Đông Du.

Đi ngang qua Bình Định, nhìn thấy hòn Dinh hòn Kho cùng các hòn phụ bậc ẩn hiện trong bóng mây màu khói, những người biết rõ lịch sử cận đại, đố ai khỏi xúc mối cảm hoài. Cổ Bàn Nhân, gần đây đến viếng Hoài Ân, có mấy vần điếu cổ:

Mây chiều quấn quít Hòn Dinh
Nhớ Tăng Tổng trấn hết tình cứu dân.
Non sông chưa sạch bợn trần
Nắng mưa bao quản tấm thân quê người.
Tre tàn còn có măng tươi
Gương xưa còn tỏ còn người soi sương.

Đó là những danh sơn trong huyện Hoài Ân.

Dãy Kim Sơn, khi xuống đến Hoài Nhơn thì chia ra làm thành hai nhánh. Một nhánh chạy dọc theo tả ngạn sông Lại. Một nhánh chạy bẹt vô Phù Mỹ.

Nhánh chạy xuống tạm gọi là nhánh Hoài Nhơn. Nhánh chạy vô tạm gọi là nhánh Phù Mỹ.

Nhánh Hoài Nhơn không cao và thường bị đồng bằng làm gián đoạn.

Nhưng khi qua khỏi vùng núi Lại Khánh, thì núi lại nổi lên chất ngất và bao trùm hàng trăm dặm vuông. Mặt Bắc ngó xuống sông Lại quanh co lóng lánh. Mặt Đông sát biển cả, mây nước thương mang. Mặt Nam nhìn cánh đồng Phù Mỹ mênh mông và đầm Trà Ổ lai láng.

Đó là núi Bích Khê.

Trong núi có nhiều ngọn. Cao nhất là hòn Chớp Chài (653 thước) và hòn Cao (620 thước) đứng song song. Chớp Chài phía Nam, Hòn Cao phía Bắc, ngó xuống biển Đông. Ở phía Bắc hòn Cao, sát mé biển có hòn Hóc Mít tuy thấp (294 thước), nhưng có danh, vì giữa Hóc Mít và Hòn Cao có đường đèo nối Kim Giao (phía Bắc) và Lộ Giao (phía Nam) là hai nơi trù phú trong vùng. Những khách hàng hải khi cần củi nước... đều ghé vào Lộ Giao. Nên có câu:

Non xanh suối biếc đẹp ghê
Muốn cần nước củi, ta về Lộ Giao

Đèo Lộ Giao, Kim Giao ở phía Tây, hòn Hóc Mít ở phía Đông, sát biển, còn một đèo nữa chạy từ Lộ Giao ra Diêu Quan, tục gọi là Đường Gành. Trên non dưới nước, phong cảnh thật là thanh kỳ. Nơi gành phía đông lại có một kẽ đá rộng lớn. Đứng trên đèo ngó xuống thấy nơi vách kẽ, phía Bắc, một người đá cưỡi con ngựa đá đương phi. Kích thước bằng người ngựa thiệt, dáng điệu rất linh động, trông như sống. Vật thiên nhiên mà in như là tác phẩm của một nhà điêu khắc dày công khổ tứ. Rõ là một kỳ quan.

Phía Nam Lộ Giao còn một đèo thứ ba nữa, chạy vào Phú Thứ thuộc Phù Mỹ.

Thế là Giao Lộ ở giữa hai ngả đèo. Nhờ những đèo ấy mà đường giao thông ở phía biển khỏi bị gián đoạn vì núi Bích Kê.

Hình thế núi Bích Kê rất hiểm yếu.

Năm Quí Tỵ (1773), tướng chúa Nguyễn là Tôn Thất Hương, đem ba chục ngàn quân vào đánh nhà Tây Sơn. Đến Bích Kê, phục binh của Tây Sơn do hai tướng Trung Hoa là Tập Đình và Lý Tài chỉ huy chận đánh. Tôn Thất Hương bị tử trận. Quân Tây Sơn thừa thắng kéo thẳng ra đánh lấy Quảng Nghĩa rồi Quảng Nam.

Năm Nhâm Tuất (1802), Lê Văn Duyệt và Lê Chất chiếm cứ được núi này, rồi đánh vào thành Quy Nhơn. Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bị chận đường rút lui về Bắc phải đem tượng binh theo đường núi qua Lào ra Nghệ An.

Xem thế thì biết Bích Kê hiểm yếu bao nhiêu!

Giữa Bích Kê và Lại Khánh có Đèo Phủ Cũ. Quốc lộ số 1 chạy trên đèo này.

Đèo mang danh là Phủ Cũ là vì lỵ sở của phủ Hoài Nhơn xưa kia đóng ở Lại Khánh, trên dãy đồi ở cạnh đèo. Hiện vẫn còn đền cũ.

Dưới chân đèo ở phía Nam có dốc Tam Tượng mà vùng chung quanh nổi tiếng về Chè. Ca dao Bình Định
có câu:

Anh đi Tam Tượng hái chè,
Bỏ cây ớt chín sau hè chim ăn.

Còn nhánh Phù Mỹ từ Đèo Phủ Cũ chạy xiên xiên vào Đông Nam, đến gần địa đầu huyện Phù Cát thì quày ra Bắc cho đến gần đầm Trà Ổ.

Đứng ngoài biển trông vào thì nhánh Phù Mỹ hợp với nhánh Hoài Nhơn thành một tòa nhà chữ Môn vĩ đại, mà cánh đồng Phù Mỹ là sân và đầm Trà Ổ là hồ nuôi cá.

Trong nhánh Phù Mỹ có nhiều núi cao và có danh, như:

Tượng Đầu Sơn, tục gọi là núi Đầu Tượng (461 thước), ở gần dốc Tam Tượng. Tên do hình núi mà đặt. Chung quanh núi non la liệt. Cảnh trí hùng dũng.

Kế đến Chân Chàng Sơn (cũng có tên nữa là Phan Sơn), ở phía Nam núi Đầu Tượng. Hình núi giống như cây chàng phan, tức cây phước, của nhà Chùa. Tục gọi là núi Cột Cờ đứng sừng sững làm trấn sơn trong huyện (339 thước).

Phía Tây Bắc núi Cột Cờ có núi Màn Lăng, đỉnh cao xanh, sườn vừa dài vừa rộng. Nổi tiếng về cọp. Do đó núi có tên nữa là Hổ Sơn.

Núi Màn Lăng làm ranh giới giữa Hoài Ân và Phù Mỹ. Mở lối giao thông cho hai huyện có đường đèo gọi là đèo Màn Lăng. Đèo có phần dốc và dài (6 km), chạy từ Trung Hội (Phù Mỹ) đến Thạch Khê (Hoài Ân).

Dưới chân đèo, phía Thạch Khê, có một ngôi chùa cổ.

Để giúp hành khách qua lại khỏi bị nạn cọp, nhà sư trụ trì tổ chức việc đưa đón rất nên thơ:

Hành khách đến chân đèo thì dừng lại đợi nhau. Khi đã được năm ba người, nhà sư đến đưa qua đèo.
Không giáo không mác, không trống, không phèng la… Nhà sư thong thả đi trước, tay gõ mõ miệng tụng kinh. Hành khách nối nhau đi theo, khoan thai trật tự… Sang phía bên kia, nếu có khách thì nhà sư quay trở lại, đưa qua đèo. Cứ thế hết ngày nọ sang ngày kia. Ai cúng ít nhiều cũng được, không cũng không sao. Trước kia hổ hoạn thường xảy ra. Từ khi có sự đón đưa của nhà chùa, người qua lại đều được vô sự.

Đó là chuyện cũ ngày xưa. Ngày nay người không còn sợ cọp nên tiếng mõ cây kinh không còn cần thiết.
Từ Màn Lăng trở vô, còn nhiều ngọn núi hiểm trở, như Hòn Giang (790 thước), Hòn Giêng hay Duyên (847 thước) v.v… nối tiếp nhau không dứt.

Kế đến núi Tham Hùng (719 thước) nằm phía Tây huyện lỵ. Hình núi cao vòi vọi, cây cối rậm rạp. Trong núi có mọc giống Thạch Xương Bồ, mùi thơm, dùng làm thuốc. Do đó, núi có tên nữa là Thạch Xương Bồ Sơn (Trong các bản đồ cũ cũng như mới đều ghi là núi Yên Luyên (?)). Trước mặt núi là đồng bằng, sau lưng và phía tả phía hữu đều có nhiều núi cao ủng hộ.

Phía Nam núi Tham Hùng có núi Điệp Thạch, đá chồng chất lên nhau, trông có vẻ kỳ vỹ (417 thước, bản đồ ghi là núi Cung Chấp).

Núi này tiếp với núi Thạch Bàn ở Phía Nam.

Những ngọn núi thượng dẫn đều nằm ở phía Tây Quốc lộ số 1.

Phía đông Quốc Lộ có núi Lạc Phụng. Cũng có tên nữa là Kê Khê Sơn.

Núi này đối trĩ cùng núi Bích Kê ở Hoài Nhơn. Và Lạc Phụng cùng Bích Kê là tả dực và hữu dực của tòa nhà chữ Môn mà dãy núi phía Tây Phù Mỹ là Chính Tẩm, như trên đã tả.

Cũng như Bích Kê, Lạc Phụng là một vùng núi gồm nhiều ngọn đứng trên một căn đế rộng hàng trăm dặm vuông, giăng từ quốc lộ đến gần mé biển, từ đầm Nước Ngọt ra đầm Trà Ổ. Ba mặt Bắc, Đông, nam có đường Liên Hương chạy quanh và hợp cùng quốc lộ thành hình chữ nhật cân đối.

Những ngọn núi đáng kể trong vùng là hòn Xuân Kiển (321 thước), hòn Tháp Tre (605 thước), hòn Núi Miếu (518 thước).

Vùng núi phía Đông dính liền cùng dãy núi phía Tây do ngọn đèo Nhong, tên chữ là Hải Lương.

Đèo nằm trên quốc lộ, dài đến 9 cây số. Hai đầu có hai dốc mà khách bộ hành đã mượn những gốc cây cổ thụ ở hai bên đường để đặt tên: Dốc Mù U ở phía Bắc, Dốc Me ở phía Nam.

Thùy trực cùng Đèo Nhong, có đèo Ô Phi chạy từ Phú Nhiêu đến Chánh Trực, mở đường giao thông cho người ở vùng quốc lộ xuống biển và người vùng biển lên quốc lộ.

Đèo Ô Phi sánh với Đèo Nhong thì thấp thua và cũng ngắn thua, song khúc khuỷu khó đi.

Núi đèo trong nhánh Phù Mỹ, dãy Kim Sơn, đại khái là thế.

Tiếp theo dãy Kim Sơn là dãy Vĩnh Thạnh.

Cũng như Kim Sơn, Vĩnh Thạnh là nơi Trường Sơn nứt nhánh. Núi non chồng chất. Hai miền Vĩnh Thạnh và Kim Sơn liên lạc với nhau nhờ đèo Giốc Đót.

Dãy núi Vĩnh Thạnh chạy thẳng xuống quận Phù Cát. Nhưng nửa chừng thì bị gián đoạn. Sơn mạch chạy ngầm dưới đồng bằng, mãi gần đến mới đột khởi thành Núi Bà.

Núi trong dãy Vĩnh Thạnh có nhiều ngọn cao lớn, tạo cho dãy một hình thế hiểm yếu không kém các dãy Kim Sơn, An Lão. Như hòn Nong Bong, hòn Bong Bong cao độ gần nghìn thước, chất ngất sum sê.

Hòn Bong Bong thường gọi tắt là hòn Bong. Đó là một danh sơn trong dãy Vĩnh Thạnh. Núi đứng nghiêng nghiêng về hướng Tây Nam, hình giống người đàn bà vừa "đi việc cần" xong đứng dậy, tay còn xách quần. Nên người địa phương thường gọi là Núi Xách Quần và đặt ra câu hát rằng:

Xứ em có núi Xách Quần
Lấy ai thì lấy em đừng lanh chanh
Yêu anh thì giữ lấy anh
Em đừng ăn tỏi chê hành là hôi.
Xách quần chạy ngược chạy xuôi
Chạy mỏi cẳng rồi đứng lại bơ vơ
Trên đầu mây kéo bạc phơ
Dưới chân nước chảy lững lờ về đông.

Núi Bà tên chữ là Bà Sơn. Lại có tên nữa là Bô Chinh Đại Sơn.

Núi Bà không phải là một hòn độc sơn, mà là một quần sơn tụ hợp trên một căn đế như Bích Kê và Lạc Phụng.

Núi đột khởi tại Chợ Gồm thuộc thôn Vĩnh Trường. Từ Chợ Gồm, núi chạy xiên xiên xuống Đông Nam qua các thôn Đại An, Khánh Hậu, Chánh Lộc, Phương Phi… đến Cách Thử. Đó là mặt trong. Còn mặt ngoài, thì từ Chợ Gồm núi chạy xuống hướng Đông Bắc, qua thôn Chánh Danh, Gia Thạnh… Đến Chợ Gành trên bờ đầm Đạm Thủy tức đầm Nước ngọt, gần cửa biển Đề Gi, thì quay vào Đông Nam, chạy dọc theo bờ biển, qua thôn Phú Dõng, Chánh Thiện, Tân Thắng, Chánh Oai, rồi chạy thẳng vào Nam, cũng theo mé biển qua các thôn Thanh Hà, Tân Lý, Vĩnh Hội, Trung Nghĩa (vùng Cách Thử).

Núi chiếm một vùng rộng có đến hàng trăm dặm vuông.

Núi ngó ra biển, hùng vỹ, hoành tráng.

Trong núi có nhiều ngọn cao chất ngất, như Hòn Hòe ở phía Đông Nam, Hòn Hang Rái ở phía Đông Bắc, Hòn Chuông ở phía Tây v.v…

Đó là ba ngọn cao nhất. Nhưng cao hơn hết và đặc sắc hơn hết là Hòn Chuông (892 thước).

Hòn Chuông cũng gọi là Hòn Chung.

Hình tròn trịa, đồ sộ, bên mặt có núi nhỏ bao quanh. Trên đỉnh có một tảng đá lớn nằm ngang, bằng phẳng, và bên cạnh một tảng khác đứng thẳng trông cao lớn dềnh dàng. Đứng xa trông giống hình quả chuông úp sấp.

Ngọn núi này đứng phía nào cũng thấy vì vượt hẳn lên trên các ngọn khác. Đứng nơi cầu đá Quy Nhơn nhìn ra, thì trong mây khói lờ mờ, có thể lầm là một ngọn cổ tháp xây trên đỉnh núi.

Chính hòn Chuông là chủ sơn, đại diện toàn thể Núi Bà, nên người địa phương thường gọi Hòn Chuông là Hòn Bà. Và có lẽ do đó mà Núi Bà mệnh danh là Bô Chinh Đại Sơn, vì Bô Chinh là "chiêng đồng đi trốn", mà "chiêng" với "chuông" có thể coi là "đồng loại".

Có người bảo rằng khi đặt tên chữ cho Núi Bà, cổ nhân nhắm hình dáng của toàn thể vùng núi. Vùng núi đứng trên cao ngó xuống thấy hơi tròn như một chiếc mâm đồng bị méo móp. Hòn Chuông nổi lên ở chính giữa như là một cái núm. Nhìn toàn diện giống một "chiếc chiêng đồng úp sấp và có dáng khép nép" nên mới gọi là Bô Chinh, và vì tình thế rộng lớn nên thêm chữ "Đại" vào.

Đó là ức đoán.

Trên Hòn Chung, lại có một khoảng đất bằng, tục gọi là Ba Sân. Truyền rằng:

Năm Quí Sửu (1793), Nguyễn Ánh đem quân vào cửa Thị Nại. Vua Thái Đức sai thái tử Nguyễn Bảo đem binh ra chống giữ. Nhưng Nguyễn Bảo bị thua, thành Quy Nhơn bị quân nhà Nguyễn kéo lên công phá. Vua Thái Đức thấy thế giặc mạnh, liệu khó chống nổi, bèn sai người cầu cứu ở Phú Xuân. Trong lúc binh cứu viện chưa đến, nhà vua thường lên nơi Ba Sân, đứng ngó ra Bắc mà trông đợi.

Có người không tin là chuyện có thật, vì nghĩ rằng:

- Thành Quy Nhơn đóng tại thành Đồ Bàn cũ, ở cách Núi Bà rất xa. Trong khi quốc gia hữu sự, vua Thái Đức làm gì có dư thì giờ để ra tận nơi Ba Sân mà đứng trông đợi.

Không tin là chỉ xét về mặt địa lý chớ không xét kỹ mặt lịch sử.

Sử chép rằng "dưới núi có kho Càn Dương. Chỗ kho này, Tây Sơn dùng làm Tân phủ, cùng thành Quy Nhơn nương tựa nhau".

Thuộc xã Cát Minh, phía Đông thôn Chánh Danh và phía Tây Chợ Gành, có một nổng gò tục gọi là Gò Kho. Kho Càn Dương cất tại gò ấy.

Khi đến Tân phủ, vua Thái Đức vì nóng lòng đợi quân Phú Xuân, có thể lên núi trông lắm.

Lại truyền rằng: Năm Quí Sửu (1793) khi Nguyễn Ánh đem quân vào đánh thành Quy Nhơn thì chia một đạo binh ra tấn công kho Càn Dương. Quân Tây Sơn dựa núi bắn xuống, quân Nguyễn Ánh không tiến được. Tên Trần Công Hiến, người Quảng Nghĩa xin lén vào trong quân Tây Sơn để làm nội ứng. Khi vào được rồi Hiến ra ám hiệu cho quân Nguyễn Ánh biết, rồi cho người mật báo rõ những nơi hiểm yếu của đối phương… Tướng của Nguyễn Ánh nhờ vậy mà biết rõ được địa thế, liền nhắm những nơi nhược điểm mà đánh vào. Khi binh ngoài đánh vô thì Trần Công Hiến ở trong đánh ra. Không kịp phòng bị, quân Tây Sơn bị thua. Quân Nguyễn Ánh phá được thành lũy, chiếm được núi.

Lại truyền rằng:

Khi Nguyễn Ánh chiếm cứ được Núi Bà rồi thì kéo quân vào đóng tại Khánh Lộc (thuộc xã Cát Hanh bây giờ). Lương thảo tích trữ tại kho Càn Dương dùng tiếp tế cho quân Khánh Lộc. Một vị quan coi việc quân nhu, tải lương trên một cỗ xe bánh gỗ, vừa đến chân gò vùng Gia Thạnh, thì xe bị gãy bánh, phải sửa chữa, nên lương đến trễ. Nguyễn Ánh bắt tội chém đầu. Đầu bay đến thôn Trung Chánh (thuộc xã Cát Minh hiện tại và gần Gia Thạnh) rơi trên một nổng gò, tục gọi là gò Loi. Còn nổng ở Gia Thạnh, sau khi xảy ra việc gãy xe, liền mệnh danh là gò Xa Tó, tức gò xe gãy.

Vị quan kia tên gì không rõ, chỉ nghe truy chức tước là "Kỷ Vị khoa Tấn sỹ Phi Vận Đại tướng quân". Hiện có hai nơi thờ là Khánh Lợi, nơi chôn xác, và Trung Chánh, nơi chôn đầu.

Núi Bà nổi danh một phần do di tích lịch sử.

Trong núi còn có Đá Vọng Phu ở vùng Chánh Oai, sự tích nửa hư nửa thực, có chùa Linh Phong, cất trên một ngọn núi ở vùng Phương Phi, phong cảnh thanh tú sự tích kỳ dị.

Và núi tuy cao và liền lạc nhau, nhưng bốn mặt đều có khe có suối, và giữa núi có nhiều thung lũng trồng tỉa rất tốt. Nhân dân địa phương lập thôn ấp trong một vài thung lũng. Như thôn Chánh Hùng là một.

Thôn Chánh Hùng nằm trơ trọi một mình, bốn bề núi non vây bọc. Nhờ hai đường đèo mới tiếp xúc được với đồng bào ở bên ngoài. Một đèo chạy ra phía Bắc, đến thôn Phú Dõng, gọi là Đèo Nhỏ. Một đèo nữa chạy vào phía Nam, đến thôn Mỹ Thuận, Mỹ Long, Chánh Mỹ, gọi là đèo Tố Mộ tục gọi là Tó Mọ hay Đèo Lớn.
Ở mặt phía Đông, có nhiều nơi chạy sát biển, làm trở ngại việc giao thông của nhân dân ở dọc theo mé biển. Như phái trong Chánh Oai, tại Thanh Hi, núi chạy thành một mũi đá hiểm hóc, thọt ra biển, gọi là Mũi Đá Giăng. Nhờ có đường đèo vắt ngang mà người phía Bắc phía Nam mới qua lại được.

Nhưng cũng như đèo Nhỏ, đèo Tố Mộ, đèo Mũi Đá Giăng rất khó đi vì nhiều đá dăm mọc lởm chởm.
Ở phía ngoài đèo Mũi Đá Giăng, từ Chánh Oai, Tân Thắng trở ra tới ngoài Chánh Lợi, cát nổi thành truông. Có nhiều chỗ cát vun thành gò. Qua lại rất bất tiện nhất là mùa hạ nắng nung.

Bởi vậy những người qua lại vùng này rất e ngại đèo và truông. Nên ca dao Bình Định có câu:

Anh về em cũng muốn theo
Sợ truông cát nóng, sợ đèo đá dăm.
Nhưng để an ủi người thương, khách đa tình lại cười duyên, nói nhỏ:
Đá dăm anh đã lượm rồi,
Còn truông cát nóng em bồi bùn non.

