Wednesday, July 15, 2015

Gia đình CHỮ BÁ ANH & Nữ sĩ VI KHUÊ & NHẤT,NHỊ,TAM,TỨ BÁ ANH cùng bút tích thân hữu..



Trong khói lửa chiến tranh, trẻ em
Việt Nam đã và vẫn học rất giỏi!
TỰ HÀO ĐÀ LẠT!
Vào Đệ thất (lớp 6 bây giờ) khi chưa đầy 8 tuổi.
Chưa đầy 15 tuổi, được các giáo sư nổi tiếng tại Đà Lạt đồng loạt xin ông Tổng trưởng Giáo dục cho phép cô ấy tham dự kỳ thi Tú tài phổ thông! Và Tuần báo Thiếu Nhi cũng vào cuộc, góp một tiếng nói cho trường hợp đặc biệt này!
Chưa đầy 15 tuổi, cô gái đó đã nói và viết được 4 ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật và Hán văn!
Các bạn đọc kỹ hình ảnh đính kèm, được chụp lại từ Tuần báo Thiếu Nhi, ra ngày 15-2-1974 để rõ hơn các chi tiết về cô Nữ sinh CHỮ TỨ ANH đã học giỏi như thế nào!
Đọc xong bài viết, mình cúi đầu khâm phục lớp đàn anh, đàn chị thuở trước! Hai cô cậu nhóc nhà mình cũng rất "thần tượng" cô Chữ Tứ Anh và do mình "bơm vá" túc tắc trong những lần chuyện trò, đều nói: học như cô ấy mới đã! Và cũng mừng, dù muộn hơn, cô cậu nhóc cũng bén gót được chút ít "thần tượng"!
Thế này mới là Thần tượng cho giới trẻ chứ hay ho gì ba cái được gọi là Idol, là sao, là trăng nhan nhãn trên báo chí hiện thời!
Đức Khổng Tử mà gặp Chử Tứ Anh cũng sẽ thốt lên mà mừng "Hậu sinh khả uý"!

  • Dave Chu ĐOẢN KHÚC CHO BA
    Chử Tứ Anh
    Sự ra đi đột ngột của Ba mấy tuần trước đây đã làm sửng sốt đại gia đình và

    toàn thể bạn bè thân hữu trong Cộng Đồng Hải Ngoại. Mặc dù biết rằng Ba
    mang chứng bịnh suyễn kinh niên, đã phải chữa trị bằng đủ loại dược phẩm
    Đông, Tây, châm cứu , con vẫn nghĩ rằng Ba sẽ tiếp tục vui sống với Mẹ và
    chúng con nhiều năm nữa. 
    Tiếng chuông điện thoại oan nghiệt lúc 12g 15 đêm ngày 12 tháng 3 năm 1996 
    mà con nhận được từ chị Nhất Anh đã làm thay đổi tất cả : Ba đã vĩnh viễn ra
    đi, từ giã cõi đời. Một cuộc đời mà với Ba rất thân yêu gắn bó, vì ở đó có Mẹ,
    các con, các cháu và bằng hữu quyến thuộc.
    Con còn nhớ ngày Chủ nhật ấy, một ngày trước khi Ba đi, tất cả các con các
    cháu họp mặt ở nhà Ba Mẹ và đó cũng là lần cuối cùng con được gặp Ba.
    Cũng như mọi hôm, Ba lăng xăng chăm sóc hỏi han các con cháu. Ngày cuối
    tuần, Ba hay có thói quen đi chợ mua đủ loại trái cây với cam, quýt, xoài,
    hồng và những món ăn ngon mà các con cháu ưa thích. Và chỉ có ngày Chúa
    Nhật khi gia đình sum họp, Ba mới “hi sinh” vài tiếng đồng hồ quí báu mà Ba
    vẫn thường dùng để làm ‘bản tin CBA”, dành riêng cho con cháu. Buổi chiều
    đó, con còn nhớ, trong lúc mọi người đang còn ồn ào nói chuyện, Ba đã vội
    vàng dọn dẹp, rửa chén, “để bớt công việc cho các con”… Ba là thế đó, suốt
    đời luôn hi sinh cho kẻ khác, và hiếm khi nghĩ đến bản thân mình.
    Ngày xưa tại quê nhà, với tài tổ chức và ý chí mạnh mẽ, Ba đã “làm mưa làm
    gió”, gây dựng nên sự nghiệp với bao nhiêu ngôi trường, từ Huế vào Đà‐Lạt.
    Các ngôi trường Hiếu Học, Văn Học, Văn Học 2 (Văn Khoa) đã đào 
    tạo biết bao nhân tài cho đất nước. Lòng nhẫn nại và sự hi sinh cao cả của Ba
    Mẹ đã nuôi nấng dìu dắt thương yêu các anh chị em con, đạt được ước
    nguyện cho các con đi du học ở Mỹ quốc. Biến cố tháng Tư 1975, gia đình
    chúng ta rời xa quê hương yêu dấu, bỏ lại sau lưng biết bao công trình và kỷ 
    niệm. Trên đất khách quê người, với hai bàn tay trắng, Ba vẫn lạc quan yêu
    đời, tiếp tục tiến bước làm lại từ đầu. Tại đây trong 20 năm, với trọng trách
    của một nhà giáo, cùng với Mẹ và các con, đã tạo dựng ra Hội Giáo Dục Trẻ 
    Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn để góp phần vào việc duy trì và phát huy
    tiếng Việt tại Hải Ngoại. Kế đến là Hội Thân Hữu Đalat để những người Đalat
    có thể tìm đến nhau. Rồi trong bao nhiêu năm Ba đã cùng với các cô, chú, bác (to be cotinued)
    2 · 17 hrs
  • Dave Chu trong Cộng Đồng luôn luôn bận rộn với những sinh hoạt làm đẹp cho đời.
    Niềm đam mê sau cùng của Ba là lãnh vực báo chí và “Bản Tin CBA”.
    Ba ra đi, dù còn lưu luyến Mẹ và các con cháu, nhưng chắc là không che dấu