Đó là những nét đại cương ở trong và ngoài Núi Bà.

Mới trông qua Núi Bà, có lắm người tưởng không có liên hệ cùng dãy Trường Sơn ở phía Tây, và ở mặt Đông, núi dừng lại ở nơi Đề Gi và Cách Thử.

Nhưng sự thất thì Núi Bà, thuộc sơn hệ dãy Vĩnh Thạnh là một nhánh lớn của Trường Sơn, như trên đã nói, và tới Cách Thử thì phục xuống, sơn mạch chạy ngầm dưới đất và biển nổi lên thành dãy núi Triều Châu.
Núi Triều Châu

Là một vùng cát trắng vun cao như núi, thỉnh thoảng nhô lên những ngọn núi đá, nối liền Cách Thử và chạy dài vào Nam tạo thành một bán đảo làm bờ phía Tây cho biển Đông và bờ phía Đông cho đầm Thị Nại.
Bán đảo Triều Châu rộng từ 2 cây số (chỗ hẹp nhất) đến 5 cây số (chỗ rộng nhất) và dài đến 20 cây số. Màu cát trắng nổi bật giữa vùng nước xanh trời xanh.

Từ Cách Thử trở vào, gần ngót 8 cây số, toàn vùng cát vun thành đống, thành gò, mênh mông bát ngát. Cổ nhân gọi là Trường Châu Lãnh (Núi Bãi Dài) hay Trường Chử Chủy (Mũi Bãi Dài).

Qua khỏi Trường Châu, đến Hưng Lương, sát mé biển Đông, nổi lên một ngọn núi thấp (98 thước) gọi là Đơn Cương (Núi Đơn) dưới chân khỏa cát và dài ra mặt nước như một ngón tay trỏ, và ngón tay trái giơ ra.
Kế đó đột khởi một vùng núi đá đen khá cao (361 thước) bích lập giữa vùng cát trắng, trong khoảng trời nước lục lìa ngoài biển trông vào giống in một bó mực tàu so le dựng đứng trên cuộc giấy quyến trải trên chiếc bàn phủ khăn xanh.

Đó là hòn Hắc Thạch Sơn, tục gọi là Hòn Đá Đen hoặc Hòn Đen.

Phía trong Hòn Đen, cũng dọc theo mé biển và cũng nổi giữa cát, một hòn núi hình yên ngựa, mệnh danh là Mã Cảnh Sơn (núi Cổ Ngựa) tục gọi là núi Giốc Ngựa (166 thước).

Tiếp theo Giốc Ngựa là Eo Vược, sách chép là Yêu Việt. Đó là eo đá hẹp (chừng nửa cây số) mà dài (gần hai cây số), phía Đông biển liếm thành hình bán nguyệt, phía tây đầm Thị Nại ăn sâu vào thành một vũng khá rộng nằm ôm lấy chân eo. Đứng phía đầm trông xuống thật giống sòng tát nước ở đồng quê. Tục gọi là Sòng
Tát Khổng Lồ.

Vì sao lại gọi thế?

Truyền rằng:

Xưa kia, ông Khổng Lồ ngồi tát nước đầm Thị Nại để bắt cá ăn. Thình lình một con cá Vược to lớn nhảy vọt qua núi ra biển. Khổng Lồ nhảy theo chụp không được, tức mình dậm chân. Chân dậm quá mạnh, một phần đá sụp xuống thành vũng, phần còn lại thành eo.

Do đó, eo mệnh danh là Eo Vược, và vũng hợp với eo thành Sòng Tát Khổng Lồ.

Qua khỏi Eo Vược thì đến Phương Mai.

Đây là một vùng núi có nhiều ngọn đứng trên một căn đế. Những ngọn núi này chỉ cao từ 100 thước đến 316 thước mà thôi, được nhiều người biết là hòn Chớp Vung, hòn Mai, hòn Điệp Chữ tức Bãi Điệp… Trên núi không có cây to nên khe núi thường bị khô nước.

Ngoài những ngọn núi đá, Phương Mai còn hai mũi đá nhọn chạy thẳng ra biển. Một ở phía Đông Nam, trông như mũi mác, có chim yến làm tổ nơi gành, nên tục gọi là Mũi Mác hay Mũi Yến và khách Hà mặc gọi là Yến Chủy. Một ở phía Tây Nam, hình giống chiếc nanh cọp, ngó lên thành phố Quy Nhơn, tục gọi là Gành Hổ, sách gọi là Hổ Ky.

Vùng núi Phương Mai là điểm cuối cùng của dãy Triều Châu và là bình phong của cửa biển Thị Nại. Các nhà phong thủy bảo đó là đầu rồng, mà cổ là Eo Vược, khúc mình chạy từ Giốc Ngựa đến Cách Thử và khúc đuôi từ Cách Thử đến Đề Gi. Đi trên máy bay trông xuống thật giống in con khủng long đương bơi trên sóng biếc.

Dãy Triều Châu tuy toàn cát và đá núi, nhưng vẫn có làng có xóm, và dân cư nhờ có biển và đất đai ở vùng thung lũng vẫn được áo ấm cơm no. Trong vùng Phương Mai lại có mỏ dầu hỏa. Có một năm dầu trào lên làm chết cả hoa màu ở quanh vùng, và trong thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), nhân dân địa phương đào được một vũng nhỏ lấy dầu thắp. Mỏ dầu này, theo các nhà chuyên môn thì còn non và không được nhiều nhiên liệu.

Trước kia trên núi Triều Châu, nhất là tại các ngọn núi có nhiều cây cối, có nhiều trâu rừng. Truyền rằng đó là trâu của bà Cố Hỷ.

Bà Cố Hỷ là một phu nhân (sống về thời nào không rõ) rất giàu ở thôn Huỳnh Giản. Nhà bà nuôi hàng nghìn con trâu thả ăn khắp núi. Sau khi bà chết không ai có thể chăn nổi, trâu trở thành trâu hoang. Hiện tại Huỳnh Giản còn có đền thờ phu nhân. Còn trâu vì mức sinh sản mỗi ngày mỗi kém dần, thời Pháp thuộc và thời chiến tranh, lại còn bị bắn giết quá nhiều, nên không còn được bao lăm.

Dưới chân Hòn Mai có một bàu nước ngọt khá rộng và một ngôi chùa cổ. Chùa thờ một tượng Phật bằng đá xanh cao lớn bằng hình người. Phía sau lưng tượng có một hàng chữ bùa. Tượng này người địa phương tìm thấy ở dưới mé bàu. Truyền rằng xưa kia tượng ở tận ngoài Lao Xanh (Pou-lo-Gam-bir). Một hôm tự nhiên biến mất. Nhân dân tìm mãi không thấy. Sau nghe người Phương Mai được tượng Phật, bèn tới nhìn thấy quả là tượng Phật của mình, mới đòi lại. Nhưng hàng trăm người xúm khiêng mà giở lên không nổi, đành phải cúng lại cho người Phương Mai. Những năm có bệnh dịch, bệnh tả, thì tượng Phật tự nhiên đổ mồ hôi. Người địa phương lấy son thoa nơi lưng Phật, lấy giấy vàng in những hàng chữ bùa, đem về dán nơi nhà và đốt uống với nước lã. Người có bệnh lành bệnh, người không bệnh tránh khỏi bệnh.

Ngoài những di tích thần bí, Phương Mai còn nhiều di tích lịch sử. Đó là những dấu thành lũy, đồn bảo của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn Phúc mà nắng mưa chưa dịt hết vết tang thương.

Dãy Triều Châu xưa kia là một quần đảo. Sau khi cửa Cách Thử bị lấp, cát nối liền các hòn đảo lại, rồi ghép đảo vào đất liền thành một bán đảo cát trắng lẫn núi xanh, và làm điểm "chấm hết" cho dãy Vĩnh Thạnh.

Đến nửa huyện Vĩnh Thạnh, dãy Trường Sơn chạy thẳng vào đến Phú Yên. Núi non chồng chất, liên tiếp thành một bức tường lũy có nhiều lớp lồng vào nhau, hùng hiểm hoành tráng.

Đoạn núi này nằm trọn trong địa hạt Bình Khê (Vĩnh Thạnh xưa thuộc về Bình Khê) và trước đây làm ranh giới giữa Bình Định và Gia Lai.

Đối với tỉnh lỵ Bình Định (Quy Nhơn hiện tại cũng như thành Bình Định, Đồ Bàn ngày xưa), đoạn núi Trường Sơn này nằm chính hướng Tây, cho nên mệnh danh là dãy Tây Sơn.

Tên Tây Sơn đã có từ trước.

Vì núi mệnh danh là Tây Sơn, nên những vùng sơn cước ở quanh núi và vùng bình nguyên ở dưới núi cũng mệnh danh là Tây Sơn. Cổ nhân gọi là Tây Sơn Ấp.

Ấp Tây Sơn gồm có ba phần:

- Tây Sơn Thượng là vùng An Khê gồm các vùng núi non và rẫy ruộng làng mạc thuộc huyện An Túc.

- Tây Sơn Trung gồm các vùng sơn cước, từ chân đèo An Khê đến Hữu Giang, Tả Giang.

- Tây Sơn Hạ gồm vùng bình nguyên từ Trinh Tường, Phú Lạc đến cuối huyện Tây Sơn hiện tại. Hai cụm tháp Dương Long và Thủ Thiện là mốc ranh giới của ấp.

Đây là nơi sản sinh tam kiệt nhà Tây Sơn, nữ kiệt Bùi Thị Xuân và anh hùng Mai Xuân Thưởng.

Địa thế hiểm yếu rất có lợi cho việc dụng binh.

Dãy Tây Sơn còn có tên nữa là Trụ Lãnh và Phong Lãnh.

Vì thượng lưu sông Côn chạy lồng theo núi, nên dãy Tây Sơn bị chia làm đôi.

Núi tuy chia mà chẳng những sơn mạch không bị gián đoạn, địa thế nhờ có sông lại càng hiểm trở thêm, và phong cảnh đủ thủy tú sơn kỳ càng thêm tình thêm thú.

Trong dãy có nhiều ngọn cao lớn, trông đồ sộ hiên ngang. Nhưng nổi danh, hoặc vì có di tích lịch sử, hoặc có những đặc điểm làm cho mọi người chú ý là những ngọn sau đây, kể từ Bắc vào Nam:

Trước hết là Hòn Ngăn (785 thước) dính liền với hòn Bong Bong trong dãy Vĩnh Thạnh. Núi cao rậm. Có vẻ ngang ngược như muốn ngăn lối chặn đường khách đi rừng. Bốn mặt có suối khe bao bọc. Thế thật là hiểm hóc.

Phía đông Hòn Ngăn, cách một dòng suối, có hai ngọn núi cao ngất đứng song song như hai răng nanh, nhưng mỗi hòn có một hình dạng một sắc thái riêng. Đó là hòn Vỏ Cá và hòn Da Két.

Hòn Vỏ Cá (734 thước) đứng phía Bắc. Dưới chân thì nở chành bành ra, đến nửa chừng thì thon lần lại, khi gần tới đỉnh, vụt đứng sững lên như đống rơm vun ngọn.

Hòn Da Két (639 thước) đứng phía Nam, thấp hơn hòn Vỏ Cá. Dáng bệ vệ. Triền phía đông, từ lưng núi lên tới đỉnh, không có cây to, chỉ rải rác một ít bụi rậm trong những đám tranh săng mọc dày. Màu tranh săng phản chiếu bóng mặt trời ban mai trông non tươi như màu lông két. Do đó mà núi mệnh danh là Da Két.
Phía Tây Nam hòn Da Két, và liền với Hòn Ngăn ở phía Bắc, Hòn Nước Đỏ (563 thước) cũng có một hòn "anh chị" trong vùng.

Bốn ngọn núi này đứng chung trên một ngăn đế, và chỉ cách nhau do những dòng suối nhỏ chạy dưới chân.
Trên hòn Ngăn và hòn Nước Đỏ có đông đồng bào dân tộc thiểu số ở. Họ đem lâm sản đổi chác cho nhau tại chợ Hà Nhe.

Chợ Hà Nhe ở dưới chân hòn Ngăn, phía Đông Nam, gần Nước Đỏ. Đó là một khoảnh đất trống ở trên một cái trảng rộng, không quán không lều. Chợ họp giữa trời, mỗi tháng sáu kỳ. Người Kinh ở các vùng lân cận, nhất là người Phù Mỹ, Phù Cát cũng đến, đem cá khô, muối, mắm… đổi lấy lâm sản đưa về vùng xuôi.
Cảnh chợ không có gì đặc sắc, ngoài cây gõ lâu đời.

Cây gõ này sống không biết bao nhiêu thế kỷ. Gốc lớn gần bốn người ôm, đọt ngó trật ót. Toàn thân đã thành lõi hết, chỉ còn lơ thơ đôi nhánh tươi. Người dân tộc thiểu số địa phương coi cây như thần, đụng đến phải tội vạ. Xưa, các nhà cầm quyền trong hạt, nhiều người muốn chiếm hữu. Nhưng dùng uy quyền không được, dùng tiền tài không được, đành phải để cây cổ quí nơi chợ làm của chung.

Những cây gõ to lớn như thế, ở trên núi cao không hiếm. Cây gõ Hà Nhe quí ở điểm: ở dưới thấp và đứng độc lập ở giữa một dãy trảng không cây cối, như một cột trụ kình thiên. Thợ rừng thợ săn đến hòn Ngăn, Nước Đỏ, đều lấy cây gõ này làm mục tiêu mỗi khi rủi lạc đường.

Tiếp theo hòn Nước Đỏ, có hòn Bạc Má (570 thước).

Đây cũng là một kỳ sơn. Bộ ngó "chằm vằm" và sắc núi trông đậm hơn các hòn chung quanh. Trên đầu núi, phía Đông Nam, một vùng đá trắng nổi lên như một gò má, đứng xa vẫn trông thấy rõ ràng. Do đó núi mệnh danh là Bạc Má.

Hòn Bạc Má và hòn Nước Đỏ có thể coi là một, nếu không có đèo Bồ Bồ chạy ngang qua, làm ngăn cách Bắc Nam. Không phải có ý trách đèo chia núi. Vì chia như thế không có hại gì cho phong cảnh, mà còn làm lợi cho đồng bào trong việc qua lại hàng ngày. Đèo mở đường giao thông giữa Tiên Thuận ở phía Tây và Thuận Ninh ở phía Đông. Người Phù Mỹ, Phù Cát muốn lên miền trên, thường dùng đường Bồ Bồ để đi cho ngắn.

Tại sao lại gọi là đèo Bồ Bồ? Bồ Bồ có phải tiếng dân tộc thiểu số chăng? Không phải, mà là tiếng thổ âm của Bình Định. Các ông già bà cả bảo rằng:

- Đèo Bồ Bồ đã dài lại dốc. Thêm trước khi lên đèo ở phía Đông cũng như ở phía Tây, hành khách phải lên phải xuống nhiều trảng. Nên khi đến nửa đèo, phải xoay bồ bồ, nghĩa là bị chóng mặt. Cho nên mới gọi là đèo Bồ Bồ.

Truyền rằng tại đèo Bồ Bồ, xưa kia có một con voi to lớn, hai ngà trắng nõn và dài gấp rưỡi cây đòn gánh cong. Tục gọi là ông Bồ. Ông Bồ rất hiền. Ngày ngày thường ra nơi đèo đưa đón hành khách qua lại. Hành khách coi như một người bạn thân, luôn luôn đem chuối, mía đến cho ăn. Voi chết, xác chôn dưới chân đèo. Hành khách qua lại đều tỏ lòng thương tiếc, mỗi người lượm một viên đá hoặc cục đất để trên nấm mồ, lâu ngày cao thành gò.

Có người bảo do chuyện Ông Bồ ấy mà đèo mang tên là Bồ Bồ.

Hai thuyết không biết có thuyết nào đúng hay chăng?

Hiện nay ở dưới chân đèo Bồ Bồ, phía Thuận Ninh, có mấy nấm mộ đất to lớn dị thường. Nếu trên ngọn không có hình con cá chép đào thủng xuống (hình trên các nấm mộ đất) và không có dấu dẫy, thì có thể lầm là những nấm gò. Có một nấm đồ sộ như một ngôi nhà cặp. Không biết đó có phải đó là mả Ông Bồ chăng? Các vị cố lão không còn, các anh chị em thanh niên ở trong vùng lại ít để ý đến những gì không cần thiết hàng ngày, nên không biết hỏi ai cho rõ!

Khi đi lên đèo thì những nấm mộ này phía tay trái. Ở phía tay phải lại có một vùng gò mênh mông, tục gọi là Ba Gò hay Lăng.

Vùng Lăng rất linh thiêng. Không ai dám vào.

Truyền rằng khi vua Gia Long lên ngôi cửu ngũ, nửa đêm người ở quanh vùng thình lình nghe tiếng kèn tiếng trống từ hướng Nam đưa lần lần tới. Trở dậy ra ngoài xem thì thấy bóng cờ bóng liệu từ từ đi đến phía Ba Gò. Có người theo rình xem, thì thấy vào Ba Gò rồi biến mất. Tiếng kèn trống cũng im từ ấy những đêm thanh gió mát, thường nghe tiếng nhã nhạc, văng vẳng trong Lăng.

Có người ngờ rằng Ba Gò là nơi dấu thi hài của vua Thái Đức. Cho nên Ba Gò mới có tên nữa là Lăng.

Đó chỉ là ức đoán mà thôi. Song không ai dám quả quyết rằng không đúng.

Phía Đông Hòn Bạc Má và Đông Nam Ba Gò có một cánh đồng rộng mênh mông, tục gọi là Đồng Quan. Đó là hậu cứ của Nghĩa quân Cần Vương. Những quân lính, sau một thời gian đi chinh chiến, trở về đây nghỉ ngơi và lo việc tăng gia sản xuất. Trong vùng có cất kho trại chứa lương thực và để quân lính ở gọi là Bắc Trại (Còn Nam Trại ở vùng Đồng Vụ). Do đó cả vùng cùng gọi là Bắc Trại.

Bắc Trại thuộc về Thuận Ninh. Đất đai phì nhiêu vì quanh năm có nước suối. Đường vô ra lại rất hiểm trở vì chung quanh đều có núi gò bao vây.

Phía Nam Bắc Trại có cái truông gọi là Truông Xe. Trong thời nghĩa quân Cần Vương nổi dậy chống Pháp những xe cộ chở lương thực vào Bắc Trại, hoặc đến Bắc Trại để chở lương thực ra ngoài tiền tuyến, đều phải dừng nơi Truông. Vì vậy nên gọi là Truông Xe.

Chính những di tích lịch sử này mà làm cho những hòn Da Két, Nước Đỏ, Bạc Má… nổi danh nhiều hơn là những điểm đặc biệt của núi.

Từ hòn Bạc Má trở vô, còn nhiều ngọn núi hiểm, như hòn Sống, hòn Ngang…, nhưng ngoài người địa phương ra ít ai để ý. Núi ở phía Tây đèo Bồ Bồ cũng thế. Đó là vì đường đi khó khăn, khách du lãm xưa nay không đủ phương tiện đến viếng thăm.

Nhưng ở vùng Tiên Thuận, lại có đôi ngọn núi thấp nhỏ, mà danh tiếng được bay xa. Như Hòn Cấm ở Tiên Bình.

Hòn Cấm tuy thấp (246 thước) nhưng rừng rậm cây cao. Có nhiều danh mộc to lớn, hình thù cổ quái. Ngày xưa có người thợ rừng vào núi làm súc. Thấy một cây cổ thụ vừa cao lớn, vừa thẳng, bèn ra tay rìu. Nhưng lưỡi rìu vừa phạm vào thân cây liền gãy đôi. Người thợ rừng dùng lưỡi rìu khác sắc bén và chắc chắn hơn. Lần này rìu không bị gãy nhưng bị mẻ. Lưỡi rìu khác gang thép già gấp đôi thay vào, và cây bị đốn ngã.
Cây vừa ngã thời nơi gốc, ngay chỗ bị đốn, trồi lên một đầu lâu, tóc chờm bờm và xanh như cỏ, đôi mắt mở trừng trừng nhìn người thợ rừng. Người thợ rừng không chút sợ hãi chống rìu đứng trố mắt nhìn lại. Hồi lâu đầu biến mất. Người thợ rừng đẵn cây làm súc đem về bán. Họ Bùi ở trong thôn Tiên Thuận mua súc ấy về làm nhà. Nhà vừa cất xong thì trong gia đình xảy ra liên tiếp những tai biến. Người thợ rừng hối hận đến thuật lại chuyện "thần tóc xanh"! Biết rằng thần cần có chỗ nương tựa, họ Bùi liền khấn vái rồi lập miễu tại nơi cây bị đốn mà phụng thờ. Từ ấy trong nhà yên ổn. Họ Bùi bèn làm đơn kể hết sự tình, trình lên quan địa phương xin cấm không cho đốn cây nơi rừng. Quan chuẩn y.

Do đó núi mệnh danh là Hòn Cấm.

Câu chuyện có phần hoang đường. Nhưng phần đông đồng bào địa phương rất tin, nên ít người dám vào Hòn Cấm. Lắm người không tin, nhưng vẫn thích nghe kể và cũng ưa kể lại cho người khác nghe. Ai cũng lấy làm lý thú. Kẻ bàn ra người tán lại, câu chuyện mỗi ngày mỗi thêm phổ biến. Nhờ thế mà Hòn Cấm nổi danh.

Cũng ở vùng Tiên Thuận, còn có một cụm núi nữa, cũng không cao lớn, nhưng được xa gần mến danh. Đó là Hòn Kho ở tại Tiên An.

Trong núi này, nghĩa binh Cần Vương đã cất kho tích trữ lương thực để chống Pháp. Coi giữ kho là nghĩa sĩ Huỳnh Ngạc nổi tiếng là cương cường liêm chính. Do có kho của nghĩa binh cất trên núi, núi mệnh danh là Hòn Kho.

Dưới chân Hòn Kho có dòng suối Từ Bi phát nguyên từ vùng đèo Bồ Bồ ở phía Bắc, rồi chảy ra sông Hà Giao (tục gọi là sông Hà Riêu, một ngọn nguồn của sông Côn) ở phía Nam.

Phong cảnh thật hữu tình. Vì vậy, khách làng thơ thường đưa nhau đến ngâm vịnh, và có truyền lại nhiều vần khả ái. Như:

- Hòn Kho chất chứa gan trung
Tình sâu đất nước thấm dòng Hà Giao.
Bao phen đổi vật dời sao
Hoa thơm giữa tiếng anh hào càng thơm

(Thơ của Trường Xuyên và Định Phong).

- Rừng xanh mướt bóng sơn thôn
Dấu cũ Cần Vương núi một hòn
Thơm thảo lòng Dân kho chất chứa,
Ngọt ngào ơn nước suối khơi tuôn.
Dòng trôi cuộc bụi theo dâu bể
Đá tạc hồn trung vững nước non.
Biết có đâu đây đền nghĩa liệt?
Hương đưa phảng phất gió hoàng hôn

(Thơ của Trường Xuyên và Định Phong).

Từ Tiên Thuận trở xuống, dọc theo con sông Côn, đến Hữu Giang, Phú Lạc, núi vẫn nối liền nhau, quanh co khúc khuỷu. Nổi danh nhất là hòn Trưng Sơn.

Hòn Trưng Sơn thuộc thôn Phú Lạc, quê hương của tam kiệt nhà Tây Sơn và anh hùng Mai Xuân Thưởng.
Núi không lấy làm cao (422 thước) nhưng trông rất khôi hùng.

Trông gần thì mập mạp hung hăng như con bò đực sung sức lúc nào cũng sẵn sàng để chiến đấu. Nên người địa phương thường gọi là Hòn Sung.

Lưng núi có nhiều chỗ nổi từng vồng từng ụ, như bị đánh sưng. Nên nhiều người gọi là Hòn Sưng thay vì Hòn Sung.

Núi còn có tên nữa là Độc Xỉ Sơn và Độc Nhũ Sơn, vì ở xa, nếu đứng xiên một phía mà trông thì giống một chiếc răng nanh dựng ngược, còn đứng dưới mặt mà ngó thì tương tợ một nấm vú vung (theo truyền thuyết thì Độc là một mình; nhưng Đại Nam Nhất Thống Chí chép chữ Độc là con bò nghé). Do đó núi lại có tên nữa là Bút Sơn.

Hòn Sung là tổ sơn trong vùng hữu ngạn. Mặt hướng về Đông Nam và lấy dãy Sơn Triều ở Cầu Gành, thuộc An Nhơn, làm tiền án và long mạch chạy xuống hướng Đông đến hòn Hạ Thiên Sơn tục gọi là hòn Mò O ở giữa An Nhơn và Phù Cát, thì hồi cố. Phía trước mặt và hai bên tả hữu, gò đống nổi đầy, cuồn cuộn nhấp nhô như sóng biển. Và những ngọn núi chung quanh đều xây mặt về triều cũng như các vị đại thần đứng chầu một đấng anh hùng. Còn gò đống kia là quân lính dàn hầu.

Đến viếng Hòn Sung, một du khách có để lại mấy câu rằng:

Hòn Sung tuy thấp mà cao
Trời cho làm chốn anh hào lập thân.
Kìa ai áo vải cứu dân,
Kìa ai ba thước gươm trần chống Tây.
Chuyện đời rủi rủi may may,
Hòn Sung cây trải đá xây bao sờn.

Trên đỉnh Hòn Sung có một vùng đá hình chữ nhật, bằng phẳng, bên cạnh có hai tảng đá vuông vức chồng lên nhau. Người ta bảo đó là "Mả Mẹ Chàng Lía".

Do đó người địa phương còn gọi Hòn Sung là hòn "Mả Mẹ Chàng Lía".

Sau lưng và phía Tả phía Hữu Hòn Sung, có nhiều ngọn núi không cao nhưng hiểm trở. Như hòn Hành Sơn tục gọi là Dốc Dài nối liền Hòn Sung và hòn Vĩnh Đỗ tức hòn Dồ ở Hữu Giang. Nhưng đặc sắc hơn hết là hòn Đá Dàn, tên chữ là Dương Thạch Sơn (Trong Đại Nam Nhất Thống Chí lại chép chữ Dương là khí Dương).

Hòn Đá Dàn ở phía Bắc Hòn Sung, cạnh Hòn Sõng.

Trên núi, đá chồng chất, lớp dựng lên, lớp giăng ra. Do đó núi mệnh danh là Đá Dàn (dàn bày ra). Dưới chân và trên triền núi, cây cối rậm rạp. Nhưng trên đỉnh lại chỉ có bụi còi. Đỉnh núi bằng phẳng và chạy dài như một con đường quan lộ. Có lối đi từ chân núi lên đỉnh rồi chạy qua Hòn Sõng, ra đèo Bồ Bồ… theo đường tắt ra vùng Kim Sơn. Chính nghĩa quân Cần Vương đã dùng con đường này để liên lạc với các mật khu trong hai vùng Bắc Nam.

Trong dãy núi phía sau lưng Hòn Sung, còn có ngọn suối gọi là Suối Đá vì khô quanh năm và trong lòng ngổn ngang đá là đá, thiên hình vạn trạng, chơm chởm, chập chồng. Đi vào trong sâu, có nhiều hang hố ẩn núp được kín đáo và muốn vào suối phải qua nhiều lớp gò nổng. Thật có thế "một người chống được cả trăm". Nơi đó là một trong những mật khu của nghĩa quân Cần Vương, do em ruột Mai anh hùng là Mai Xuân Quang trấn giữ.

Những núi non của dãy Tây Sơn ở phía hữu ngạn sông Côn đại khái là thế.

Còn bên tả ngạn, thì núi non cũng trùng trùng điệp điệp. Cùng theo một chiều, lớp chạy lên trên An Khê; lớp chạy thẳng vào biên giới Phú Yên; lớp chạy xiên xiên xuống hướng Đông Nam, từ Định Quang xuống Thượng Giang, Tả Giang, Trinh Tường, Phú Phong; thành từng dây dài, chằng chịt, liên miên…chằng chịt.
Đèo An Khê mở lối giao thông giữa Bình Định và vùng Tây Nguyên.

Tên An Khê mới thông dụng từ thời Pháp thuộc, trước kia gọi là đèo Vĩnh Viễn (hiện ở phía Tây đèo có một ấp lấy tên Vĩnh Viễn). Đèo An Khê cao đến 740 thước và dài trên 10 cây số, chạy từ Đông lên Tây. Đường đi rất hiểm trở. Ngày xưa khi quốc lộ số 19 chưa mở, hành khách phải chịu lắm nỗi gay go. Dọc đèo có nhiều nơi dốc ngược, đá mọc lởm chởm. Có khúc phải dãng hai chân mà leo mới khỏi té. Nơi này tục gọi là dốc Chàng Hảng. Dưới dốc Chàng Hảng về phía Đông có một cái ngoẹo, nơi ngoẹo có một cây khế rất sai. Hành khách lên đèo mỏi mệt, thường dừng chân nơi gốc khế để nghỉ ngơi và giải khát. Ngoẹo ấy tục gọi là ngoẹo Cây Khế. Cách ngoẹo Cây Khế chừng một khoảng có hai cây cổ thụ sống trên vài trăm năm, thân cao tán cả. Một cây Ké, một cây Cầy. Đó cũng là hai trạm nghỉ chân rất được hành khách lưu luyến. Trên đỉnh đèo có đồn Thượng An do người Pháp cất.

Thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), nơi đồn này đã xảy ra nhiều trận kịch chiến. Và trước ngày ký hiệp định Genève, quân Pháp ở trong đồn đã bị nghĩa quân tiêu diệt gần hết. Tiếp đó đồn An Khê ở phía Tây đèo, cũng bị bao vây. Thực dân Pháp và các nhà tư bản Việt Nam ở thị trấn An Khê phải tản cư bằng máy bay.

Trước đây gần 200 năm, đèo An Khê là con đường lên xuống của binh mã nhà Tây Sơn.

Hùng khí vẫn còn ngùn ngụt.

Chung quanh đèo, núi non chồng chất.

Ở vùng An Khê có núi Hiển Hách tục gọi là Hảnh Hót và Đại Nam Nhất Thống Chí chép là Hinh Hốt là một danh sơn có nhiều danh mộc, và chung quanh có nhiều ngọn núi qui triều.

Núi vùng An Khê liên tiếp với núi vùng Cao Nguyên.

Phía Đông đèo An Khê, thuộc Tây Sơn Trung, núi cũng cao chớm chở như ở vùng Tây Sơn Thượng, tức vùng An Túc. Ngọn núi có danh nhất là hòn Ông Bình.

Hòn Ông Bình nằm ở phía Tây sông Thượng Giang. Tuy cao chỉ có 793 thước, song trông rất kỳ vĩ và có vẻ bí hiểm. Cây cối sầm uất, ngó mịt mờ thăm thẳm như không có đường lưu thông. Nhưng sự thật thì có nhiều đường lối ra vào. Nơi triền phía Bắc, có đường đèo đi từ Đồng Hào ở ngả Đông, lên Trạm Gò. Cửa An ở ngả Tây. Đèo này gọi là đèo Vạn Tuế, tuy ngắn song dốc và đá mọc lởm chởm, nên rất khó đi. Ở triền phía Nam có con đường mòn chạy theo hướng Đông Nam để đến đèo An Khê. Đó là con đường lịch sử.

Đối trĩ cùng hòn Ông Bình, xiên xiên về hướng Đông Nam có hòn Ông Nhạc cao và rậm không kém hòn Ông Bình. Khí thế cũng rất hùng hiểm.

Từ hòn Ông Nhạc, núi chạy lớp thì vào thẳng trong Nam, lớp thì chạy xiên xiên xuống hướng Đông Nam. Danh sơn đều nằm trong dãy Đông Nam. Trước hết là hòn Tâm Phúc tục gọi là hòn Bà Phù.

Hòn Tâm Phúc không cao, hình giống như chiếc nón lá úp sấp. Núi có nhiều cây cổ thụ và nhiều thú rừng, nhất là heo. Đây là một hòn núi cấm, không ai được vào đốn củi, săn thú. Nhưng không cấm cũng ít ai dám vào, vì truyền rằng núi rất linh thiêng. Bà Thiên - Y A - Na thường tới lui, hào quang sáng chói. Thường ngày lúc mặt trời gần lặn, người ở gần núi thường nghe tiếng ụt heo inh ỏi. Người ta bảo rằng đó là tiếng của những kẻ bộ hạ ở nuôi heo cho bà Thiên Y.

Vì núi có bà Thiên Y tới lui nên mới mệnh danh là hòn Bà Phù tức là hòn núi của bà có Phù Phép.

Gần hòn Bà Phù có hòn Màn Lăng. Hai núi đối trĩ nhau. Thầy địa gọi hòn Màn Lăng là hòn Nhật, hòn Bà Phù là Hòn Nguyệt.

Giữa hòn Màn Lăng và hòn Bà Phù có một thung lũng bằng phẳng và kín đáo, tục gọi là Hóc Yến.

Qua khỏi Hóc Yến đến núi Đồng Phong tục gọi là hòn Lãnh Lương.

Đi xuống nữa thì đến hòn Hoành Sơn, tục gọi là Núi Ngang.

Những ngọn núi thượng dẫn liên hệ mật thiết với nhau, chẳng những về phương diện địa lý vì cùng một sơn mạch mà còn liên hệ về mặt lịch sử, lịch sử nhà Tây Sơn.

Nhà Tây Sơn, trước khi khởi nghiệp đã dùng dãy núi Tây Sơn làm căn cứ quân sự. Và đạo quân tiên phong gồm hầu hết người Thượng.

Truyền rằng: Tất cả các bộ lạc ở vùng Tây Sơn đều theo tam kiệt. Chỉ có người Thượng Xà Đàng ở vùng An Khê không phục. Để cho họ tin rằng mình người của Trời sai xuống trị thiên hạ, Nguyễn Nhạc dùng giỏ bội gánh nước.

Họ Nguyễn lấy một đôi giỏ bội mới, dùng giấy bổi quét dầu trong phất ở phía trong lòng giỏ. Rồi mỗi sớm gánh đôi giỏ xuống khe múc nước về. Người Thượng đứng ở xa trông thấy nước không chảy ra các lỗ giỏ, đều cho Nguyễn Nhạc là kỳ nhân. Nhưng viên chúa đàng cho rằng có phù phép, chớ không phải chân mạng đế vương.

Nhân trên núi Hiển Hách có bầy ngựa rừng, hễ thấy bóng người liền chạy trốn. Người chúa đàng bảo Nguyễn Nhạc nếu gọi được bầy ngựa ấy chạy đến thì mới thật là người Trời. Nguyễn Nhạc về nhà mua một con ngựa cái tơ thật tốt, dạy dỗ thật khôn, hễ nghe tiếng hú thì chạy đến. Đoạn đem thả ngựa vào núi cho theo bầy ngựa rừng. Ngựa rừng xúm lại "ve vãn" và luôn luôn kèm bên chân. Nguyễn Nhạc cất tiếng hú, ngựa cái chạy đến. Bầy ngựa rừng cũng chạy theo, nhưng vừa thấy bóng người thì quày trở lui. Song chạy được một đoạn xa xa, ngoảnh lại trông, thấy ngựa cái vẫn đứng với người một cách thân mật, thì dừng lại đứng ngó. Nguyễn Nhạc lấy bó cỏ cho ngựa cái ăn, rồi bỏ ra về. Bầy ngựa rừng bèn kéo đến ăn cỏ… hôm sau Nguyễn Nhạc lại đến hú và lấy cỏ cho ngựa ăn… Bầy ngựa rừng thấy người không có ý làm hại giống nòi, lần lần làm quen… Nguyễn Nhạc bèn đến tìm chúa Xà Đàng, hẹn ngày và nơi gọi ngựa.

Đến kỳ hẹn, Nguyễn Nhạc cùng chúa Xà Đàng và một ít bộ hạ đến núi Hiển Hách. Nguyễn Nhạc đứng giữa hai tảng đá dựng cao lút đầu người, và bảo chúa Xà Đàng cùng bộ hạ núp phía sau, im hơi lặng tiếng. Đoạn cất tiếng hú. Nghe tiếng chủ hú, ngựa cái từ trong rừng sâu chạy ra. Bầy ngựa rừng chạy theo sau. Nguyễn Nhạc lấy cỏ cho ăn. Đã quen người quen lệ, bầy ngựa rừng không chút sợ hãi. Nguyễn Nhạc vuốt ve con cái rồi từ từ đến gần bầy ngựa, vuốt mỏ vuốt lưng, hết con này đến con khác. Vì thấy ngựa cái đứng yên để vuốt ve, bầy ngựa rừng cũng vững tâm đứng yên ăn cỏ…

Người Thượng Xà Đàng thấy Nguyễn Nhạc "gọi" được bầy ngựa rừng, thì tin rằng là "Người Trời", nên thần phục và chịu theo đánh giặc.

Những người Thượng cũng như người Kinh, tuyển mộ được bao nhiêu đều đem về hòn Ông Bình và Ông Nhạc để tập luyện. Dinh trại đều cất trong hai núi này. Nguyễn Nhạc trấn thủ một núi, Nguyễn Huệ trấn thủ một núi. Vì vậy hai ngọn núi này mang tên hai vị chỉ huy: Ông Nhạc, Ông Bình.

Bình là tên chữ của Nguyễn Huệ (Nguyễn Quang Bình). Đối với Nguyễn Huệ, người địa phương ít hay gọi tên Húy. Lúc nhỏ thì thường gọi là "Chú Ba Thơm" (Hoa Huệ có hương), lớn lên lại thường gọi tên Chữ "Ông Bình". Tên Nguyễn Quang Bình tuy đã đặt từ trước, nhưng mãi sau khi lên ngôi cửu ngũ lấy niên hiệu Quang Trung, đánh đuổi quân Mãn Thanh rồi, mới thấy xuất hiện trong sử sách. Sau khi vua Quang Trung thăng hà, miếu hiệu Thái Tổ Vũ Hoàng Đế, thì hòn Ông Bình được tôn xưng là hòn Thái Tổ.

Còn hòn Ông Nhạc thì người sau đọc trại là Ông Nhược.

Nhà Tây Sơn cử binh đánh nhà Nguyễn năm Tân Mão (1771). Trước khi cử sự, binh đóng ở hòn Ông Nhạc đều dồn qua hòn Ông Bình. Rồi đại binh kéo đến đèo An Khê làm lễ tế cờ khởi nghĩa.

Lễ tế cờ cử hành gần nơi cây Cầy và cây Ké. Cho nên tục có câu "Cây Ké phất cờ, cây Cầy khí cổ".

Cây Cầy hiện vẫn còn; còn Cây Ké đã bị chính quyền cũ, thời Ngô Đình Diệm, đốn lấy gỗ cất trụ sở. Ở các nước văn minh, Đông cũng như Tây, các di tích lịch sử đều được bảo tồn, coi là quốc bảo. Nếu hai cây lịch sử ở đèo An Khê được sanh ở một nước văn minh thì chắc được vun quến chăm coi, trừ sức tàn phá của thời gian, búa rìu không bao giờ nỡ chạm đến.

Những di tích Tây Sơn ở Bình Khê hầu hết đều bị nhà Nguyễn hủy hoại. Hai cây Ké cây Cầy, vì ít người để ý, nên mới còn sống. Nay lại chỉ còn có một cây.

Trước khi xuất binh, Nguyễn Nhạc đã sai Nguyễn Lữ đi vận tải lương thực đến chân núi Đồng Phong. Khi xuống đến Đồng Phong thì lương thực cũng vừa tải đến. Nguyễn Nhạc cho đóng binh lại để phát lương và nghỉ ngơi để chuẩn bị tinh thần chiến đấu. Tướng sĩ được lãnh lương thực tại Đồng Phong nên gọi núi Đồng Phong là hòn Lãnh Lương.

Từ hòn Ông Nhạc đến hòn Lãnh Lương, núi chạy dọc, xiên xiên xuống hướng Đông Nam. Nhưng đến địa đầu thôn Trinh Tường, núi lại quay ngang ra hướng Bắc, tạo thành hòn Hoành Sơn, tức là Núi Ngang, nằm theo hướng Tây Nam Đông Bắc.

Núi Ông Bình ngó ngay xuống Hoành Sơn và làm hậu tẩm cho Hoành Sơn vậy.

Hòn Hoành Sơn không cao (364 thước), nhưng dài và rộng. Phía Tây và phía Nam, dòng suối Đồng Tre và Chi Lưu ôm sát bên chân. Đường Quốc lộ 19 chạy dài ở phía Bắc. Trước mặt, đồng Trinh Tường tiếp đồng Phú Phong, và bên chân một con hương lộ chạy từ Bắc vào Nam, hợp cùng quốc lộ 19 và hai nhánh suối Đồng Tre, thành một chữ nhật làm ranh giới cho núi.

Mộ của Nguyễn Phi Phúc, thân sinh của Tây Sơn tam kiệt, nằm trong hòn núi này.

Truyền rằng:

Niên hiệu Cảnh Hưng triều Lê (1740-1786), trong khoảng Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) trị vì miền Nam, có một ông thầy địa lý Trung Hoa, tục gọi là thầy địa Tàu, thường ngày cứ đi đi lại lại trong vùng Tây Sơn. Nguyễn Nhạc theo rình xem. Một hôm thấy thầy địa đến Hoành Sơn, dùng hai cây trúc cành lá xanh tốt và giống in nhau, đem cắm nơi triền phía Đông, một cây ngoài Bắc, một cây trong Nam, rồi bỏ đó mà đi thẳng.

Biết rằng vùng Tây Sơn là một đại địa, và thầy địa Tàu không tìm ra huyệt tinh nên tìm cách để thử huyệt khí, Nguyễn Nhạc bèn lưu ý đến nơi trồng hai cây trúc và ngày ngày đến thăm chừng. Cách mấy hôm sau, cây trúc phía Bắc héo lá rồi khô dần. Còn cây bên Nam, đến ba tháng vẫn còn sống và tươi tốt như lúc mới trồng. Đó là chứng ứng cho biết rằng long huyệt nằm ở đó. Nguyễn Nhạc hết sức vui mừng, bèn nhổ cây khô cắm vào chỗ cây sống, và đưa cây sống đến cắm vào chỗ cây khô…

Mươi hôm sau, tính đúng một trăm ngày từ khi trồng trúc, thầy địa Tàu đến. Thấy hai cây trúc đều chết cả hai, thầy địa nhún vai trề môi, bỏ đi không thèm trở lại nữa. Bởi thầy cho rằng đó chỉ là "giả cuộc" mà thôi.
Nguyễn Nhạc bèn về bốc mộ ông thân sinh đem táng nơi chân trúc phía Nam.