    được nụ cười mãn nguyện là đã trải qua một kiếp sống làm người đầy ý
    nghĩa.
    “Sinh lão bệnh tử” là quy luật của trời đất. Cuộc đời chỉ là một giấc mộng
    thoáng qua, như bốn câu thơ nào đó của Mẹ mà con còn nhớ:
    “Nửa đời người ta sống
    Nước mắt suối một dòng
    Trăm năm này cõi mộng
    Cõi mộng đầy long đong”
    Ba ơi, thế là Ba đã sớm trả xong nghiệp làm người, đã dứt bỏ được cõi mộng
    đầy long đong và nước mắt này. Con tin chắc rằng anh hồn của Ba sẽ sớm
    siêu thoát, đến một nơi thật huy hoàng đẹp đẽ, nơi gọi là Cõi Vĩnh‐Hằng, có
    Phật, có Đấng Từ‐Bi. Ở đó, Ba sẽ không còn phải bị những cơn suyễn thình
    lình tấn công, để Ba phải hốt hoảng lo sợ: “thương Mẹ ở lại một mình cô
    đơn”. Giờ đây, Ba đã yên nghỉ giấc ngàn thu, thân xác Ba rồi sẽ tan đi thành
    cát bụi, nhưng trong lòng Mẹ, các con và những người thân yêu, Ba vẫn
    SỐNG; hình ảnh Ba sẽ tồn tại mãi, với đầy tôn kính yêu thương….
    Hôm nay con thắp một nén hương trước mộ Ba, mắt nhòa lệ nghẹn ngào
    thương nhớ Ba, nhưng vẫn còn lờ mờ đọc được dòng chữ trên bia mộ:
    “Nơi đây an nghỉ giấc ngàn thu
    Nhà báo, nhà giáo, nhà truyền thông quốc tế 
  • CHỬ BÁ ANH
    1934‐1996
  • Người đi như cánh hạc bay qua
    Trời rộng thiên thu cánh hạc vàng”
    Con Tứ Anh xin đốt thư này trước mộ Ba để tưởng niệm Ba yêu quý.
    Tháng 3 năm 1996