Lại có người bảo:

Thầy địa lý Tàu vốn quen thân với Nguyễn Nhạc. Lúc đến vùng Tây Sơn "tìm long điểm huyệt", thường tá túc nơi nhà họ Nguyễn, và chính Nguyễn Nhạc là người dẫn lộ cho thầy Tàu. Đi khắp cả vùng núi Tây Sơn, thầy địa chỉ chú ý đến hòn Hoành Sơn. Thầy đi qua đi lại không biết mấy lần, hết đem đặt địa bàn ở chỗ này thì đem đặt ở chỗ khác, ngắm nghía, tính toán, có vẻ đắc ý lắm. Đoạn thầy bỏ đi đâu mất biệt. Hơn một năm sau thầy trở lại và cũng ghé nghỉ nơi nhà Nguyễn Nhạc. Lần này ngoài chiếc địa bàn, thầy có mang theo một chiếc trắp nhỏ, bọc trong một chiếc khăn điều.

Đoán biết rằng thầy Tàu đã tìm được "huyệt mả đại phát" nơi Hoành Sơn nên về Tàu hốt cốt tiền nhân đem qua chôn, Nguyễn Nhạc bèn tìm cách đánh đổi. Nhưng làm sao đánh đổi được, vì thầy Tàu không khi nào rời chiếc trắp ra, thậm chí cả những lúc "đi sông đi bãi". Nguyễn Nhạc đóng một chiếc trắp giống hệt chiếc trắp của thầy địa, và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đem dấu sẵn nơi chân Hoành Sơn…

Đến ngày đã chọn, thầy Tàu lén mang chiếc trắp cùng địa bàn đi lên Hoành Sơn. Vừa đến chân núi thì một con cọp tàu cau to lớn ở trong bụi, gầm lên một tiếng, nhảy ra vồ. Thầy tàu hết hồn, quăng trắp và địa bàn mà chạy. Hồi lâu không thấy cọp đuổi theo, liền quay lại chỗ cũ. Thấy chiếc trắp và địa bàn còn nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long huyệt đã tìm ra…

Chôn cất xong yên thầy trở về Trung Quốc, không ngờ rằng chiếc trắp thầy chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc và con cọp kia chỉ có lốt ngoài mà thôi.

Hai thuyết không biết thuyết nào đúng.

Hai bên chỉ khác nhau ở chi tiết. Cả hai đều đồng một điểm chính là mộ của Nguyễn Phi Phúc chôn ở Hoành Sơn.

Song không ai biết đích xác ở chỗ nào. Chỉ nghe truyền rằng mộ gối đầu lên dãy núi phía Tây Nam (mộ thì gối đầu ở dãy Tây Nam, còn núi thì gối đầu nơi hòn Ông Bình) và lấy hòn Hương Sơn ở Kiên Thạch (Bình Khê) làm nội án, hòn Mò O (An Nhơn) làm ngoại án. Hai hòn này nằm xiên xiên hướng Đông Bắc hòn Hoành Sơn.

Vì có mộ của Nguyễn Phi Phúc, nên Hoành Sơn được tôn xưng là Thiếu Tổ.

Các thầy địa lý Việt Nam cũng như Trung Hoa đều công nhận cuộc đất Hoành Sơn là đại địa, vì có nào bút nào nghiên nào ấn nào kiếm, nào cổ nào chung, ở hai bên tả hữu. Trước mặt trên ba nổng gò, đá mọc giăng hàng giống như những toán quân đứng chầu chực. Và xa xa có hổ phục long bàn.

Không phải khoa ngôn:

Bút đó là hòn Trưng Sơn ở bên Phú Lạc, xa trông phảng phất như ngòi bút chép mây.

Nghiên đó là hòn Hợi Sơn tục gọi là Hòn Dũng trong địa phận Trinh Tường về phía Nam, đứng đối trí cùng hòn Trưng Sơn ở phía Bắc.

Cũng như hòn Hoành Sơn và hòn Trưng Sơn, hòn Hợi Sơn không cao lắm (491 thước), nhưng trông đồ sộ uy nghiêm. Trên núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu, quanh năm không bao giờ cạn. Người địa phương lên vỡ đất làm ruộng, đất tốt không kém dưới đồng bằng. Vì núi có vũng nước nên đám bình dân gọi núi là Hòn Vũng thay vì Hòn Dũng.

Còn đám hàn mặc thì coi vũng nước là nghiên mực của trời, nên đặt cho núi một tên nữa là Nghiên Sơn, tức Hòn Nghiên vậy.

Lên chơi Hòn Nghiên, Định Phong có mấy câu cảm hứng:

Trên non có nước,
Gắng bước mà lên.
Nước non còn nợ chớ quên
Lòng trong với nước gan bền cùng non.
Trời Tây mây kéo hoàng hôn,
Biển Đông thấp thoáng sóng dồn bình minh.
Nghiên son mài ráng lung linh,
Bút tuôn hàng nhạn chép tình nước non…

Hòn Nghiên và Hòn Bút nằm bên hữu bên tả hòn Hoành Sơn, trông thật cân đối. Khách thơ ví von Hoành Sơn như bức bình phong, còn hai hòn Bút Nghiên là hai trụ ba biểu đứng hai bên, hơi lấn ra phía trước một ít.

Sát bên chân hòn Hoành Sơn lại có hai hòn núi nhỏ đứng song song, giống hệt bộ chuông trống nho nhỏ để chiếc áng thờ. Đó là Hòn Một và Hòn Giải. Cổ nhân gọi Hòn Một là Chung Sơn tức Hòn Chuông, Hòn Giải là Cổ Sơn tức Hòn Trống.

Cổ nhân đặt tên không phải dựa vào vị trí, nhưng dựa vào hình dạng.

Hòn Một trông phảng phất quả chuông đồng.
Còn Hòn Giải thì đứng ở phía Bắc trông vào thì dáng tròn tròn như cái trống. Nhưng đứng phía Đông mà ngó lại thấy hơi vuông vuông như một chiếc ấn. Vì vậy, Hòn Giải còn có tên nữa là Ấn Sơn tức Hòn Ấn.

Đặt cho Hòn Giải tên Ấn Sơn chẳng phải chỉ vì hình dáng mà còn vì ở phía Đông, nơi vùng Gò Sặt (Trinh Tường) có một hòn núi thấp và dài gọi là hòn Kiếm Sơn tức Hòn Kiếm. Có kiếm thì phải có ấn mới đủ đôi.
Có người bảo rằng núi mệnh danh là Hòn Ấn, Hòn Kiếm, không phải do hình dáng mà do một sự kiện lịch sử.

Truyền rằng:

Sau khi chiếm được long huyệt ở Hoành Sơn thì ba anh em Nguyễn Nhạc cùng phát tướng. Gương mặt trông sáng rỡ, và việc học hành, võ cũng như văn tiến bộ lạ thường. Thầy học là cụ giáo Hiến một người miền ngoài, giỏi văn lẫn võ, lại rành khoa tướng số trước kia vốn đã có biệt nhãn cùng ba anh em họ Nguyễn, nay thấy thần sắc, biết vận trời đã đến, bèn đem câu sấm "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công" ra khuyên Nguyễn Nhạc về lo mưu đồ đại sự. Vâng lời thầy, ba anh em trở về Kiến Thành lo chiêu mộ hào kiệt.

Vùng đất Tây Sơn xưa kia núi rừng rậm rạp, chuyện thần linh quỷ dữ lan tràn khắp đó đây. Để qui tụ lòng dân, Nguyễn Nhạc bèn lợi dụng óc mê tín của quần chúng.

Hòn Trưng Sơn ở Phú Lạc tuy ở gần thôn xóm, nhưng ít ai dám lên vì sợ "mả mẹ chàng Lía" và nhất là sợ cọp. Thỉnh thoảng Nguyễn Nhạc cho người tâm phúc lên núi, nửa đêm nổi trống nổi chiêng. Người quanh vùng cho rằng hồn chàng Lía về cúng mẹ, người lại bảo đó là quỉ thần mở hội vui. Kẻ bàn người tán, không mấy lúc tiếng bay tận ngàn xa, một thành mười, mười thành trăm. HònTrưng Sơn từ xưa đã có tiếng càng thêm nổi tiếng.

Một hôm, nhà Nguyễn Nhạc có kỵ. Khách khứa đông đúc. Cỗ bàn vừa ăn xong thì trời đã khuya. Những người ở xa đều phải nghỉ lại, còn người quanh xóm thì lục tục ra về. Bỗng trên Trưng Sơn, tiếng trống tiếng chiêng vang dội, và trong bóng cây trên đỉnh, ánh lửa lập lòe. Ai nấy đều kinh dị, Nguyễn Nhạc rủ người lên xem "quỉ thần làm trò gì". Phần đông đều e ngại. Chỉ bốn năm tay lực sĩ xin theo.

Nai nịt gọn gàng, chân vũ hài, tay trường kiếm, đoàn người lần lần bước lên đỉnh Trưng Sơn. Khi đến gần đỉnh, trong ánh lửa mập mờ hiện ra một ông lão râu ba chòm bạc phếu, đầu đội mũ cánh chuồn, mình khoát áo đại bào, chân đi hia, bộ dạng giống hệt một ông lão văn trong các vở tuồng hát bội. Ai nấy đều ớn lạnh vì sợ, và không ai bảo ai, mọi người đều dừng lại một lượt. Ông lão cất tiếng bảo:

- Trong anh em có ai là Nguyễn Nhạc chăng? Nếu có thì hãy lại gần đây nghe lệnh. Còn các người khác hãy đứng yên.

Nguyễn Nhạc run sợ bước ra, đến quỳ trước mặt ông lão. Ông lão phất tay áo, lấy ra một tờ chiếu rồi đọc lớn:

- Ngọc Hoàng sắc mạng Nguyễn Nhạc vi Quốc Vương.

Đoạn trao tờ chiếu cho Nguyễn Nhạc rồi quay bước đi vào trong bóng tối.

Từ ấy tiếng đồn khắp nơi, và ngôi Quốc Vương của Nguyễn Nhạc nằm vững trong tâm trí quần chúng. Trong đám sĩ phu, trừ cụ Giáo Hiến, không mấy ai biết đó là kế của Nguyễn Nhạc.

Chưa lấy làm đủ, Nguyễn Nhạc còn tìm một thanh bảo kiếm và đúc một quả ấn vàng, rồi đem dấu trong vùng núi Trinh Tường.

Một hôm cùng bộ hạ ở An Khê về, đến Hoành Sơn thì ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ chạy nước đại. Nhưng không chạy rẽ qua hướng Bắc để qua sông về Kiên Thành, lại chạy vào hướng Đông Nam. Đến chân núi phía trong Gò Sặt, cương ngựa bị đứt, Nguyễn Nhạc té nhào, trặc chân không đứng dậy nổi. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới đỡ, khi đứng dậy để lên ngựa trở về, Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên lấy thì là một thanh kiếm xưa lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là "của trời ban".

Về nhà, Nguyễn Nhạc nói cùng hai em và thuộc hạ:

- Ngọc Hoàng đã sắc phong ta làm Quốc Vương. Lẽ tất nhiên là phải ban ấn kiếm. Nay kiếm đã có rồi ta phải đi tìm ấn.

Đoạn tổ chức ngay lễ cầu đảo tại chân núi Hoành Sơn.

Cầu đảo ba đêm ngày. Đêm làm lễ ngày cho người đi tìm khắp nơi. Đã hai ngày liền, hàng trăm người chia nhau đi khắp các khe núi quanh Hoành Sơn, mà không có kết quả. Đêm thứ ba, lúc nửa đêm, tiếng trống hành lễ vừa dứt, thì một vòi lửa như một vòi pháo thăng thiên bay xẹt từ Hòn Một đến Hòn Giải thì rơi xuống. Tiếp đó một tiếng nổ nhỏ như tiếng pháo tre, rồi một tiếng nổ lớn có phần dữ dội làm chấn động cả vùng. Ai nấy đều thất kinh. Sáng sớm, Nguyễn Nhạc đem người đến Hòn Giải xem, thì thấy sườn núi phía Nam có một vùng như bị sét đánh lở và nám đen. Trèo lên xem thì một ấn vàng nằm trong kẽ đá tại nơi bị lở. Ai nấy đều tin là "ấn trời ban".

Việc được kiếm được ấn thêm vào việc Ngọc Hoàng ban sắc phong vương, làm thiên hạ tin một trăm phần trăm rằng: "Nguyễn Nhạc quả có chân mạng"…

Nhân việc được kiếm được ấn mà núi mệnh danh là Kiếm Sơn và Ấn Sơn, tức Hòn Kiếm, Hòn Ấn.

Cũng trong vùng Gò Sặt, phía trên Hòn Kiếm, có Hòn Ông Đốc, hình thù giống một con hổ phục, đầu ngó lên Hoành Sơn. Núi không cao, và tuy trông giống hình cọp, song ngó bộ hiền lành như con cọp tu lâu đời. Nơi triền phía Bắc hiện có một ngôi chùa thờ Phật. Cảnh nhân tạo thật là hợp với vẻ thiên nhiên.

Đó là điểm "hổ cứ" đã nói trên kia.

Còn "long bàn" là hai nhánh của con sông Côn, một từ phía Tây Bắc chảy xuống, một từ phía Tây Nam chảy ra, hợp nhau tại địa đầu thôn Phú Phong, trông như hai cánh tay ôm choàng lấy cuộc đất của Hoành Sơn vậy.

Từ vùng Hoành Sơn trở vô, càng vô trong, núi càng cao, nhiều ngọn cao trên nghìn thước. Nhưng trừ các tay thợ rừng tuổi tác, người đồng bằng ít ai biết tên. Người ta gọi chung là Núi Xanh vì đứng ngoài trông vào sắc xanh như nhuộm lục.

Qua khỏi vùng Hoành Sơn, từ địa đầu thôn Phú Phong trở xuống Xuân Hòa, An Xuân, Thú Thiện thuộc huyện Bình Khê, đến Thọ Lộc thuộc huyện An Nhơn, núi dồn hẳn vào Nam, nhượng chỗ cho đồng ruộng. Trong vùng này núi non la liệt, chập chồng.

Được thường nhắc nhở trong văn chương là hòn Kính Sơn tục gọi là hòn Xà Kính, vì là chủ sơn trong nhóm núi Bình Phú (Phú Phong, Xuân Hòa, An Xuân).

Núi nằm trong thôn Phú Phong. Không cao (377 thước) nhưng dài và rộng. Sắc xanh mịt mịt và vẻ trông ngang ngạnh. Chung quanh, quần sơn bao bọc làm cho khí thế thêm hùng.

Ca dao địa phương có câu:

Nghênh ngang kìa ngọn Kính Sơn,
Tình chung đất nước không sờn nắng mưa.
Trong bài Vịnh Phú Phong của Trường Xuyên cũng dùng hòn Kính Sơn làm thi liệu:
Chàm pha núi Kính cây sum trái,
Lụa trải sông Côn nước khỏa dòng.
Và trong bài văn tế Nhạc mẫu, Định Phong cũng mượn Hòn Kính để gởi tâm sự:
Cành tang tử đã chen bóng núi, đỉnh Kính Sơn
không ngừng ngọn gió lay;
Trăng đoàn viên vừa rạng mặt sông, dòng Thái Thủy
bỗng nổi cơn sóng vỗ.

Phía Đông hòn Xà Kính có hòn Chóp Vàng, hình giống như Kim Tự Tháp, thân xanh màu chàm, ngọn vàng màu lá mạ.

Hòn Chóp Vàng thấp hơn hòn Xà Kính (370 thước), song vì đứng mói ra phía trước, nên đi ngoài Quốc lộ 19 nhìn vào trông cao hơn tất cả các ngọn núi trong vùng.

Nằm sau hòn Xà Kính có núi Xà Cù, tức là hòn Thiếu Lĩnh, đỉnh vượt hẳn lên trên đám quần sơn bốn bên (815 thước). Hình thù kỳ dị. Dưới chân thì chỉ có tranh săn và cây lúp xúp. Đến nửa chừng núi thì cây cối mọc dày, thân cao bóng cả. Càng lên cao cây càng to. Trên lưng núi lại có nhiều đá tảng chập chồng, và nhiều hang hố chứa đầy rắn rít. Đồn rằng có nhiều con rít lớn tày bằng bắp chân và dài đến mấy sải, và nhiều con rắn nuốt trọng được cả bò trâu. Người ta gọi rắn lớn như thế là Ông Dài.

Ông già bà cả thường kể chuyện rằng:

Trên hòn Xà Cù có những Ông Dài sống trên ngàn năm, lớn đến mấy ôm và dài đến hàng trăm trượng. Mắt sáng như chớp lạch, miệng rộng như cửa đình làng. Mỗi lần đi thì nổi gió làm cây ngã cát bay. Sức hút cũng ghê gớm. Lúc đói chỉ nằm há miệng, hễ thấy mồi trước mặt thì hút một hơi mồi liền chạy tuột vào miệng. Một hôm, một toán người, vừa mửng sáng lên Xà Cù cắt tranh, bị Ông Dài hút. May lúc bấy giờ bụng ông dài còn trống, đoàn người chạy thẳng phía sau đít mà chui ra.

Nghe kể lại như vậy, ai tin được thì tin cho vui.

Trên Xà Cù quả có nhiều rắn lớn rít lớn thật, song chỉ lớn hơn rắn thường rít thường gấp vài ba lần thôi, nhưng đến giống trăn thì lắm con nuốt sống nổi trâu nghé.

Tôi còn nhớ một năm (chừng lối 1922 hay 1923) vào khoảng tháng 10 âm lịch, trong khi nước lụt xuống ngập cả đôi bờ sông Côn thì nghe đồn rầm lên rằng "có rồng hiện nơi Cây Da Bến Gỗ thôn An Xuân". Thiên hạ kéo nhau đến xem: quấn chặt nơi rễ cây đa, một con vật kỳ hình, mình rắn vảy bạc, đầu tua tủa gạc nai. Nếu có thêm bốn chân với móng vuốt và bộ râu xồm xàm, thì hệt con rồng vẽ trong các bức tranh và ở các vách đình miếu. Phần đông đều tin là rồng giáng hạ. Nhưng sự thật đó là một con trăn to lớn đương nuốt một con nai chưa hết trọn. Con trăn ở trên núi Xà Cù, bị nước lụt trôi xuống Đồng Sim rồi trôi ra sông Côn. Đến Bến Gỗ, gặp rễ da, liền bám lấy chờ nước dựt mà trở về non.

Trăn cỡ ấy, những người đi săn, đi cắt tranh ở Xà Cù thường gặp. Họ không chút sợ. Chẳng những không sợ mà còn mừng, vì trăn càng lớn càng chậm chạp dễ đánh. Gặp được là phát tài, vì thịt trăn và da trăn rất có giá.

Vì nhiều trăn nhiều rắn nên núi mang danh là Xà. Còn Cù không biết ở đâu mà cùng Xà kết đôi lứa.

Phía trong hòn Xà Cù, có hòn Kiền Kiền.

Hòn Kiền Kiền không cao nhưng rậm (325 thước). Trên núi mọc toàn gỗ kiền kiền là một thứ danh mộc quí giá:

Bằng lăng tốt gỗ dễ cưa
So tài lương đống còn thua kiền kiền.

Do đó mà Kiền Kiền nổi danh.

Cũng như vùng Bình Tường (Trinh Tường), núi vùng Bình Phú càng vào trong Nam càng cao. Lắm hòn cao vút mây. Nhưng ngoài những tay thợ rừng cao niên, ít ai đi đến, nên hỏi tên cho biết, không mấy ai nói cho rành.

Vùng này núi cao hùng thắng. Có suối Hầm Hô và động Linh Đổng là hai thắng cảnh của Bình Khê nói riêng, Bình Định nói chung.

Đứng trước hai cảnh này, người Phú Phong thường hát:

Ngó vô Linh Đổng mây mờ,
Nhớ Mai Nguyên Soái dựng cờ đánh Tây.
Hầm Hô cữ nước còn đầy,
Còn gương phấn dũng còn ngày vinh quang.

Mai Nguyên Soái nói trong thơ là nhà anh hùng Mai Xuân Thưởng. Mai anh hùng được toàn thể tướng sĩ Cần Vương tôn làm Bình Tây Nguyên Soái, lãnh đạo nghĩa binh chống Pháp. Chiến khu chính lập tại vùng núi này. Cơ quan chỉ huy toàn tỉnh tại Lộc Đổng tức Đồng Hươu. Còn cơ quan bí mật đóng trong núi tại Linh Đổng.

Mật khu Linh Đổng do Thống binh Nguyễn Hóa trấn thủ, nên tục thường gọi là Hang Thống Nguyễn.

Linh Đổng (Đồng Le) ở phía Tây Lộc Đổng (Đồng Hươu) cách Hầm Hô chừng bốn năm cây số. Đường vào khúc khuỷu quanh co.

Linh Đổng còn có tên nữa là động Linh Phong, gồm hai hang, một trước một sau. Cả hai đều ăn sâu vào núi.
Hang Trước không rộng lắm, chứa cũng được vài chục người. Phía trước có một ngọn núi đứng dựng như một bức bình phong. Phía sau chảy quanh co một dòng suối. Qua khỏi suối đến Hang Sau. Hang này rộng gấp bảy, gấp tám hang trước. Miệng hang rộng đến vài bước, cao đến trên ba thước. Lòng hang bồng bềnh. Bóng mặt trời lọt qua các kẽ đá tỏa ánh sáng lờ mờ. Trước cửa cây cối mọc um tùm che khuất cả miệng hang.

Không phải người quen thuộc đường lối, không thể nào tìm ra được hang. Vì vậy sau khi nghĩa binh bị đại bại ở Bàu Sấu (An Nhơn), Mai anh hùng vào Linh Đổng ẩn náu, quân địch lùng kiếm hết sức mà không thể tìm ra tung tích.

Ở Linh Đổng có đường ra Lộc Đổng, mà cũng có đường sang Đồng Vụ là nơi tích trữ lương thực. Kho lương thực ở Đồng Vụ gọi là Nam Trại, thuộc Trinh Tường (Bắc Trại ở Thuận Ninh).

Đồng Vụ và Đồng Hươu hiện đồng bào ở đông đúc. Còn Linh Đổng, từ khi phong trào Cần Vương bị dập tắt, trừ một đôi người đi săn bắn, khách du quan ở xa cũng như người thường dân ở gần, không mấy ai dám đến, vì tiếng đồn nhiều cọp và rất linh thiêng, ai vào, nếu không bị cọp ăn thì cũng bị quỉ thần quở.

Vùng núi Bình Phú là đoạn đầu của dãy Nam Sơn.

Từ Phú Phong (Bình Khê) cho đến Thọ Lộc (An Nhơn) dãy Nam Sơn chạy thẳng về Đông. Nhưng đến khỏi Thọ Lộc thì chia làm hai nhánh, một chạy ra phía Đông Bắc, một chạy thẳng xuống Đông, giáp bờ biển Quy Nhơn.

Nhánh Đông Bắc gọi là Sơn Triều Sơn, chạy ra đến đường 19 tại Cầu Gành thì dừng lại. Hình giống lưỡi câu liêm ngửa lên hướng Tây Bắc, ngay hòn Trưng Sơn ở Phú Lạc.

Truyền rằng vì núi hướng về chầu hòn Trưng Sơn là nơi phát tích vua Thái Đức và vua Quang Trung, nên mệnh danh là Sơn Triều Sơn.

Trước mặt núi (Tây Bắc) là đồng bằng và một phần của sông Côn.

Phía sau lưng (Đông Nam) có một cái đầm ở thôn Dương Hội (Tuy Phước) tục gọi là Đầm Kim Ngân. Đầm mang tên như thế là vì xưa kia, nơi này cứ mỗi năm vào độ tháng giêng, người địa phương đốt giấy vàng bạc để cáo Sơn Thần trước khi vào núi hái củi. Đầm này (thường gọi là Đầm Dương Hội) thông lưu cùng Đầm Thanh Huy ở thôn Thanh Huy nằm về phía Đông. Nước hai đầm này do con suối từ Sơn Triều Sơn chảy xuống.

Phía Tây Nam có một đường đèo chạy từ đường 19 đến Dương Hội, gọi là Đèo Phú Quí.

Những ngọn núi trong nhánh Sơn Triều Sơn không cao (từ Đèo Phú Quí ra đến cuối dãy, không một ngọn nào cao đến 350 thước) mà cũng không rậm. Có một ngọn ở gần Đầm Kim Ngân, chỉ cao có 47 thước, tục gọi là Núi Bé. Cạnh đó (ở dưới chân Đèo Phú Quí) lại có một cái hố, tục gọi là Hố Giang. Phong cảnh của núi và hố không có gì đặc biệt, song danh đã theo câu ca dao ở địa phương mà bay xa:

Ngó lên Núi Bé ve kêu
Hố Giang nước chảy nhiều điều đắng cay.

(thường các bà các cô ở xa Núi Bé và Hố Giang cứ hát "Ngó lên Suối Bé…" là sai)

Phía Tây Đèo Phú Quí, về phía đường 19 có một hòn núi trọc, hình giống con cóc ngồi le lưỡi, tục gọi là Hòn Cóc. Hòn Cóc ngó ngay xuống làng Đông Viên thuộc xã Nhơn Thọ, An Nhơn. Từ xưa đến nay, người Đông Viên làm ăn rất cần mẫn, song vì đất đai càn táo, nên những nhà khá giả nhất cũng chỉ "đỏ lửa ngày hai".
Người ta đổ thừa "tại Hòn Cóc le lưỡi liếm hết lộc trời". Cho nên có lời than rằng:

Đời sanh ra cóc làm chi,
Lộc Trời liếm sạch lấy gì nuôi dân!

Phía Tây Hòn Cóc lại có Hòn Gian. Đối với các hòn trong nhánh Sơn Triều Sơn, Hòn Gian cao hơn hết (538 thước). Hình núi đứng phía nào trông cũng vuông vức cân phân.

Truyền rằng xưa kia trên núi có một con rít to lớn, tu lâu đời đã có ngọc. Ban đêm ánh ngọc chiếu sáng cả đầu núi. Một người Tàu động lòng tham, tìm cách đoạt ngọc. Và đào một cái giếng sâu dưới chân núi, làm thịt gà bỏ xuống giếng nhử rít. Rít bắt mùi tanh tìm đến. Sợ ngọc dính đồ bẩn, rít thả ngọc trên miệng giếng, rồi mới bò xuống ăn. Người Tàu rình sẵn, lén đến cướp ngọc, rồi trốn đi… Vốn tu đã thành linh vật, rít tìm được nơi trú ẩn của gian hoa, cắn chết, lấy ngọc lại. Do chuyện cướp ngọc rít của tên Tàu kia mà núi bị mang tiếng là Hòn Gian! Kể thật phi lý. Người làm xấu mà núi mang nhơ. Lại càng phi lý hơn nữa là người Ngô "ăn" mà núi Việt "chịu"!.

Đi ngang qua Hòn Gian, nghe chuyện ngọc rít, Thi Nại Thị có ngẫu chiếm mấy câu:

Gian tham rước họa vào thân,
Non lây tiếng xấu kém phần thắm tươi!
Ngô làm Ngô chịu đáng đời,
Trách ai để Việt nhận lời thị phi!
Nước trong sẵn đấy,
Hãy rửa vết nhơ đi,
Kẻo trong thủy tú sơn kỳ,
Còn nghe mãi tiếng tử qui não lòng.

Nhánh Sơn Triều khởi đầu từ Hòn Gian.

Còn nhánh chạy xuống Quy Nhơn mệnh danh là nhánh Dương An Sơn.

Đó là mượn tên hòn núi cao nhất và có danh nhất trong núi mà đặt tên.

Hòn Dương An Sơn nằm trong vùng Vân Canh, hình dáng kỳ đặc khôi hùng. Chu vi hơn trăm dặm, đỉnh cao chót vót, lúc nào cũng có mây vần (Không biết độ cao của núi là bao nhiêu; thời Pháp thuộc có nhiều lần chánh quyền cho người chuyên môn lên trồng bồ để đo, nhưng không thể lên thấu đỉnh). Cây cối sầm uất, phần lớn là danh mộc sống lâu đời và lớn từ một người ôm trở lên. Sườn núi dựng ngược và đá khối chập chồng, dù leo núi giỏi đến đâu cũng khó lên tới đỉnh.

Hòn Dương An không những làm chủ sơn trong dãy núi phía Nam Bình Định, mà còn làm chúa tất cả quần sơn trong toàn tỉnh. Niên hiệu Tự Đức thứ ba (1840), nhà vua ban cho núi tên Phước An và kê vào từ điển.

Vì làm chúa trong tỉnh, nên núi thường được tôn xưng là Núi Chúa hoặc Hòn Ông.

Trên núi có nhiều thú dữ.

Vì khó leo lại nhiều thú dữ, nên từ xưa đến nay thợ rừng chỉ làm súc ở dưới chân núi.

Truyền rằng:

Trên Hòn Ông có sơn thần trấn thủ, và thường có tiên thánh tới lui. Những đêm trời sáng gió trong, người địa phương thường thấy những luồng hào quang khi thì vàng, khi thì xanh, rộng và dài như một cây lụa đậu tư căng thẳng, bay từ Bắc vào hay từ Nam ra. Đến Hòn Ông thì từ từ hạ xuống. Liền đó ba tiếng sấm nổ vang. Kế đó trên núi, tiếng đàn tiếng địch đồng vọng trong ánh sáng lung linh, cho đến lúc trời mửng sáng.
Người trần bảo rằng đó là "thần tiên mở hội". Mỗi năm ít ra cũng một lần.

Những sơn thú, sơn cầm sống lâu năm đều qui tụ nơi Hòn Ông. Ngoài những cọp, beo, voi, gấu… có nhiều giống mãng xà sắp hóa rồng và nhiều con rít thân lớn như cột đình, sắc đen nhánh như huyền và răng có thể cắn vỡ đá trái. Những rắn rít trên núi, phần nhiều đều có ngọc. Cho nên ban đêm trên Hòn Ông luôn luôn thấy ánh sáng như ánh trăng, xanh xanh lạnh lạnh.

Hòn Ông tuy cây cối nhiều, nhưng trên đỉnh không bao giờ có lá rụng. Vì có bầy vượn canh voi, và chiều chiều cùng sớm sớm, hàng nghìn hàng vạn con công sè đuôi quét dọn, rồi từng bầy sơn điểu tha rác rến đem lấp nơi đồng hoang.

Những giống vật trên Hòn Ông đều tu hành, không bao giờ làm hại người lương thiện. Thợ rừng làm gỗ dưới chân núi, mỗi khi gặp cọp, gặp gấu… thì đứng nép bên đường, chắp tay "Mô Phật", là nạn khỏi tai qua. Nhưng bình sanh có làm chuyện gian ác thì dù có thắp hương mà lạy, thì cũng bị tát lở mặt, hoặc cấu thủng da. Bởi vậy, ai cũng cố làm lành, tránh điều dữ, một khi muốn đến Hòn Ông.

Trên núi lại còn có vườn tiêu mọc đủ thứ hoa thơm trái ngọt, mùi hương trộn gió bay ngát cả rừng sâu. Và những dòng suối trong như thủy tinh, chảy róc rách quanh năm không bao giờ cạn. Những ai có phước đến được để ăn trái ngon, uống nước ngọt, thở mùi hoa, thì nếu có bệnh, thì bệnh lành, bằng không có bệnh, thì thêm tinh thần, thêm sức lực. Nhưng chỉ được no lòng, uống đã khát, rồi thôi. Đừng có tham hái trái đem về, múc nước đem về, lòng tham sẽ làm cho mắt mờ, trí độn, không còn biết đường biết ngõ mà về nhà.

Hòn Ông đã có nhiều vẻ kỳ bí. Những huyền thoại càng làm cho kỳ bí thêm.

Người địa phương - người Kinh cũng như đồng bào dân tộc thiểu số - đều coi Hòn Ông là một Linh Sơn, thời nào cũng không dám xúc phạm. Đồng bào dân tộc thiểu số thì tuyệt nhiên không dám đi ngang.

Hòn Ông đứng giữa dãy Nam Sơn, chung quanh núi non la liệt, khói quyện mây tuôn. Nhưng đi trên Quốc lộ 1 và trên đường hỏa xa song hành, cũng như trên đường 19, chúng ta trông thấy rõ ràng: một cỗ bồng vĩ đại đơm đầy quả tử màu phi túy, khi tỏ khi mờ trong bóng khói trầm hương.

Cảnh trí tuyệt đẹp! Thật xứng đáng làm chúa tể các quần sơn trong mọi dãy Bắc, Nam, Tây.

Chung quanh Hòn Ông có nhiều núi cao và có danh. Như hòn Bà Cương hay Bà Phong tục gọi là Hòn Bà (chớ lộn với Bà Sơn tức Núi Bà ở Phù Cát), đứng trong Hòn Ông, phía Tây Bắc.

Hòn Bà là một ngọn núi cao nhất trong những núi cao về mặt Bắc dãy Nam Sơn. Nhưng đứng bên Hòn Ông thì mới "tới cổ". Bởi vậy ở địa phương có câu:

Hòn Ông đứng trong Hòn Bà,
Chồng cao vợ thấp đôi đà xứng đôi.

Và tuy cao lớn, Hòn Bà dáng trông hiền lành. Đồng bào dân tộc thiểu số ở trong vùng, không dám đi ngang qua Hòn Ông vì kiêng sợ, phải vòng ra phía trước Hòn Bà mà đi. Nên có câu phương ngôn "Sợ Hòn Ông qua hông Hòn Bà".

Đối trĩ cùng Hòn Bà có núi Tự Sơn tục gọi là Núi Am, cao suýt soát Hòn Bà (1122 thước).

Ba ngọn Hòn Ông, Hòn Bà và Núi Am đứng chung trong một vùng, ở giữa nhiều núi khác trong dãy. Đứng mói ngoài phía Bắc, đi ngoài quốc lộ 19 trông vào thấy toàn hình rõ dạng, còn một hòn núi nữa rất có danh:
Hòn An Tượng nằm trong địa phận An Nhơn.

Hòn An Tượng không cao (trên 500 thước), hình giống con voi nằm, đầu hướng về Đông. Nơi "đầu voi" có hai vùng đá xanh lộ hẳn ra ngoài sắc cây xanh, trông in ái tai và mắt, điểm xuyết cho núi An Tượng thêm giống voi.

Nhìn hình thù hòn An Tượng khách làng thơ liên tưởng đến Triệu Bà Vương và Bùi Nữ Tường, nên có bài vịnh rằng:

Cây cối lông da, đá thịt xương,
Đúc hòn An Tượng dãy Nam Cương.
Vòi tung suối biếc mây dồn sóng,
Tiếng dội rừng sâu gió tét sương,
Cờ đỏ rạng danh Bùi Nữ Tướng,
Bành vàng roi dấu Triệu Bà Vương.
An phần tuổi tác không vùng vẫy
Giữ vững nghìn thu chí tự cường.

Hình thù làm cho nhiều người để ý. Nhưng An Tượng nổi danh còn nhờ nhiều điểm khác.

Trước hết là di tích lịch sử:

Năm Kỷ Vị (1799) thành Quy Nhơn của Tây Sơn bị Nguyễn Ánh lấy, đổi tên là Bình Định thành, và giao cho Võ Tánh cùng Ngô Tùng Châu trấn thủ. Thành Quy Nhơn tuy bị mất nhưng quân Tây Sơn vẫn giữ các nơi hiểm yếu ở các miền núi như Dương An, An Tượng…

Tháng giêng năm Canh Tân (1800) Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng kéo quân vào đánh thành Quy Nhơn. Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đánh không lại, đóng cửa thành cố thủ.

Được tin Võ Tánh và Ngô Tùng Châu bị khốn, Nguyễn Ánh liền cử đại binh ra cứu viện, sai Nguyễn Văn Thành cùng Lê Văn Duyệt, Tống Viết Phước, Trương Tiến Bảo… đi đường bộ từ Phú Yên đánh ra, còn mình thì từ Thị Nại đánh lên. Quân đường thủy của Nguyễn Ánh không đổ bộ nổi. Quân của Nguyễn Văn Thành bị đánh lui mấy phen. Sau đó biết phía Tây Nam Núi Chúa có đường tắt, nên theo đường ấy đánh bọc hậu quân Tây Sơn đóng ở Núi Chúa. Còn Lê Văn Duyệt thì kéo binh đến đánh úp quân đóng ở An Tượng. Hai bên kịch chiến. Nhưng vì không đề phòng nên quân Tây Sơn bị thua. Song liền đó quân Trần Quang Diệu kéo đến đánh lấy lại Dương An và An Tượng; đuổi quân nhà Nguyễn ra khỏi đất Quy Nhơn.
An Tượng lại là nơi phát nguyên nhiều sông suối. Nên vùng đó gọi là Nguồn An Tượng. Nơi nguồn An Tượng, đồng bào Kinh thường đến mua bán cùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có lập thủ sở với chức Trấn Thủ Thừa Biện ở giữ. Niên hiệu Thành Thái thứ 11 (1899) triệt bỏ, lại đặt "mậu dịch thị trường" để thâu thuế.
Nhờ vậy mà các tầng lớp nhân dân ở xa cũng như ở gần phần đông đều biết tiếng An Tượng.

Chung quanh hòn An Tượng có nhiều ngọn phù dực mà hòn Thủ Đường nằm ở phía Tây Nam đáng để ý nhất.

Hòn Thủ Đường cao hơn hòn An Tượng (581 thước), song vì nằm phía sau nhiều núi khác nên đi ngoài quốc lộ 19 không trông thấy. Núi này liền với núi vùng Bình Phú.

Trong dãy Nam Sơn còn một ngọn núi nữa cũng được nhiều người để ý. Đó là hòn Chóp Vung, thuộc địa phận Tuy Phước. Đi ngoài quốc lộ 19 trông vào, thật giống chiếc vung úp sấp. Ca dao Bình Định có câu:

Ngó lên hòn núi Chóp Vung
Thấy hai con thỏ nằm chung với mèo.

Thật không ai hiểu ý nghĩa câu ấy như sao. Nhưng không phải là một câu hát "bắt vần" như nhiều người tưởng.

Những câu ca dao còn truyền lại đều có sở do. Mình không hiểu, không tìm ra, bảo càn rằng "vô nghĩa" cho "xong chuyện".

Hình dáng làm cho Hòn Vung được khách đi đường lưu ý. Nhưng chính câu ca dao "gần như vô nghĩa" kia đã đưa danh Hòn Vung đi xa.

Trong dãy Nam Sơn trừ Hòn Vung, hòn Núi Chúa và một số núi ở trong xa đỉnh nhọn, phần nhiều núi đi ngoài quốc lộ 19 trông thấy, đều có dáng tròn tròn, xa trông như một bầy voi khổng lồ chen nhau rất linh động. Chúng ta đi mau thì chúng chạy như bầy chiến tượng của bà Triệu bà Bùi xông trận. Chúng ta đi chậm chậm thì chúng là bầy "voi chàm" trong thơ Chế Lan Viên:

Giữa ngàn rậm, muôn cây chen lá thắm,
Voi Chàm đi lẳng lặng dáng uy linh
Cùng rung chuyển, dưới chân Ngài, rừng núi thẳm
Dưới chân Ngài rên rỉ lá vàng xanh.
Và nếu chúng ta dừng lại ngắm thì chúng ta thấy chúng vẫn "đi", đi để đến.
Nơi, một sáng Đồ Bàn vang tiếng hát
Muôn binh Chàm thắng trận giở quân về,
Đàn chiến tượng trong hương trầm man mác,
Càng oai hùng, lặng lẽ, nặng nề đi…

Khí thế dãy Nam Sơn, hùng tráng không kém dãy Tây Sơn và hình dáng đại để là thế.

Và dãy Nam Sơn, với nhánh Dương An. Làm bức thành hoành tráng ngăn đôi Bình Định và Phú Yên. Nam Bắc liên lạc được với nhau nhờ có đèo Cù Mông mở lối.

Đèo Cù Mông nằm gần biển. Tuy không dốc như đèo An Khê nhưng dài và quanh co khó đi. Ngày xưa nơi đây tiêu điều vắng vẻ, nước độc mà thiêng, cực chẳng đã lắm người dân Bình Định mới lên xuống.

Ca dao có câu:

Tiếng ai than khóc nỉ non?
Vợ chàng lính thú lên hòn Cù Mông.

Trong sách "Quốc Văn đời Tây Sơn", ông Hoàng Thúc Trâm viết rằng:

"Từ năm Tân Mão (1771) Nhạc quật khởi ở thượng đạo ấp Tây Sơn (Quy Nhơn). Đến năm Mậu Tuất (1778) thì lên ngôi, kỷ nguyên là Thái Đức. Trong 8 năm ấy, đánh Cựu Nguyễn, chống quân Trịnh. Nhạc tất phải "động viên" số dân chúng ở miền mình đã kiểm soát, nhất là Quy Nhơn, để dưới cờ có thể có một số binh khá đông ngõ hầu mới ứng phó được với tình thế.

Trong gia đình quân nhân, khi tiễn chồng ra trận, lòng chinh phụ nào chẳng dặc dặc buồn, mắt chinh phụ nào là chẳng hoen mờ ngấn lệ. Lại thấy chồng phải trèo núi Cù Mông (Quy Nhơn) với bao vất vả nhọc nhằn, rồi dần chìm khuất trong lùm cây kẽ đá, người chinh phụ càng "Nhìn rặng núi càng ngơ ngẩn nỗi nhà" càng có thể òa lên mà than, mà khóc…"

Lý luận như thế nên Hoàng quân cho rằng câu ca dao sản xuất thời Tây Sơn khởi nghĩa, hoặc thời vua Thái Đức trị vì.

Vì là người địa phương, đã từng nghe cha ông kể lại, nên xin đính chính cho người ở xa biết rõ sự thật:
Khi nhà Tây Sơn dấy binh đánh binh tàn bạo của nhà Nguyễn thì nhân dân Bình Định hưởng ứng nhiệt liệt. Lính không đợi bắt, và đồng bào, một số tự nguyện theo quân lính ra nơi chiến trường ở phục dịch cho quân đội. Vì sao thế, vì là một ách chuyên chế được cởi, hai là vì những của cải đánh lấy được của bọn tham quan ô lại và của bọn nhà giàu sống trên mồ hôi nước mắt đám bình dân đều được chia một nửa, còn một nửa dùng làm quân lương.