dalat_9.jpg - 86.66 Kb

VĂN HỌC, DALAT VÀ QUÊ HƯƠNG

     Tôi cư ngụ tại Dalat cũng khá lâu, từ năm 1961. Ngày 22 tháng 2 năm 1990, gia đình tôi đến Hoa Kỳ theo diện H.O. Sở dĩ tôi được đến định cư tại Virginia để sống với anh chị tôi vì trước đây khi chưa có chương trình H.O. thì chị tôi, bà Chử Bá Anh tức nữ sĩ Vi Khuê đã làm hồ sơ bảo lãnh cho gia đình chúng tôi từ tám năm trước. Tôi đã từng sống nhiều nơi tại Dalat, nhưng lâu nhất là ở đường Hoàng Diệu. Nhà tôi ở hẻm 2, đối diện với đường Trần Nhật Duật băng qua đường Hoàng Diệu.
     Lúc dạy trường trung học tư thục Thăng Long, tôi thuê nhà tại số 9 Hoàng Diệu để cho gần trường, tiện việc đi lại. Tiền thân của trường Thăng Long là trường Hiếu Học, tọa lạc tại số 10 đường Hai Bà Trưng. Ông Chử Bá Anh là hiệu trưởng rồi sang lại cho giáo sư Trần Huy Bích là một giáo sư trong trường. Ông Bích đổi tên trường thành Thăng Long khi ông đứng tên làm hiệu trưởng.

     Một thời gian sau, anh Chử Bá Anh mở lại trường, đặt tên là Văn Học, lúc mới khai trường, trường có trụ sở tại số nhà 12 đường Hoàng Diệu. Để có điều kiện phát triển rộng lớn hơn, anh Chử Bá Anh đã hợp đồng thuê dài hạn cái biệt thự trên đồi tại số 4 Hoàng Diệu, có diện tích chung quanh khá rộng rãi đủ để xây nhiều lớp học bên hông. Từ đó trường trung học tư thục đệ nhất và đệ nhị cấp Văn Học đã ra đời, mở các lớp đệ Thất đến lớp đệ Nhất (lớp 6 đến lớp 12.) Riêng đệ nhị cấp thì từ lớp đệ Tam đến lớp đệ Nhất có đủ cả ba ban A (sinh vật), B (toán lý hóa) và C (sinh ngữ và nhân văn.) Ngoài một số giáo sư cơ bản của trường, anh Chử Bá Anh đã mời thêm nhiều giáo sư danh tiếng, đã từng dạy học tài các trường ở trong các thành phố lớn như Saigon hoặc tại những tỉnh thành khác. Một số trong những giáo sư giảng dạy tại Văn Học chính là giảng viên văn hóa tại trường Võ Bị Quốc Gia Dalat. Họ gia nhập quân đội theo lệnh tổng động viên trong tình hình chiến tranh leo thang tại miền Nam Việt Nam và được điều động về trường Võ Bị ở Dalat.

     Những giáo sư bấy giờ tôi còn nhớ gồm có: Phạm Kế Viêm, dạy Toán hiện ngụ tại Paris; Thân Trọng Bình, dạy Lý Hóa; Nguyễn Minh Diễm, Việt Văn và Triết; Hoàng Trọng Hàn, từng là hiệu trưởng trung học Trần Hưng Đạo, dạy Anh Văn; Phùng Văn Hưởng cũng giáo sư Trần Hưng Đạo, dạy Vạn Vật; Vũ Đức Nghiêm, giáo sư văn hóa tại trường Chỉ Huy Tham Mưu Dalat, dạy Việt Văn; Nguyễn Phước Ưng Hiến, dạy Lý Hóa; Nguyễn Xuân Thiệp tức nhà văn Châu Liêm, giám đốc đài phát thanh quân đội, dạy Anh Văn; Nguyễn Quang Tuyến, tốt nghiệp đại học Dalat ngành Chính Trị Kinh Doanh, dạy Việt Văn; Hồ Thanh Tâm, dạy Sử Địa; Nguyễn Ngọc Giao, Pháp Văn; Trần Bất, Sử Địa; Nguyễn Văn Son, Pháp Văn; Huỳnh tấn Phát, Vạn Vật; Nguyễn Hữu Anh, Hóa Học; Phan Thanh Thư, Nhạc Lý; Lưu Văn Nguyên, Toán; và tôi Trần Đại Bản, Toán và Nhạc Lý. Trường Văn Học là một trường tư nổi tiếng tại Dalat, nhất là về mặt luyện thi Tú Tài nhờ tỷ lệ thi đậu rất cao. Ngay cả những học sinh trường công như Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân cũng có nhiều học sinh ghi tên học các lớp luyện thi tại Văn Học.