Đến lúc vua Thái Đức lên ngôi việc đối xử với quân lính được chu đáo. Ca dao có câu:

Ơn vua Thái Đức chí tình
Cù Mông vắng vẻ nhưng mình vẫn vui.

Câu "Tiếng khóc nỉ non" kia có lẽ sản xuất thời Cảnh Thịnh, lúc cháu đã cướp ngôi bác, và đưa người Phú Xuân vào cai trị dân địa phương, cái óc "coi dân như rác" của nhà Nguyễn sống lại làm khổ nhân dân. Hoặc cũng có thể câu kia lúc Nguyễn Ánh đã cướp được thành Quy Nhơn bắt dân Bình Định đi lính để đánh lại quân của Cảnh Thịnh.

Lòng nhân dân Bình Định đối với nhà Tây Sơn luôn luôn vàng đá. Cho nên suốt 143 năm dưới ách cường quyền, người Bình Định vẫn thờ Tây Sơn tam kiệt tại đình làng Kiên Mỹ, mỗi năm cúng tế đến hai lần, vào mùa xuân và mùa thu, mặc dù bị bọn quan cai trị của nhà Nguyễn làm khó dễ.

Đến khi chết rồi mà còn thế, huống hồ lúc sống lẽ nào có lời than oán như kia.

Nơi đèo Cù Mông cũng có nhiều trận thư hùng giữa quân Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt trong năm Canh Thân (1800) lúc thành Quy Nhơn bị Võ Tánh chiếm đóng.

Từ Cù Mông trở xuống đến mé biển, núi tiếp nhau thành dãy. Nhưng từ Cù Mông trở ra, tuy sơn mạch vẫn liền, mà các ngọn núi thường đứng cách nhau dường không có mối liên hệ. Đỉnh núi lại không cao. Nên không được hùng. Tuy vậy thế vẫn hiểm. Nếu có quân đóng trong vùng thì địch khó qua nổi đèo Cù Mông vậy.

Đáng kể là hòn Sơn Chà ở Phú Tài (Tuy Phước). Núi không cao (339 thước) nhưng đồ sộ. Trên đỉnh có một thung lũng rộng chừng vài ba mươi mẫu Tây. Trong thung lũng có một ngôi chùa thờ Phật gọi là chùa Eo Mén, do bà Bá Liên, nhạc mẫu nhà văn hào Đào Tấn cất. Phong cảnh thanh u, khách bốn phương thường đến thăm viếng. Dưới chân núi có đầm Ngọc Châu, tục gọi là Bàu Cả, không lớn lắm nhưng nước vẫn lai láng quanh năm.

Ở đèo Cù Mông đi ra thì núi nằm bên trái, đầm nằm bên phải, nghĩa là núi phía Tây, đầm phía Đông.
Phía Đông Bàu Cả, một dãy núi không cao lắm (334 thước) chạy từ Vân Quang đến Phú Vinh. Núi này không có tên riêng, hễ chạy qua thôn nào thì lấy tên thôn ấy mà gọi. Dưới chân núi, về hướng Đông Nam, lại có một cái đầm nữa, là một đầm tư của một phú hộ ở Quy Nhơn là Bá Mười. Do đó, người ta gọi là đầm Bá Mười, hay đầm Thanh Cẩn, tên ông ta.

Núi này liền với núi vùng Quy Nhơn (trong đó có Hưng Thạnh, Xuân Quang…). Đèo Son ở địa đầu Quy Nhơn mở đường liên lạc từ quốc lộ 1 vào vùng phía trong.

Vùng núi phía Bắc đèo Cù Mông, thuộc Tuy Phước, phía Tây liên lạc với núi vùng Vân Canh, phía Đông giáp biển và phía Đông Nam thì liền với vùng núi phía Đông của Cù Mông. Cho nên ngó qua thời dường như rời rạc, nhưng sự thật vẫn liên lạc mật thiết với nhau, Đông cũng như Tây, Nam cũng như Bắc.

Trước khi xuống Quy Nhơn để chấm dứt núi non dãy Nam Sơn, tưởng cũng nên giới thiệu cụm núi nằm một mình ở phía Bắc quốc lộ, dưới Cầu Đôi, mà phía trước có hai ngọn Tháp Đôi cổ kính, đó là hòn Khố Sơn tục gọi là Núi Kho hay Núi Khố. Tuy nhỏ, thấp nhưng quan trọng, vì thời chiến thường dùng làm vọng đài coi chừng địch ở bốn mặt. Hiện nay núi đã bị phá. Trong vài năm nữa e biến thành một đám đất bằng. Nên ghi lại may có giúp ích cho người sau có lòng hoài cổ vậy.

Vùng núi Quy Nhơn, từ Hưng Thạnh, Xuân Quang xuống, không có ngọn núi nào cao, cũng không có hòn nào rậm. Nhưng có biển cả mênh mông, cát vàng, sóng bạc, làm cho khí thế dãy Nam Sơn thêm phấn khởi mãnh liệt, làm cho phong cảnh dãy Nam Sơn thêm ngoạn mục thích tâm.

Bàn về núi non tỉnh Bình Định, cổ nhân lấy thành Đồ Bàn làm Trung Tâm Điểm, và chia làm ba dãy:

- Dãy Bắc Sơn gồm tất cả các quần sơn từ Núi Bà trở ra Bến Đá.

- Dãy Tây Sơn là núi non trong huyện Vĩnh Thạnh - Bình Khê (xưa kia là một huyện)

- Dãy Nam Sơn là hai nhánh Phước An và Triều Sơn.

Vì đứng tại thành Đồ Bàn mà trông thì những núi phía Bắc, chỗ nối bù vào chỗ đứt, nơi thấp núp dưới bóng nơi cao, nên thấy núi liền giây, chập chồng đằng đằng.

Còn hai dãy Tây Nam thì bản thân vốn đã liền lạc thành hai bức tường thành có hai lớp lồng vào nhau.

Ba dãy núi ảnh hưởng với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, về mặt khí thế, hòa hợp với nhau bổ khuyết cho nhau về màu sắc đường nét. Dãy này ủng hộ dãy kia, dãy kia củng cố dãy nọ, tương y tương ỷ, tạo Bình Định thành một nơi thiên hiểm về mặt quân sự, thành một bức tranh tú vỹ hùng kỳ của đất nước Việt Nam muôn thuở.

Những hòn độc sơn

Núi Bình Định thuộc hệ thống dãy Trường Sơn, thường nối tiếp nhau thành dãy dài, hoặc quây quần nhau thành khóm và hầu hết đều bằng đá và cây cối sum sê.

Nhưng rải rác đó đây, lại có những ngọn núi đất mọc lẻ loi giữa đồng bằng, như những cù lao ngoài biển. Những ngọn núi này phần nhiều là núi trọc và không cao. Nhưng có lắm ngọn có danh. Như hòn Hương Sơn chẳng hạn.

Hòn Hương Sơn (100 thước) tục gọi là Núi Thơm nằm tựa sông Côn về phía Bắc ngạn, giữa những cánh đồng rộng của thôn Kiên Thạnh ở phía Tây, thôn Trường Định ở phía bắc, thôn Vân Tường tiếp theo Trường Định chạy từ Tây Bắc, vòng qua mặt Bắc rồi quẹo xuống Đông Bắc, thôn An Chánh tiếp theo Vân Tường giăng dài ở mặt Đông, từ Bắc vào Nam, thuộc huyện Bình Khê.

Hòn Hương Sơn là một hòn núi đất sỏi càn táo, gai rậm cây thưa. Chỉ phía sông Côn và phía Kiên Thạch, từ chân núi lên gần đỉnh, cây cối sum mát. Đồng bào thôn Kiên Thạnh hầu hết đều cất nhà ở trên triền núi. Nhà cất từng tầng từng bậc, xa trông tưởng chừng nhà nọ chồng lên nhà kia, tranh có ngói có, ẩn hiện trong những đám cây xanh. Buổi mai bóng núi che mát. Lúc bình minh, lúc hoàng hôn, khói nấu cơm từ sườn núi bay ra lững lờ phơ phất. Đứng bên kia sông Côn xiên xiên về hướng Tây mà trông sang thật vô cùng ngoạn mục.

Dưới chân núi, vào khoảng cuối Kiên Thạnh đầu Trường Định, có một bàu nước rộng chừng vài ba mẫu ta, gọi là Bàu Um. Bàu này có điểm đặc biệt là rất nhiều ốc bươu. Mỗi buổi sáng ốc bươu bám vào rong nổi đặc cả mặt nước. Người trong thôn lấy một chiếc rổ thưa cột sào dài, luồn dưới rong mà với ốc. Mỗi bữa vớt cả thúng. Ốc ở Bàu Um đã lớn con lại không hôi bùn. Mua về ngâm nước cơm độ vài ba giờ về rửa cho sạch ruột, rồi um dầu mà đánh chén, thì dù đã giới tửu lâu ngày cũng phải tiếc rằng không gặp Lưu Linh để chung thú. Không biết có phải vì hương của ốc um mà bàu mang danh là Bàu Um chăng? Không ai biết rõ. Chỉ biết rằng ai đến viếng Hương Sơn mà không hưởng vị ốc um thì uổng lắm lắm.

Hương Sơn còn một sản phẩm nữa cũng đáng lưu ý. Đó là Xoài Tượng. Xoài Tượng Bình Định ngon nổi tiếng khắp Việt Nam. Nhưng phải nhượng xoài Đá Trắng ở Phú Yên, vì xoài Đá Trắng (rất hiếm) thịt cứng như xoài ngâm nước đá. Xoài mọc ở Hương Sơn, nhất là nơi triền núi phía Đông, chỉ kém xoài Đá Trắng một mười một chín. Đó là do thổ nghi.

Nhờ Xoài Tượng và Ốc Bươu mà tình khách "dân thiên" đối với Hương Sơn rất nồng đượm.

Đối với Hương Sơn tình nồng đượm không kém khách "dân thiên" còn có các thầy địa lý. Nhưng các thầy địa chiếu cố đến Hương Sơn không phải vì xoài tượng ốc bươu mà là vì địa hình địa cuộc.

Hình hòn Hương Sơn là hình con miên khuyển, tức là con chó nằm ngủ. Lưng ở trên Tây, bụng úp xuống Đông, đầu mỏ quặp vào bụng, vai cổ bày ở phía Nam, đùi đuôi khoanh ở mặt Bắc. Trong cao, ngoài thấp; phía Nam, phía Bắc ngắn hơn phía Tây, Đông. Nếu tìm được huyệt "Miên khuyển hoài trung" tức là lỗ rún của con chó ngủ" để gởi lại đống thịt xương khi về chào ông bà ông vải, thì con cháu nhất định phát lớn. Bởi vậy, thỉnh thoảng người địa phương trông thấy đôi người lạ mặt, Tàu có, Việt có, xách chiếc địa bàn bọc trong khăn gói vải đỏ, đi thơ thẩn trên triền núi, hết dọc rồi ngang. Chắc chưa thầy địa nào tìm thấy huyệt, vì bụng chó úp xuống đất, mắt quý thầy dù đeo kính sáng cũng không thể xuyên qua bao nhiêu lớp đất sỏi vừa cứng vừa dày.

Hương Sơn, dưới con mắt nhà địa lý là "Miên khuyển". Nhưng dưới con mắt nhà binh pháp, thì đó là con "ẩn báo" tức con beo nằm dấu hình, có thể dụng binh. Bởi vậy, nghĩa binh Cần Vương đã dùng Hương Sơn làm một cứ điểm quân sự. Và một dãy đồn lũy đã xây đắp nơi một cái eo ở giữa núi, gọi là Thứ Hương Sơn.
Thứ Hương Sơn

Thứ Hương Sơn đã ngăn được bước tiến của giặc Pháp trong một thời gian. Nhưng rồi một việc thương tâm đã xảy ra làm hoen ố ít nhiều trang sử oai hùng của nòi giống!

Nguyên nhà lãnh đạo phong trào Cần Vương là Bình Tây Nguyên Soái Mai Xuân Thưởng giao phó việc trấn thủ Thứ Hương Sơn cho ba người:

- Tham trấn Võ Phong Mậu, một cử nhân ở thôn Thuận Hạnh, quận Bình Khê tục gọi là Tham Mậu.

- Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì, một danh sĩ ở An Nhơn, đậu cử nhân, làm quan ở Huế, triều Tự Đức, vì không chịu nổi quốc nhục mà bỏ về vườn.

- Quản trấn Trần Tân tục gọi là Quản Nhã, một phú hộ ở thôn Trường Định, tánh hòa hiệp, võ tinh luyện.

Ông Tham Mậu và ông Quản Nhã tuy người cùng huyện, nhưng không ưa nhau, vì tâm tánh khác nhau. Tham Mậu điềm tĩnh, nhưng thâm hiểm, mưu mô, lại háo kỳ, háo tửu, háo sắc. Mặc dầu thân ở giữa ba quân, mà thói phong lưu vẫn đeo theo canh cánh. Ông Trần trái lại, tánh trung trực can cường và rất nóng nảy, lại ghét thói phong lưu như nhà nông ghét cỏ, thường đem lời chỉ trích Tham Mậu. Tham Mậu rất căm, nhưng chưa có dịp để làm hại.

Một hôm đương đi tuần được tin Tướng Nguyễn Cang bị tử thương, ông Trần hối hả chạy vào dinh quan Trấn Thủ báo biến. Nhằm lúc Tham Mậu cùng quan Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì ngồi uống rượu đánh cờ với nhau, ông Trần nổi giận thét:

- Giặc đến không lo đánh, tướng bị thương không lo đi cứu, cả ngày chỉ lo rượu với cờ.

Nói đoạn sấn tới giựt bàn cờ ném ra sân.

Đã căm sẵn, lại bị xúc phạm mạnh, Tham Mậu liền thét quân hầu bắt trói. Ông Trần đương giận càng giận thêm, không còn kể chi đến quân pháp, bèn la hét chửi mắng vang dậy. Tham Mậu liền buộc tội phản loạn, truyền quân đem chôn sống. Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì tuy không có hiềm khích chi với ông Trần, song bị làm mất thể diện giữa ba quân nên đồng tình để cho Tham Mậu hạ độc thủ.

Ông Trần vốn có một con ngựa Ô, vừa đẹp vừa khôn. Đó là một con chiến mã đã cùng con Hồng của Mai Nguyên Soái lập nhiều quân công. Con Ô thấy chủ bị nạn, liền bứt dây cương chạy thẳng về dậm chân hí thảm thiết, chưa biết chuyện gì thì có người tâm phúc đến báo tin dữ. Bà Trần liền sai người lên Phú Phong cáo cấp cùng Mai Nguyên Soái. Tức tốc, Nguyên soái phi ngựa đến Hương Sơn sai đào ngay ông Trần lên, nhưng đã quá muộn. Vừa thương, vừa giận, nhưng nước nhà đương khi cần người, không lẽ giết thêm hai tướng nữa, Nguyên Soái đành gạt lệ cắn răng, cho lập công chuộc tội.

Đó là vào năm Bính Tuất (1886). Sang năm Đinh Hợi (1887) nghĩa quân bị đại bại trận Bàu Sấu. Mai anh hùng tuẫn quốc. Phong trào Cần Vương tan rã. Võ Phong Mậu và Nguyễn Trọng Trì chạy thoát, ra đầu thú, được tha.

Tham Mậu về nhà chưa được bao lâu, một đêm nghe tiếng sột soạt trên đầu hè trên, bèn mở cửa ra xem, thì một con cọp tàu cau lớn như một con bò đực sức, nhảy đến vồ. Tham Mậu kêu cứu. Hàng xóm chạy đến. Con cọp liền vật Tham Mậu xuống đất, móc cuống họng, rồi bỏ xác lại mà đi. Người ta bảo rằng đó là ông Trần mượn cọp báo oán.

Còn bọn Pháp, sau khi dẹp loạn nghĩa quân, liền phá hủy tất cả căn cứ quân sự. Thứ Hương Sơn cũng như các đồn lũy, các nơi trong toàn tỉnh, đều bị phá thành đất bằng. Hiện nay chỉ còn dấu hào lũy khuất lấp trong đám bìm lau và một đống đá nằm gan lì cùng tuế nguyệt. Đi ngang qua Thứ Hương Sơn, Cổ Bàn Nhân có mấy câu cảm tác:

Bình Tây dù chẳng thành công,
Hương Sơn để dấu anh hùng ngàn thu.
Giận ai cưu mối tư thù
Cho gương phấn dũng bị lu ít nhiều!
Chuyện đời cỏ nhạt màu rêu,
Mùi hương chính khí gió chiều thoảng đưa.

Cách Thứ Hương Sơn chừng nửa cây số, về hướng Đông Bắc, có ba ngọn cổ tháp đứng sừng sững trên nổng gò sỏi cao nằm sát chân núi.

Thứ Hương Sơn tô điểm núi về mặt tinh thần.

Cổ tháp giúp cho núi thêm phần duyên dáng. Thật không khác nốt ruồi son trên má người thôn nữ. Khách phương xa đến du ngoạn, để ý đến Hương Sơn vì tháp nhiều hơn vì di tích lịch sử cận đại.

Thứ và tháp nằm tròn địa phận An Chánh và Vân Tường.

Ở phía sông Côn, trên miền núi mé Tây Nam, thuộc địa phận Kiên Thạch, trước đây có ngôi miếu thờ đức Khổng Tử, gọi là Văn Chỉ.

Miếu nằm ở lưng chừng núi. Qui mô rộng lớn. Lưng tựa vào núi, mặt ngó ra sông. Mái ngói tường vôi ẩn hiện trong bóng xoài xanh mát. Phong cảnh thật là thanh u cao khiết. Đi thuyền dưới sông Côn, hay đi bộ trên con đường núi chạy trước miếu, ngước mặt trông lên, ai cũng khen là cảnh trí rất hợp với tinh thần Nho giáo. Và trước cảnh vừa trang nghiêm vừa cao nhã, lòng người dễ hướng về đức Nhân.

Văn Chỉ Hương Sơn là miếu chung của các nho sĩ hai huyện Bình Khê và An Nhơn. Miếu dựng năm Thành Thái thứ 12 (1900). Sau đó các nhân sĩ trong hai huyện bàn rằng các nhà khoa mục đã già cả, phần đông lại ở bên kia sông, không thể lội nước trèo non đến đình tế được, bèn triệt hạ miếu, lấy vật liệu đem xuống An Nhơn, cất lại trên nền phủ cũ. Cảnh thanh cao trang trọng ngày trước không còn giữ được phần nào ở trong nơi thấp hẹp này. Có người than rằng:

- Một nơi bị người lo việc phàm tục chê bỏ đi, lại được người lo việc Thánh đạo lấy lại. Thế mới biết lúc thế vận suy vi, Đạo Đức phải chạy theo sau Quyền Thế.

Và nhân việc dời Văn Chỉ, một nhà Tây học cười:

- Té ra các vị nho sĩ hiện đại xây cất Văn Chỉ không phải vì đức Khổng Tử cũng không phải vì Thánh giáo, mà chính vì các nhà khoa mục.

Văn Chỉ tuy dời, nhưng vườn Chỉ vẫn còn, nền Chỉ vẫn chưa mất dấu. Những người ngưỡng mộ đạo Nho đi ngang qua Hương Sơn, thường dừng bước để tưởng lại cảnh thạnh vượng của thời xưa.

Như thế là Hương Sơn đã may mắn được giữ lại hai di tích quí báu của dân tộc: Nền Đạo Đức và Gương
Anh Hùng, cùng một di tích lịch sử của văn hóa Chămpa: ba ngọn cổ tháp.

Hương Sơn phong cảnh tương đối ngoạn mục, lại có nhiều cổ tích, nên ngoài khách du lịch, các nhà văn nhà thơ cũng thường đến ngâm thơ vịnh trăng. Định Phong có một luật Vịnh Hương Sơn được nhiều người biết, rằng:

Ba mặt đồng xanh một mặt sông,
Non Hương đoanh lộn gió hương lồng.
Sườn cây điểm sỏi phơi vằn báo,
Dòng sóng chen mây ánh vẩy rồng,
Lũy chất trung can hàng đá dựng,
Nền xây thánh đức lớp rêu phong.
Cùng non tháp cổ bền mưa nắng,
Tiếng địch chiều hôm gởi nhớ nhung.

Hương Sơn đã được các di tích trang điểm, thì thanh danh đã có sẵn từ xưa, mỗi ngày chắc sẽ mỗi thêm bay xa và sáng tỏ.

Có người hỏi:

- Tên Hương Sơn là do tên Núi Thơm mà dịch ra Hán tự, hay là Núi Thơm do Hương Sơn mà sanh ra?

Thật khó trả lời một cách dứt khoát. Có người bảo:

- Tên Núi Thơm có trước. Chữ Thơm đây là cây Thơm chứ không phải mùi thơm. Vì trước kia trên núi mọc đầy cả Thơm Tàu. Người ở gần núi đến cắt tàu về lấy chỉ. Của vô chủ, ai lấy đều lo "bóc lột", chớ không ai chịu khó "vun quến" nên thơm bị tiêu diệt gần hết. Hiện chỉ còn lơ thơ đôi chòm. Hoàn cảnh Núi Thơm thật chẳng khác Trà Sơn. Khi lập Thứ nơi núi, nhân chữ Thơm, các Văn thân mới đặt tên Thứ. Lại có kẻ quả quyết: Núi Thơm là Hương Sơn có từ xưa. Và văn thân sẵn có tên đẹp đẽ mượn đặt tên Thứ là Hương Sơn.
Từ ấy, núi mang luôn tên là Thứ.

Nghe nói thế thì hay thế, chớ không biết đâu mà cãi. Nghĩ rằng dù vì Thơm Tàu mà có tên Núi Thơm đi nữa, đó là thuộc về thời "tiền sử", tưởng nên cho qua để chấp nhận chữ Thơm là Hương của Thứ Hương Sơn, một điểm son trong trang lịch sử Việt Nam cận đại, hầu mong tiếng tăm của núi được thơm lâu và thơm xa hơn.

Cách Hương Sơn chừng tám chín cây số, xiên xiên về hướng Đông Bắc, đột khởi lên giữa đồng một hòn thổ sơn thứ hai, có phần cao lớn hơn hòn Hương Sơn, và chạy dài theo hướng Tây Đông. Đó là hòn Trà Lan Sơn tục gọi là Chà Rang (160 thước), ở thôn Thuận Hạnh, quận Bình Khê.

Hòn Chà Rang cũng là một hòn núi đất sỏi, không cây lớn không đá to. Không có gì đặc sắc. Nhưng nhiều người biết danh vì Chà Là. Cây chà là mọc đầy cả núi. Trong hạt Bình Khê là hạt có tiếng nhiều chà là, không núi nào chà là nhiều và sai bằng Chà Rang.

Địa phương có câu:

Tu hú kêu chà là chín,
Tu hú nín chà là già.

Cho nên đến mùa tu hú kêu, người ta kéo đến Chà Rang như hội Đạp Thanh của mùa con én đưa thoi trong truyện Kiều. Kẻ gùi, người thúng. Quang cảnh khá nhộn nhịp tưng bừng. Định Phong có mấy câu khẩu chiếm trong lúc đi hái chà là cùng các bạn thân năm nọ:

Chà là đen nhánh trái ngon,
Đồng xanh lũ lượt lên hòn Chà Rang.
Chung vui tu hú rộn ràng.
Chút tình đất nước nắng vàng sanh hương.

Trước mặt hòn Chà Rang từ Thuận Truyền chạy ra đến Phù Cát, có ba gò cát trắng rộng thênh thang và nổi lên muôn nghìn ụ gò mối giống như những ngôi tháp của các nhà sư. Những ụ gò mối này trắng như quét vôi, và nắng mưa dẫu phũ phàng, lúc nào cũng thấy y như cũ.

Đứng trước cảnh, người giàu tưởng tượng bảo rằng đó là một đạo binh áo trắng đương dàn trận. Cảnh Thạch Trận ở La Hà tỉnh Quảng Nghĩa trông u ám vì sắc đá xám đen. Trận "Gò Mối" đây, trong lúc bầu trời vần vũ, nhờ ánh cát trắng, vẫn sáng như có hào quang. Tuy vậy, người không quen đường, hễ đi lạc vào, bất kỳ lúc trời tốt hay trời xấu cũng bị khốn như Lục Tổn vào Thạch trận của Khổng Minh.

Cảnh "trận Gò Mối" giúp cho núi Chà Rang bớt hiu quạnh trong những mùa không có tu hú kêu.

Ở giữa khoảng Chà Rang và Hương Sơn, cũng thuộc địa phận Bình Khê, còn một hòn thổ sơn thứ ba nữa.
Đó là hòn Trà Sơn.

Hòn Trà Sơn cũng có tên nữa là Bảo Đước Sơn (113 thước). Núi nằm trọn trong địa phận thôn Trà Sơn và giáp thôn Thuận Truyền ở phía Tây. Hình núi giống một con cừu nằm quay đầu ra Bắc, xây lưng lên Tây, trở mông vào Nam, úp bụng xuống Đông. Dưới chân núi, phía Thuận Truyền, có một bàu nước, bề ngang chừng 200 thước dày, bề dài chừng 800 thước, và sâu chừng 4 thước, nằm ôm choàng lấy chân núi từ bắc chí nam. Bàu tục gọi là Bàu Thuốc hoặc Bàu Suốt. Có tên như thế vì nước bàu không bao giờ cạn, người địa phương thường dùng lá và trái bòn bon đập dập làm "thuốc" để suốt cá. Nước bàu lại chảy ra một lạch dài chừng 150 thước, chạy quanh theo chân núi, phía Nam. Nước lạch cũng không mấy khi cạn.

Núi bằng đất sỏi. Cây cối cằn cỗi. Chỉ nơi "mông cừu" có một lùm cây xanh ngó ngay xuống lạch. Trong lùm cây có ngôi chùa Phật rất cổ và rất thiêng. Ngày xưa những năm nắng hạn, nhân dân địa phương lên chùa cầu đảo. Cầu đảo xong, rước tượng Phật xuống tắm nơi lạch. Liền sau đó hoặc vài ba hôm sau, thì trời đổ mưa, không nhiều cũng ít. Hiện nay lạch đã bị lấp, và chùa dường như cũng hết thiêng.

Triền núi ở ba mặt Bắc Đông Nam thì lài, riêng mặt Tây lại dốc và có một dãy đá mọc lởm chởm như gươm. Dãy đá ngó thẳng xuống thôn Thuận Truyền. Người thôn này có lắm kẻ hoang tàn trộm cướp. Các thầy địa lý bảo là do "đá ngó vào làng". Cũng có thể tin lắm. Vì có nhiều nơi khác bị "đá ngó" mà dân sở tại sanh lung sanh hoang như Thuật Truyền. Ví dụ thôn Hòa Đại, Đại Khoan, ở Phù Cát, bị đá núi Chợ Gồm ngó vào, mà trước kia hễ nơi nào mất ngựa mất bò đều tới đó tìm manh mối. Ngày này khoa học đã phát đạt nhiều rồi, chắc "đá ngó" không còn giữ nguyên "tánh chất".

Tại hòn Hưng Long (Bình Khê), cách Trà Sơn chừng năm sáu cây số, về hướng Tây, còn có một hòn thổ sơn nữa hình thù vóc vạc in hệt Trà Sơn. Đó là hòn Khánh Long.

Cũng hình con cừu nằm quay đầu ra Bắc, lưng trở lên Tây, bụng úp xuống Đông…hòn Khánh Long đối với hòn Trà Sơn thật chẳng khác một đứa em sinh đôi. Hai bên chỉ khác nhau ở một điểm là Trà Sơn có đá mọc ở sườn phía Tây, còn hòn Khánh Long hoàn toàn bằng đất sỏi.

Truyền rằng xưa kia lúc mà ông Trời bà Đất hết khắng khít với nhau, ông bay lên cao, bà hạ xuống thấp, bỏ nước non mây ráng bơ vơ. Ông Khổng Lồ lo việc sắp đặt núi non cho có thứ tự. Sau khi sắp xếp xong các dãy núi ở Bình Định, Khổng Lồ lựa hai hòn núi cân đối, quảy nhỏng nhảnh đi chơi. Nhìn nước nhìn mây, cao hứng quên lửng gánh núi trên vai. Đòn gánh chích, đôi gióng nghiêng, đôi núi lăn cù xuống đất. Núi rớt thình lình, Khổng Lồ vừa giật mình, vừa mất thăng bằng suýt ngã. Để khỏi té, ông liền bấm chặt một chân xuống đất, một chân bước dãng ra trước mặt ra chống. Tuy khỏi bị té ngã, nhưng bị cụt hứng, ông tức mình, bỏ núi lại đó, gánh gióng không, đi đến nơi khác. Hai hòn núi bỏ lại đó là hòn Trà Sơn và hòn Khánh Long.

Còn chỗ ông ghì chân cho khỏi ngã thì thủng xuống thành hai bàu nước. Đó là Bàu Nhâm ở ranh giới thôn Phú Ân và thôn Trường Định, gần Hưng Long, và Bàu Năng ở ranh giới thôn Thuận Hòa và thôn Thuận Truyền gần Trà Sơn.

Cho nên câu chuyện "Khổng Lồ gánh núi đi chơi" là câu chuyện tuy nói không có sách, song mách vẫn có chứng, bằng chứng rất thực tế, thực tế như mộng như thơ. Bởi vậy khách ưa mộng có thơ rằng:

Khổng Lồ gánh núi đi chơi
Gánh nghiêng gióng đổ bỏ rơi hai hòn
Hóa thành một cặp cừu non,
Chờ ông trở lại mãi còn nằm đây…
Bâng khuâng nhìn nước nhìn mây,
Gió mưa dầu dãi vóc gầy đôi phân.
Cơ trời mở lối thanh vân,
Cừu non trở hóa kỳ lân vẫy vùng…

Dưới chân núi Khánh Long, về phía Đông, có một nổng gò rộng đến bốn năm mẫu, dáng lum lum như mai rùa, tục gọi là Lum Mậu.

Trước Lum Mậu lại có một dãy gò nữa, thấp hơn nhưng rộng hơn, gọi là Gò Tháp. Gọi như thế vì trên gò xưa kia có tháp - có lẽ là tháp Chàm - Hiện còn nhiều gạch lấp dưới đất, phiến phiến lớn gấp ba gạch thường, và vô cùng chắc chắn. Người địa phương thường đến đào đem về tán cột nhà và lót chân vách.
Phía Bắc hòn Khánh Long và Lum Mậu, Gò Tháp, có một dòng suối gọi là suối Cây Cơm chạy từ suối Đá Giàn trên Phú Lạc, chảy xuống suối Thuận Ninh. Phía Nam lại còn một suối nữa chảy từ sườn núi Khánh Long chảy quanh dưới chân Gò Tháp từ mặt Nam xuống mặt Đông, rồi chạy thẳng ra Bắc rót vào suối Thuận Ninh. Suối này gọi là suối Sang. Suối Sang và suối Cây Cơm, tuy nhỏ song ít khi cạn, và tô điểm cho núi gò thêm tinh thần khí sắc.

Vùng tả ngạn suối Sang, từ chân núi Khánh Long chạy vào Nam và chạy xuống Đông, vườn xoài nối tiếp nhau trông vút mắt. Đó là vườn xoài những thôn Hưng Long, Kiên Ngãi, Phú Hữu, Phú Ân. Xoài đủ thứ, nào xoài tượng, xoài sẻ, xoài mật, xoài tro…, nào cà lăm, thanh ca… Thứ nào cũng lớn trái, cũng sai và cũng ngọt. Đến mùa xoài chín, hầu hết các tay buôn xoài trong tỉnh đều tìm đến vùng này.

Nhưng xưa nay ai nấy đều đua nhau thưởng thức trái xoài, chớ ít ai là "tri kỷ" của hoa xoài.

Hoa xoài ngắm từng nhánh một không đẹp, ngắm cả cành cũng không đẹp, ngắm cả cây cũng chưa thấy đẹp, ngắm cả vườn cũng chưa lấy làm đẹp. Muốn thấy vẻ đẹp của hoa xoài phải ngắm cả rừng hoa. Và không đâu có thể thưởng thức được đầy đủ bằng lúc xoài ra hoa (tháng chạp, tháng giêng A.L.) lên đứng nơi hòn Khánh Long mà trông. Trước mặt chúng ta một màu vàng linh động liền với sắc trời xanh. Không có một màu nào khác (cho đến cả màu xanh của lá) lẫn lộn vào. Đó là đồng lúa chính của miền Lục Tỉnh trong Nam? Không, vì sắc lúa chín vàng đậm, còn màu hoa xoài vàng tươi. Đó là rừng hoa hòe nở hạ? Không, vì hoa hòe không có mùi hương? Đó là rừng huỳnh cúc rừng huỳnh mai? Có thể ví được. Chỉ khác là hương cúc lành lạnh đăng đắng, hương mai dìu dịu và chỉ thoảng qua. Còn hương hoa xoài thì mùi lờn lợt nhưng vị lại ngòn ngọt, bay vào mũi rồi thấm lần xuống cổ, khiến khi đứng ngắm hoa xoài, nhãn, tỷ, thiệt, ý… của chúng ta đều chung hưởng thú.

Hòn Khánh Long có phong cảnh đẹp, có sự tích vui, có hương vị thanh…như thế, mà xưa nay không nổi tiếng bằng hòn Trà Sơn. Duyên cớ bởi đâu? Chỉ vì Trà Sơn có chùa Phật linh thiêng, thường giúp Dân trong khi hạn hán.

Chẳng những thế, Trà Sơn còn nổi tiếng nhờ các thầy địa lý đi đó đi đây.

Dưới con mắt chúng ta thì Trà Sơn là một con cừu. Dưới con mắt các nhà thơ thì là một "con cừu sẽ thành kỳ lân". Nhưng theo các thầy Địa lý, những thầy có cặp linh nhãn, tục gọi là Thầy Địa Sáng thì đó là một con Kỳ Lân thật sự.

Núi Trà Sơn hợp cùng ba ngọn thổ sơn khác nằm ở phía Đông, thành một bộ tứ linh Long, Lân, Qui, Phụng, rất cân xứng.

Con Lân là núi Trà Sơn.

Đứng tại Trà Sơn ngó về hướng Đông Bắc, cách chừng chín mười cây số, thấy một hòn núi xanh um hình như một chiếc thúng úp, lum lum, tròn tròn, nằm trong thôn Đại An, quận An Nhơn. Đó là con Linh Qui trong bộ Tứ Linh.

Đại An

Hòn Đại An tuy thấp, nhỏ, song không trơ trụi, vì núi bằng đất chớ không phải bằng sỏi, nên cây cối tươi sum.

Ở phía Bắc núi Đại An, cũng trong khoảng chín mười cây số, có núi Tân Nghi. Giữa nổi cao, hai bên lài lài, trông phảng phất con chim sè cánh. Đó là con Phi Phụng.

Theo các thầy địa lý thì các hòn thổ sơn này có liên hệ mật thiết với nhau, nhưng vì long mạch đi chìm dưới đất nên cặp "nhục nhãn" tức là "mắt thịt" của chúng ta không thể thấy rõ. Nhưng từ núi Tân Nghi trở đi, mạch rồng nổi lên trên mặt đất thành những dãy gò lúp xúp như những đợt sóng biển lúc im trời, chạy xuống Lục Phú, quành vô Gò Quánh, thẳng vô Thiết Tràng, đột khởi thành hòn Kỳ Đồng (có tên nữa là Bà Lam cao không đầy 100 thước).

Cũng như núi Tân Nghi, hòn Kỳ Đồng đất sỏi, không có cây cao bóng cả, mà có những lùm những bụi um tùm. Hình núi dài và nếu kể cả những gò đống nối liền thì rõ là một con Khủng Long uốn khúc, trông thấy rõ ràng khi chúng ta đứng ngã Đại Bình, tức ở mặt phía Tây. Bởi vậy các thầy địa lý mới gọi là con Thanh Long.
Dưới chân Kỳ Đồng ở phía Tây có một bàu nước rộng chừng ba mẫu rất sâu. Dù nắng hạn bao nhiêu nước cũng không bao giờ cạn. Đó là Bàu Sấu.

Vì có Bàu Sấu ở dưới chân núi, nên Kỳ Đồng được danh hiệu là "Thanh Long Ẩm Thủy".

Bốn hòn "Tứ Linh" đều triều Tây, tức là quay đầu chầu Trưng Sơn trong dãy Tây Lãnh.

Và trong bốn hòn thổ sơn ấy, núi Kỳ Đồng còn ghi lại một sự kiện lịch sử vừa bi đát vừa oai hùng.

Nguyên cuối năm Bính Tuất (1886), Nghĩa quân Cần Vương bị quân Trần Bá Lộc đánh phá dữ dội, nhiều đạo binh trấn thủ các nơi yếu địa bị tiêu diệt lần. Liệu thế không thể kéo dài cuộc kháng chiến, Mai Nguyên soái quyết cùng địch quần một trận một mất một còn. Bèn dồn đại binh đến núi Kỳ Đồng dùng Bàu Sấu lập trận Thủy Bối. Quân ta và quân địch kịch chiến suốt hai ngày đêm. Địch tổn thất rất nhiều. Nhưng cuối cùng quân ta đại bại. Vì tinh thần chiến đấu cao đến đâu, mà binh khí phần nhiều là binh mác đao cung thì địch sao nổi với súng trường trọng pháo. Cho nên sau mấy trận chống chọi anh dũng – lớp này chết lớp kia xông ra – nghĩa quân hao mòn lần, đuối sức lần bị quân địch tiêu diệt. Mai Nguyên Soái bị thương nặng, máu xối ướt cả chiến bào, chết ngất trên mình ngựa. Con Hồng chở chủ vượt qua Bàu Sấu, chạy thẳng về nhà ở Phú Lạc. Sau khi cứu tỉnh, Nguyên Soái vào mật khu Linh Đỗng quyết chỉnh tu binh mã để phản công. Nhưng rồi Trần Bá Lộc hạ độc thủ, lớp thảm sát lương dân; sanh cầm Mai mẫu, lớp truyền lệnh cho lý hương các thôn ở Bình Khê nếu trong vòng một tháng không tìm được Nguyên Soái thì sẽ bị chôn sống hết. Để cứu nạn cho nhân dân và mẹ già, Nguyên Soái phải ra chịu chết. Những chiến lũy ở Kỳ Đồng và Bàu Sấu bị giặc phá tan hiện nay không còn thấy dấu. Tuy nhiên, hành nhân qua lại, ai ai cũng biết rằng nơi đây đã đổ biết bao nhiệt huyết để tưới thắm non sông và trong những trận gió rung cây dường phảng phất tiếng ngâm của Mai Nguyên Soái:

Không tính làm chi cuộc mất còn,
Nợ trai trả đặng ấy là khôn.
Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước,
Đá tạc lòng trung núi mấy hòn.
Tái ngắt mặt gian xương tợ giá,
Đỏ lòa bìa sách máu là son.
Rồi đây ngọc luật đưa xuân lại
Một gốc mai già nảy rậm non.

Núi Kỳ Đồng, ở phía Đông sát bên chân, có nhánh sông La Vỹ tức sông Quai Vạc. Núi dừng hẳn bên bờ sông phía Tây. Nhưng sơn mạch phục xuống đáy sông qua cánh đồng Thiết Trụ, rồi khởi lên thành dãy gò Thành Cũ (Thành Đồ Bàn), gò Vân Sơn và núi Long Cốt.

Gò Thành Cũ rộng thênh thang và nối liền với gò Vân Sơn cùng núi Long Cốt. Cả ba đều có hai nhánh sông Côn bao quanh bốn mặt, như hai cánh tay ôm choàng những quả bí ngô.

Trên gò Thành Cũ hiện còn dấu thành Đồ Bàn, có đền thờ Song Trung và Lăng Võ Tánh. Bên cạnh lăng có ngọn tháp Cánh Tiên. Ngoài ra chỉ có sỏi đỏ (mỏ đá ong), và cỏ áy, lau thưa.

Gò Vân Sơn cũng không có gì lạ. Gò chạy lúp xúp, dáng tròn tròn, cỏ mọc hoe hoe trên đất sỏi càn táo.

Chỉ có hòn Long Cốt là đáng để ý.

Núi không cao (43 thước) cũng không rộng, nằm trong địa phận thôn Nhạn Tháp.

Đó là một hòn núi đất sỏi trơ trụi. Trên đỉnh có ba ngọn núi đứng ngay hàng, hướng về Thành Cũ. Trên ba ngọn núi xưa kia có ba ngọn tháp Chàm và nhiều tượng đá. Do đó núi có tên nữa là Tam Tháp Cang. Dưới chân núi về phía Đông có chùa Nhạn Sơn ẩn hiện trong bóng xoài xanh, tươi mát.

Núi này trước kia làm tiền án cho thành Đồ Bàn và chính nơi núi này Nguyễn Huệ đã đặt súng bắn vào thành Hoàng Đế để uy hiếp Nguyễn Nhạc. Người đến viếng cảnh nghĩ chuyện ngày xưa, lòng không khỏi ít nhiều cảm khái.

Theo các nhà Phong Thủy, tức các thầy Địa, thì long mạch hòn Trưng Sơn chạy từ Tây xuống núi Kỳ Đồng, qua đồng bằng và các cụm núi nhỏ Hương Sơn, Trà Sơn…. rồi đến ba gò Thành Cũ, Vân Sơn, Long Cốt.
Đến đây thì chìm xuống đất chạy đến núi Mò O thì hồi cố.

Hòn Mò O không cao (345 thước) và nằm giữa quận An Nhơn (phía Nam) và Phù Cát (phía Bắc).

Có nhiều thầy địa bảo rằng: Hòn Mò O tiếp cận đến hai sơn mạch. Một từ Kỳ Đồng xuống, một từ Chà Rang chạy xuống đến đầu thôn Phú Thành (Phù Cát) qua các gò Tân Nghi, Bỉnh Đức, Nghĩa Hòa… thì nhập với mạch Kỳ Đồng vào Mò O, thành "Lưỡng Long Nhập Thủ" nghĩa là hai con rồng vào một cái đầu. Và hòn Mò O là "Đình Tức Long" tức là con rồng dừng lại để thở, rồi chạy xuống bảy hòn núi đất ở Chánh Mẫn (Phù Cát) cách chừng ba cây số mới dừng lại.

Hòn Mò O, nửa đất sỏi nửa đá dăm, đứng sừng sững giữa cánh đồng rộng. Hình thủ cổ quái. Trên đỉnh có một lỗ thủng, ngoài tròn trong vuông, rộng chừng hai thước, sâu trên một thước. Dưới đất toàn cát trắng. Người địa phương gọi là Giếng Tiên. Do đó núi mệnh danh là Tiên Tỉnh Sơn.