     Các con của anh Chử Bá Anh học trường nhà từ lớp đệ Thất cùng một lúc, nhảy các lớp tiểu học. Bốn cháu thi đỗ kỳ Tú Tài đầu tiên của Viêt Nam Cộng Hòa cùng một lúc năm 1974 rồi cả bốn đều được giấy phép đi du học. Sau khi học một tam cá nguyệt tại Đại Học Y Khoa Minh Đức và Kỹ Thuật Phú Thọ tại Saigon các tháng cuối cùng, các cháu rời Việt Nam vào tháng Ba và tháng Tư qua vùng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ chỉ một vài tháng trước ngày tất cả sụp đổ. Đó là phước lớn cho gia đình. Nếu các cháu còn ở lại Việt Nam chưa chắc gì anh chị tôi đã quyết tâm rời bỏ đất nước, vì tất cả sự nghiệp của anh chị tôi đều xây dựng tại Dalat.

     Ngoài trường Văn Học, bà Chử Bá Anh là hiệu trưởng trường trung học tư thục Văn Khoa (Văn Học 2). Ngôi trường rất đồ sộ, diện tích đến hai ngàn thước vuông, tọa lạc tại số 9 đường Phan Chu Trinh ở khu Chi Lăng ngoại ô thành phố.

     Sau khi Văn Học ra đời, tôi được anh CBA mời trở lại dạy Văn Học nên tôi từ bỏ Thăng Long. Tôi dạy ở VH cho đến ngày trình diện nhập ngũ năm 1967 – tổng động viên. Sau khi vào quân đội, tôi được phái về nguyên quán năm 1969, làm việc tại bộ chỉ huy quân trấn điều hành bởi thiếu tá Vũ Đức Nghiêm, người với tôi như anh em vì trước đó đã từng dạy chung tại VH và chia sẻ sở thích văn nghệ. Tập nhạc đầu tay của VĐN in tại Dalat năm 1971 mang tên “Tình Khúc Ly Cơ” gồm 17 ca khúc do tôi kẽ và viết tay, trong đó có bài “Gọi Người Yêu Dấu,” sau này nổi tiếng ai ai cũng biết.

     Năm 1970, tôi được đổi về làm tại ban quản trị nhân viên thuộc trung tâm Quản Trị Tiếp Vận, cho đến khi cơ quan này được sát nhập vào bộ chỉ huy tiểu khu Tuyên Đức với tên mới là phòng Tổng Quản Trị. Chức vụ sau cùng của tôi là sĩ quan phụ tá kiêm trưởng ban điều hành phòng tổng quản trị, cho đến ngày di tản.

     Vì sinh sống, lập nghiệp tại Dalat đã khá lâu, nên Dalat đã để lại trong tôi nhiều dấu ấn với những kỷ niệm vui buồn khó quên. Nếu không có những biến cố lịch sử của đất nước khiến tôi phải bỏ nước ra đi thì có lẽ tôi đã chọn Dalat là nơi sinh sống cho đến mãn đời.

     Tôi yêu Dalat vì người dân vốn hiền hòa hiếu khác, và cuộc sống thì không xô bồ, rất ít khi xảy ra trộm cắp và án mạng, so với những thành phố khác. Khí hậu ở đây quanh năm mát mẻ. Mọi người ra đường ăn mặc lịch sự. Phong cảnh Dalat thật hữu tình nên thơ, với những hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, thác Tuyền Lâm, thác Cam Ly. Xa hơn nữa thì có thác Datanla, Prenn, đập Đa Nhim. Dalat có nhiều vườn hoa xinh đẹp đủ loại với trăm hoa khoe màu rực rỡ những nét riêng – Minosa, Pensée, Anh Đào, những cây liễu rủ Nhật Bản xòe cành tỏa xuống trông thật buồn và quyến rũ. Dalat có rất nhiều hoa Lan – Lan rừng và Lan thuần giống nhập cảng.

     Dalat cũng có nhiều biệt thự xinh đẹp như tranh xây theo kiểu Pháp trên những triền đồi thoai thoải dọc theo nhiều con đường Trần Hưng Đạo, Yagout, Trần Bình Trọng, Hai Bà Trưng, Nguyễn Du, với những kiến trúc khác nhau và những bông hoa trồng chung quanh nhà làm tăng vẻ đẹp thơ mộng. Có nhiều biệt thự có cổng vào bao phủ bởi hoa Giấy, màu sắc có khi tím có khi trắng theo sở thích của chủ nhân. Dalat là thành phố du lịch hấp dẫn khách tứ xứ trong nước cũng như ngoài. Đó là nơi hưởng tuần trăng mật lý tưởng, nơi nghỉ mát mùa hè của người Saigon hay các tỉnh nhiệt đới.