Trên miệng giếng có hai tảng đá hình tam giác cao lớn đứng song song che miệng giếng ở mặt Đông và mặt Tây. Xa trông giống lỗ miệng hả toạc hoạc mà đôi môi nhọn hoắt như môi cô gái lăng loàn. Người Tây bảo "núi hả miệng mắng Trời". Vì vậy núi có tên nữa là Mạ Thiên Sơn.

Hình núi, đứng nơi chùa Thập Tháp ngó xuống thì thấy giống một lá buồm. Chùa lấy núi làm Tiền án. Và đối với địa cuộc của chùa, núi chịu triều phục, nên dáng trông hiền lành, lễ độ. Nhưng nếu đứng ngoài vùng Phù Cát ngó vô thì thật ngạo nghễ, hung tợn. Lưng chơm chởm đá dăm như lưng nhím, miệng mồm há hốc như con gấu heo toan vồ mồi. Nếu đứng hướng Đông nhìn lên thì là một ông Phật ngồi, hai đùi giãn, hai chân thòng, bụng phơi ra, mặt ngó thẳng xuống bảy hòn thổ sơn ở Chánh Mẫn (Phù Cát). Còn đứng lối Đập Đá trông ra, thì không hiền cũng không dữ, có thể ví với một con mãnh hổ nằm ngó mông.

Không ai hiểu vì sao núi lại mang tên là Mò O (Đại Nam Nhất Thống Chí chép là Mô ô (…) có lẽ phiên âm tiếng Mò O ra chữ Hán), vì trên núi và quanh vùng không hề có khóm mò o nào cả. Trái lại ở sườn phía Đông và phía Nam có một thứ chè gọi là chè Tóc Tiên, hương vị rất đượm. Và thứ đá dăm ở sườn phía Bắc là thứ đá hoa thạch anh, hình lục giác, bát giác… trông óng ánh nhiều màu. Người ta bảo rằng đá chịu gió Bấc lâu đời sẽ thành ngọc kim cương. Nên thỉnh thoảng có khách đeo chiếc cẩm nang không đáy, đi vào núi.
Đó là những hòn Thổ Sơn có tiếng ở vùng Bình Khê, An Nhơn. Còn nhiều hòn nữa nhưng không có gì đặc biệt đáng nêu.

Ở Tuy Phước có hòn Kỳ Sơn cũng là một thổ sơn được nhiều khách phương xa biết đến.

Hòn Kỳ Sơn chạy dài theo hướng bắc nam, bao quanh đến vài mươi dặm, bốn mặt đều có thôn cư: Phụng Sơn, Kỳ Sơn ở phía đông, Hoàng Mai ở phía nam và tây nam, Thọ Ngãi ở phía tây, Tình Giang và Xuân Mỹ ở phía bắc.

Hình núi không đều: Hai đầu nở rộng và cao, chính giữa hơi eo lại và thấp.

Ở đầu phía Bắc nổi lên hai đỉnh đứng song song. Một ngó xuống Phụng Sơn, dáng phưởng phất một con phi cầm, mệnh danh là hòn Phụng Sơn tức là núi Phụng (188 thước). Một ngó xuống thôn Xuân Mỹ, mệnh danh là Xuân Sơn (173 thước). Đầu phía nam, một ngọn thứ ba cao xích soát hai ngọn kia, đứng ngó mặt xuống thôn Hoàng Mai, và mệnh danh là Mai Sơn (181 thước). Khoảng giữa một phần lớn thuộc địa phận thôn Kỳ Sơn ở phía đông và Thọ Ngãi ở phía tây.

Nhưng vì kỳ Sơn có người đỗ đạt, nên núi mang danh là Kỳ Sơn. Tuy có nhiều ngọn và nhiều tên như thế, nhưng tất cả đều chung một gốc và nối liền nhau không đứt. Những tên Phụng Sơn, Xuân Sơn, Mai Sơn chỉ là "Tiểu tự". Tên chính thức ghi trong sách vở vẫn là Kỳ Sơn.

Dưới chân đỉnh Phụng Sơn nổi lên một dãy gò, cong cong hình bán nguyệt, mệnh danh là Phụng Cang tức là Gò Phụng.

Ở phía Đông có một trãng rộng chừng năm ba mẫu, một nửa nằm trên địa phận Phụng Sơn, một nửa trên địa phận Kỳ Sơn. Trên trãng đứng song song hai hòn đá to lớn, lấy cây gõ thì một hòn phát tiếng "bùm bùm" như tiếng trống, một hòn phát ra tiếng "cụm cụm" như tiếng mõ. Người ta gọi là Hòn Trống, Hòn Mõ. Vì mục đồng thường chơi nghịch gõ đá suốt ngày, làm ồn cả làng xóm, nên Chánh Quyền địa phương phải ra lệnh cấm "không ai được chạm vào".

Qua khỏi trãng, leo lên núi độ vài chục bước thì có một cái hầm rộng lớn, gọi là Qui Khanh, tức là Hầm Rùa. Không phải trong hầm có nhiều rùa, mà chính vì trước miệng hầm có một tảng đá hình giống con linh qui.
Hầm ăn sâu vào núi, rồi chạy thẳng lên triền phía Tây tại thôn Hoàng Mai. Lòng hang rộng hơn sải và cao ngó trật ót. Dài cũng đến ba bốn cây số. Nhưng không tối tăm, vì rải rác có những lỗ trống để ánh sáng trên đỉnh núi lọt vào. Thời Việt Nam chống Pháp (1945-1954), nhân dân địa phương thường vào hầm tránh nạn tàu bay khủng bố.

Dưới chân đỉnh Mai Sơn có một đường đèo chạy từ Kỳ Sơn sang Hoàng Mai, tục gọi là đèo Bà Oanh. Dưới chân đèo thuộc địa phận Hoàng Mai có cánh đồng lúa mênh mông và rất tốt, tục gọi là Đồng Đèo. Người ở ngả Phụng Sơn, Kỳ Sơn đến mùa lúa chín, kéo nhau từng đoàn sang gặt. Họ qua đèo từ lúc trời vừa hừng đông, xóm nào theo xóm nấy. Cho nên có câu ca dao:

Rủ nhau đi cắt Đồng Đèo,
Giở cơm cho sớm mà theo xóm mình.

Núi không có cây lớn, nhưng sắc núi luôn luôn xanh biếc. Phía nam lại có giống mai vàng mọc thành rừng, mỗi bận xuân về sườn núi như phơi áo ngự. Rừng mai vàng ở hẳn về hướng Nam. Do đó mà thôn sở tại lấy tên là Hoàng Mai và núi lấy tên là Mai Sơn.

Tại Mai Sơn có phần mộ nhà văn Đào Tấn, nằm trong rừng mai, đầu hướng lên tây nam. Khi tìm được nơi vừa ý để an nghỉ nghìn thu, Đào công có khẩu chiếm một tuyệt rằng:

Nhàn hướng Mai Sơn bốc thọ vôn
Thạch đầu cao cứ tiếu vô ngôn.
Mai tăng tha nhật tàng mai cốt (*)
Ứng hữu mai ba tác mộng hồn.

(*) Mai Tăng là hiệu của Đào Công

Tạm dịch:

Non mai vườn thọ tìm xong,
Đá cao đứng tựa ung dung mỉm cười.
Mai Tăng ngày gởi xương mai,
Hồn mai cùng giấc mộng dài nở hương.

Mấy vần thơ thanh điệu cùng với hoa hoàng mai làm thơm danh núi. Rõ là "Thanh sơn hữu hạnh mai danh cốt". Những khách phương xa tìm đến viếng hòn Kỳ Sơn, trước hết đều nghĩ đến phần mộ của nhà văn lỗi lạc đất Bình Định. Và khi đến viếng mộ Đào Công lúc mai vàng nở thạnh, khách tao nhân sao cho khỏi mơ màng đến cốt cách phong nhã của người xưa và vẳng nghe tiếng ngâm trong mùi hương trộn gió:

Gió hương thổi lọt hoàng bào,
Kiều mai tuyết điểm động Đào giăng mây (*)

(*) Một câu hát trong tuồng Trầm Hương của Đào Công

Đứng tại Kỳ Sơn ngó thẳng xuống Đông, chúng ta thấy một hòn núi hình lăng kính, màu trắng xóa, như một bức bình phong quét vôi trắng.

Đó là hòn Ngư Cốt tục gọi là Xương Cá.

Hòn Xương Cá nằm trong địa phận thôn Lộc Hạ, làm tiền án cho hòn Kỳ Sơn. Đó là một hòn núi đá vôi, không cây không cỏ. Đá mọc lởm chởm, và tất cả, hòn lớn cũng như hòn nhỏ, đều có gai có ốc, trông giống hệt xương cá.

Núi đứng giữa đồng. Những buổi trưa nắng gắt, ở xa trông vào thấy sát khí bốc lên ngùn ngụt. Còn những đêm trăng sáng, những buổi sớm tinh sương, thì đó là một núi kim cương long lanh lóng lánh. Ngôi thạch lăng của Hoàng hậu Mumtaz Mahal ở Ấn Độ tưởng không nhiều hào quang hơn.

Truyền rằng, sau khi gánh hòn Chóp Vung và hòn Kỳ Sơn để yên đâu đấy rồi, ông Khổng Lồ ngồi nghỉ chân. Nhân đầm Thị Nại gần kề, ông bèn tát nước bắt cá. Cá to con béo thịt, ông ngon miệng ăn hết con này đến con kia, ăn mãi, ăn hoài, đến nỗi xương bỏ thành núi. Có người thêm rằng: Khổng Lồ to lớn như núi, nên ăn chừng nấy cá mà vẫn chưa no. Bỗng có một con cá vượt dài hơn một sải nhảy vọt qua Giốc Ngựa để ra biển Đông. Khổng Lồ nhảy theo chụp không được, tức mình dậm chân, núi sụp thành vũng (bên vũng, đá còn lại thành một cái eo, tục gọi là Eo Vược ở trên bán đảo Phương Mai). Rồi bỏ đi mất. Lại có người bảo rằng: Khổng Lồ ngon miệng ăn nhiều quá bị trúng thực bỏ mạng dưới chân đống xương cá kia.

Không biết ai nói trúng. Cổ Bàn Nhân đi qua hòn Xương Cá, nghe chuyện Khổng Lồ, có mấy câu hí tác:
Khổng Lồ ăn cá bỏ xương,

Xương khô thấy đó nghĩ thương Khổng Lồ!
Chừ còn gánh núi phương mô,
Hay hòn Xương Cá là mồ chôn ông?
Chuyện đời tuy có mà không,
Tuy không mà có chuyện ông Khổng Lồ.

Phía Nam hòn Kỳ Sơn, tức Tây Nam hòn Xương Cá, có hòn Hàm Long cũng là một hòn núi có tiếng của Tuy Phước.

Núi không cao (92 thước) cũng không lớn, nằm trong địa phận thôn Thuận Nghi. Hình núi giống như đầu rồng, ngó ra đường Q.L số 1, miệng há rộng. Con sông Hà Thanh chạy từ Nam ra Bắc, qua khỏi núi thì quành xuống Đông để ra đầm Thị Nại, tạo thành một cánh tay ôm lấy chân núi ở mặt Bắc và mặt Tây.

Núi còn có tên nữa là Úc Sơn tức núi Úc. Sông Hà Thanh chạy qua Q.L số 1, núi là Cần Sơn, còn Úc là cái vực ở sát núi phía Tây do con sông Vân Hội tạo nên, gọi là Cần Úc.

Trước núi, nơi "miệng rồng" có ngôi chùa thờ Phật gọi là Long Sơn Tự. Phong cảnh thanh u.

Núi tuy thấp bé, nhưng có thế dụng binh, nên đời Tây Sơn nơi đây có đắp đồn bảo để chống giặc.

Năm Kỷ Vị (1799), Nguyễn Ánh cử đại binh, ra đánh thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh vào cửa Thị Nại, sai Nguyễn Văn Thành và Tôn Thất Hội lẻn qua Kỳ Sơn, đánh úp mặt sau, còn Võ Văn Lượng và Lê Văn Duyệt đánh mặt trước. Không phòng bị quân Tây Sơn bị thua. Kế đó thành Quy Nhơn bị Nguyễn Ánh đánh chiếm và đổi tên là Bình Định.

Trận Hàm Long là một trận đánh lớn trong những trận đánh lớn giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn trên đất Bình Định.

Cách 85 năm sau, một trận kịch chiến thứ hai đã xảy ra trong vùng Hàm Long.

Năm Ất Dậu (1885), quân Pháp đổ bộ lên bãi Thị Nại, rồi kéo lên thành Bình Định. Nghĩa quân Cần Vương chận đánh tại chân núi Hàm Long. Quân giặc đã đông lại đầy đủ binh khí tân tạo. Còn nghĩa binh thì chỉ độ năm trăm người, với mấy khẩu súng đại bác cổ lổ và giáo sào trường kiếm, nên không chống nổi, phải lui lên giữ Cần Úc. Giặc đuổi theo bắn như mưa vãi. Nghĩa binh mượn thế bờ sông, giữ chặt lấy cầu. Giặc thôi bắn dùng lưỡi lê giáp chiến. Nghĩa quân đánh hăng quá, giặc bỏ chạy. Nhưng vừa qua khỏi núi Hàm Long thì quay trở lại bắn. Nghĩa quân đuổi theo không đề phòng chết quá nữa. Còn bao nhiêu thì tứ tán.

Đó là trận đầu giữa nghĩa quân Cần Vương và giặc Pháp.

Trận đó gọi là trận Cần Úc.

Bên Cần Úc có một nổng gò bằng phẳng, mỗi năm cứ mồng một Tết thì nhóm chợ, tục gọi là Chợ Gò. Người ở thành phố Quy Nhơn và người trong quận Tuy Phước đến mua bán và hưởng xuân, tưng bừng rộn rịp.

Và núi Hàm Long nằm ôm ngôi chùa Long Sơn Tự, đã trở thành một nơi u tĩnh thanh lương.

Mai chiều gió ngạt ngào hương
Ai hay rằng bãi chiến trường ngày xưa

Ở phía Tây Hàm Long, cách chừng ba bốn cây số, tại Diêu Trì cũng thuộc về Tuy Phước, có hòn Thù Lộ Sơn tục gọi là Ông Vồ.

Núi đứng giữa đồng ruộng, không cao (137 thước), nhưng rậm rạp. Trên núi có thứ đá xanh rất mịn và rất bền. Người địa phương dùng tiện cối đá bán khắp tỉnh.

Dưới chân núi, phía Đông Bắc có một vực nước, gọi là vực Ông Đô nước lưu thông với vực Thanh Huy ở phía Tây núi.

Trong thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), nhân dân địa phương đã đào một con mương chạy từ vực Ông Đô xuống Cần Úc để tưới ruộng. Vừa đánh giặc, vừa đào hàng bốn, năm cây số mương để tăng gia sản xuất. Xem đó đủ biết tiềm lực của người Việt Nam dồi dào biết bao.

Ba hòn núi kể trên (Kỳ Sơn, Hàm Long, Ông Vồ) tuy đứng rải rác giữa đồng ruộng, nhưng đều là dải dóc của dãy Nam San. Còn nhiều hòn khác song không có gì đặc sắc đáng lưu ý.

Trong vùng Phù Cát, Phù Mỹ cũng có nhiều hòn núi nhỏ được khách phương xa nhắc nhở hoặc tới lui. Như:
Hòn Se Sẻ nằm trên cánh đồng Phú Hội, giáp ranh Phù Cát và Phù Mỹ.

Đó là cụm núi còi, đá nổi lổm chổm, mày xam xám, xa trông như một bầy se sẻ đậu. Tên núi do đó mà ra.
Nhưng núi được lưu ý không phải vì "bầy se sẻ đá" mà chính vì ở quanh vùng nhân dân chuyên nghề đan những vật dụng bằng tre, như thúng, mủng, dừng, sàng, nong, nia… Sản xuất đã nhiều, lại khéo và chắc. Nhiều không nơi nào bì kịp, khéo chắc cũng không đâu bì kịp. Sản phẩm chẳng những bán khắp nơi trong tỉnh, mà còn "xuất cảng" ra Quảng Nghĩa, vào Phú Yên… Giá rất rẻ, nên bán rất chạy, chạy hơn cả tôm tươi.
Gần đó lại còn hai thứ tiểu công nghệ nữa là Đồ Gốm ở Chợ Gồm (trên Phú Hội) và Võng ở Cảnh An (trong Phú Hội). Đồ gốm Chợ Gồm có tiếng là nấu không nổ và không khét. Còn võng Cảnh An làm bằng thơm Tàu rất mỹ thuật. Ba món tiểu công nghệ đồ đan, đố gốm, võng đã quyến rũ khách phương xa thường lai vãng, và làm cho nơi sản xuất làm bạn với văn chương:

Chợ Gồm đồ gốm,
Phú Hội đồ đan,
Tiện đàng ghé lại Cảnh An,
Mua thêm chiếc võng cho nàng đưa con.

Ở Chợ Gồm xuống Đề Gi để thăm hòn Lang Sơn. Đây là một hòn núi đá nho nhỏ nằm xuống phía Đông cửa Đề Gi, trên bờ phía Đông đầm Đạm Thủy tục gọi là đầm Nước Ngọt. Núi nhỏ và không cao (169 thước), nhưng đứng ở giữa khoảng trời rộng biển khơi, cảnh trí thật vô cùng ngoạn mục.

Năm 1939, hai nhà thơ có danh ở Nam phần là Đông Hồ và Mộng Tuyết có đến viếng hòn Lang Sơn. Nhân cao hứng Mộng Tuyết ứng khẩu đọc mấy câu mà mãi nay người địa phương còn ca ngợi:

Đề Gi có ngọn Lang Sơn,
Có đầm Đạm Thủy sóng dờn dợn xanh.
Có thơ có rượu có tình,
Có trăng có gió có mình ở trong.

(Vì người nghe truyền miệng lại, nên sợ không đúng nguyên văn. Rất mong tác giả lượng thứ).

Đứng tại hòn Lang trông ra hướng Bắc, cách chừng chín, mười cây số có một ngọn núi nhỏ nữa cũng đứng sát mé bể, đối trĩ cùng hòn Lang, ở ngoài biển trông vào thật cân đối.

Đó là hòn Vi Rồng.

Núi nằm ở thôn Tân Phụng, sát biển. Dáng nhỏ và thấp (105 thước), toàn đá và bị xẻ làm đôi, một nửa ở trên cạn, một nửa ở dưới nước, trông giống chiếc bánh ít xẻ dọc.

Dưới chân nửa núi ở dưới nước, nằm ngổn ngang những tám đá mỏng, chỉ lớn bằng bàn tay sè, hình tròn tròn như vảy cá. Người địa phương gọi là "Đá Vảy Rồng".

Hòn Vi Rồng và hòn Lang liền nhau do một động cát rộng đến hai cây số và dài đến mười cây số. Động cát chạy từ thôn Tân Phụng dọc theo mé biển. Đến thôn Hưng Lạc thì chạy thọc ra biển cho tới thôn Vĩnh Lợi, dưới chân hòn Lang, làm bờ phía Đông cho đầm Nước Ngọt. Cát trong động mịn và trắng phau phau, rải rác có những viên son điểm xuyết. Giữa động, phía trong Hưng Lạc, cát nổi vun lên một vùng rộng có hơn vài mẫu ta, cao như một nổng đồi (43 thước) và lum lum như chiếc thúng úp. Trên nổng cát này có vô số đá son. Do đó nổng cát mệnh danh là Hòn Son.

Son ở đây rất đặc biệt. Chất cứng, ngoài mặt trong hơi đen đen, cầm không vấy tay, nhưng khi mài thì đỏ thắm như son Tàu. Ngày xưa học trò ở các nơi thường đến lượm về mài cho thầy học chấm vở.

Truyền rằng hòn Vi Rồng xưa kia nguyên một khối hình giống vi cá chép. Đời nhà Đường, Cao Biền sang nước ta, đi tìm những nơi thắng địa để ếm. Trông thấy hòn Vi Rồng có linh khí kết tụ, bèn chém đứt để trừ hậu họa cho Trung Hoa. Long mạch bị chém đứt, vảy rồng rơi, máu rồng đổ. Lâu ngày máu đọng lại thành son và vảy cứng lại thành đá. Đó là "Đá Vảy Rồng" và Son trên động cát, trên Hòn Son kia cũng vậy.

Trên hòn Xuân Kiển, trong dãy Lạc Phụng, giữa khoảng Công Trung và Trung Tường, có một dấu bàn chân lớn và dài độ hai gang tay, in sâu vào một tảng đá xanh rộng lớn, người ta bảo đó là dấu chân ông Cao Biền để lại lúc chạy theo chém con rồng tại Tân Phụng.

Sự liên lạc tưởng tượng của dấu chân nơi Lạc Phụng và dấu chém đứt hòn Vi Rồng cho chúng ta thấy rõ sự thật: Hòn Vi Rồng thuộc sơn lệ Lạc Phụng vậy.

Ngoài những núi kể trên, trong tỉnh còn nhiều nữa. Nhưng vì ở trong những nơi khuất tịch, tiếng tăm không được bay xa, nên ít người biết.

Núi Bình Định không lấy gì làm cao (không có ngọn nào cao đến 2.000 thước), nhưng hùng dũng, hiểm tuấn. Càng vào sâu càng thấy nhiều quái thạch kỳ nham và càng nhìn kỹ càng thấy đượm một phong khí thiêng liêng huyền bí.


No comments:

Post a Comment