     Nói về các món ăn Dalat yêu chuộng nhất có lẽ phải kể là phở - tiệm phở Bằng, phở Đác Tín, phở Ga Xe Lửa, phở xe đẩy của ông Thắng tại ngã tư Hoàng Diệu – Trần Nhật Duật, và phở xe đẩy ở sát cây cầu Cẩm Đô. Buổi sáng trời lành lạnh hay buổi tối sương mù lạnh lẽo, là những lúc khách vào tiệm phở, kêu một tô bốc khói, khách vừa thổi vừa húp, rồi sảng khoái ấm bụng ra về. Về đêm, người ta thích ăn phở ở những xe phở đặt tại các vỉa hè hay tại các ngã tư ít xe cộ qua lại. Càng về khuya, phở càng đậm đà và ngọt ngào. Nhiều người thích mua những cục xương đã nấu nhừ còn dính thịt và còn tủy trong ống xương, người ta gọi là xí quách theo tiếng Tàu. Ngoài những thức ăn trên còn có mì Quảng rất đặc biệt của bà chín Rua, ở sau lưng nhà tôi số 9 Hoàng Diệu; mì vịt tiềm và cháo gà Văn Tĩnh, hoành thánh mì ở rạp Ngọc Hiệp, xôi gà, mì xào dòn sau lưng khách sạn Thủy Tiên, đường Tăng Bạt Hổ; và mì vịt ở phía sau chợ Mới Dalat.

     Cà phê nổi tiếng thì có cà phê Tùng, phòng ốc rộng rãi, cà phê hương vị thơm ngon và có nhạc mở nhè nhẹ vừa đủ nghe, những bản nhạc tình lãng mạn, hay nhạc quê hương nhẹ nhàng êm dịu, đã cuốn hút được nhiều người sành điệu hay những lãng tử si tình cô độc sau cuộc tình lỡ làng; những cặp tình nhân đến đó để hàn huyên tâm sự; hoặc một đôi khi những doanh nhân gặp gỡ làm áp phe.

     Ngoài ra cũng có nhiều tiệm vừa bán cá phê, vừa bán thức uống khác như bia, rượu. Như quán Hoài, quán Trúc, cà phê Thu ở trước rạp Ngọc Hiệp. Quán Trúc của trung úy Lê Thế Chương trước đây thỉnh thoảng cũng có ca nhạc sống để thu hút khách. Tôi và Lê Uyên Phương có đến đó trình diễn hai lần. Lê Uyên Phương là biệt hiệu ghép của hai người Uyên và Phương, ở nhà chúng tôi gọi anh bằng tên thật là Lộc. Phương ở số nhà 22 Võ Tánh Dalat, thỉnh thoảng chúng tôi họp nhau trên căn gác nhỏ hình chữ A, ngồi trên chiếu uống trà hoặc cà phê và hát cho nhau nghe. Sau ngày LUP có mở quán Lục Huyền Cầm tại nhà cũng thu hút được nhiều giới yêu thích văn nghệ, nhất là lớp sinh viên, học sinh. Nhà Phương ở gần viện Đại Học Dalat, trường Bùi Thị Xuân, trường Bồ Đề, đối diện lữ quán thanh niên, vì vậy có một số học sinh thuê nhà quanh đó để đi học cho gần.

     Sau 22 năm xa cách, tôi đã có dịp trở về thăm Dalat. Ngỡ ngàng trước mọi cảnh vật đổi thay, có nhiều nơi tôi còn nhận ra. Nhiều con đường vẫn còn đó nhưng thay đổi hẳn. Rạp Ngọc Hiệp đập ra để xây siêu thị, nhà cửa chung quanh cũng đã xây lại thành nhà nhiều tầng. Dãy nhà hai bên đường Hai Bà Trưng phần lớn không thể xác định lại vị trí cũ. Những vùng xa thành phố, từ ngã ba Đa Thành, đường Ngô Quyền, Cao Bá Quát, thì nhà cửa san sát và người ở khu nào cũng đông đúc. Người tứ xứ kéo nhau về Dalat khá đông, kiếm đất xây nhà sinh sống. Dalat bây giờ quá tấp nập ồn ào không còn vẻ thanh vắng êm đềm thơ mộng như xưa nữa.

     Xe cộ ngập thành phố nhất là xe gắn máy thì chạy suốt ngày không ngớt khiến qua đường cũng khó khăn mà tai nạn thì có thể xảy ra bất cứ lúc nào dù mình đã để ý cẩn thận.
Nhà cửa xây dựng tùy tiện, không kế hoạch nên nhà thì xây lấn ra ngoài, nhà lại xây lõm vào trong. Nhiều khu nhà xây cất theo hình hộp diêm sơn loạn sắc màu nhìn thiếu vẻ hài hòa. Đường xá trong thành phố cũng còn nhiều nơi ẩm ướt với nước đọng thành vũng, vì cống bị nghẹt không cho nước thoát được, thành ra dơ bẩn và có mùi hôi.

     Khu chợ Mới ở tầng trên thì khá hơn, nhưng tầng dưới cùng thì từ tầng cấp bước xuống bùng binh chợ, ngay trước chợ Hoa, đi đâu cũng dẫm phải bùn trong mùa mưa, tức là vào khoảng từ tháng ba cho đến tháng sáu.

     Chính khí hậu Dalat cũng thay đổi nhiều. Có những lúc trời nóng bức khó chịu không còn mát mẻ vì dân số ngày càng đông mà những ruộng vườn và rừng cây đã bị phát quang, ảnh hưởng đến khí hậu. Tuy nhiên so với nhiều nơi khác thì Dalat vẫn còn khá hơn rất nhiều. Du khách muốn thăm thắng cảnh thì ở đâu cũng phải mua vé, chứ không còn tự do như hồi trước Du khách thăm thác Cam Ly không còn thấy cảnh trí thiên nhiên từ xa của thác, vì đã có bức thành cao xây phủ kín chung quanh. Bên trong nhiều nơi được xây bằng xi măng nên mất vẻ đẹp thiên nhiên. Chưa kể đến những gian hàng bán vật lưu niệm nhan nhản trong khuôn vi của thác.

     Chỉ còn Vườn Hoa Dalat, mặc dù có rào dậu và bán vé vào cửa, nhưng bên trong được trang trí khá thẩm mỹ với nhiều loại hoa đẹp và rất nhiều cây cành được trưng bày. Ở đó có nhiều nhiếp ảnh viên với những máy chụp hình khá tối tân phục vụ du khách. Mình có thể lấy những bức hình đã sang lớn, gần bằng trang giấy học trò, sau khi chụp và dạo một vòng để xem vườn hoa.

     Tôi có ghé lại thăm trường Văn Học cũ, nay không còn tăm tích nữa vì đã từ lâu bị phân năm xẻ bảy cho một số cán bộ nhỏ tại địa phương làm nhà ở. Bên cạnh bậc cấp là một đống gạch vụn, từ đó mọc lên một đám hoa Quỳ to lớn trông thật hoang tàn.

     Nhà của tôi trước khi đi đã bán lại cho một người ở khu chợ Mới, nhưng nghe ông ta đã bán lại cho người khác. Người chủ mới đã đập nhà để xây lại rất đẹp, cổng kín cao tường, và trang trí đẹp đẽ. Cái cổng thì bằng sắt và khá cao, có lẽ để ngăn trộm cắp. Vì đất có chiều sâu, đến 22 thước, ngang 8 thước nên họ xay nhà khá lớn.

     Theo tôi, dân số Việt Nam bây giờ quá đông, trên 90 triệu, nên việc xây dựng nhà cửa nhiều là tất yếu, tuy nhiên sự phát triển chưa có quy hoạch và đồng bộ. Cuộc sống người dân còn có nhiều cách biệt, người thì quá giàu có, ăn chơi phung phí thoải mái mà chẳng cạn tiền, trong khi đại đa số người dân làm việc rất cực nhọc nhưng vẫn không đủ tiền để sinh nhai. Một số không ít sinh viên tốt nghiệp mà không kiếm ra việc, hoặc ngay cả khi kiếm được việc làm cùng không đủ sống.


TRẦN ĐẠI BẢN
 1_trandaiban.jpg - 9.82 Kb
http://www.dalatdauyeu.org/index.php?option=com_content&view=article&id=876:vn-hc-dalat-va-que-hng-trn-i-bn&catid=37:hi-ky&Itemid=92

Nguyễn Ngọc Chính' s Hồi Ữc Một Đời NgườiTHỨ BẢY, NGÀY 08 THÁNG 9 NĂM 2012

Hồi ức học trò

Tôi trúng tuyển vào Đệ Thất trường Trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt năm 1958. Từ tiểu học bước lên trung học tôi tự thấy mình lớn hẳn lên. Hồi còn ở tiểu học mỗi lớp chỉ có một thầy hay cô phụ trách suốt năm học, lên đến Đệ Thất bắt đầu có sự tiếp xúc với nhiều giáo sư dạy các môn nên mỗi buổi học trở nên phong phú và sống động hơn.

Ngày xưa, thầy cô giáo dạy trung học được gọi là giáo sư, lên đến đại học thì có giảng sư. Tại trung học, giáo sư đến giờ vào lớp dạy, hết giờ sang lớp khác rồi giáo sư khác lại tiếp tục vào tựa như ca sĩ chạy show! Cậu học sinh mới bước vào trung học như tôi cảm thấy đây là một thế giới hoàn toàn mới lạ. 

Đà Lạt có hai trường trung học công lập, trường dành cho nam sinh mang tên Trần Hưng Đạo, trường dành cho nữ sinh là Bùi Thị Xuân. Trước năm tôi bước vào Đệ Thất, trường Trần Hưng Đạo có tên là trường Bảo Long (hoàng tử, con vua Bảo Đại) và tiền thân của trường nữ Bùi Thị Xuân là trường Phương Mai (công chúa, con vua Bảo Đại) được thành lập từ năm 1953.

Trường Bảo Long được thành lập từ năm 1951 và chỉ dành cho quốc gia nghĩa tử, một hình thức của trường Thiếu sinh quân, nhưng tại đây chỉ dạy văn hóa chứ không huấn luyện quân sự. Học sinh trường Bảo Long theo chế độ nội trú, họ là con em của những người trong quân ngũ đã hy sinh vì nước nên cũng nổi tiếng là một tập thể nhiều cá tính.

Kể từ năm 1956 Bảo Long đổi tên Trần Hưng Đạo và tiếp nhận học sinh phổ thông, trước đó học sinh nam nữ học chung tại trường Phương Mai. Trường Trần Hưng Đạo gồm nhiều dãy phòng học xây dựng dọc theo sườn đồi thoai thoải. Những lớp nhỏ như Đệ thất, Đệ lục chiếm các dãy phòng phía dưới chân đồi và càng lên cao là các lớp lớn hơn.

Ngoài Trần Hưng Đạo và Bùi Thị Xuân, Đà Lạt còn có Lycée Yersin, được thành lập từ năm 1933 cho con em người Pháp và một số học sinh người Việt thuộc gia đình khá giả theo chương trình Pháp. Trường Grand Lycée (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Lâm Đồng) được khởi công xây dựng năm 1929 và năm 1933 các lớp học đầu tiên của trường này được khai giảng, dạy chương trình trung học của Tây. Vào năm học 1935–1936, trường bắt đầu mở thêm các lớp triết học, toán học là những lớp cuối của bậc phổ thông trung học.

Năm tôi vào Đệ Thất, hiệu trưởng trường Trần Hưng Đạo là thầy Kỳ Quan Lập hiền lành, điềm đạm, học sinh chỉ sợ thầy Bửu Vụ, ông rất nghiêm khắc trong vai trò Tổng giám thị. Thậm chí ông còn sử dụng roi để giải quyết những trường hợp học sinh ngỗ nghịch. Thầy Bửu Vụ đã lớn tuổi và luôn là ‘hung thần’ đối với đám học sinh ‘quậy’ mà ngày đó được mệnh danh là đám… ‘nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò’!

Hình phạt cao nhất tại Trần Hưng Đạo là những buổi "cấm túc" vào những ngày nghỉ cuối tuần. Phiếu cấm túc được thông báo với về nhà và phải nộp lại trong buổi cấm túc với chữ ký của phụ huynh. Đây là một biện pháp răn đe có tác động rất mạnh đến học sinh bình thường nhưng hình như mất hết tác dụng đối với những học sinh được xếp vào nhóm thứ ba, sau quỷ và ma! Có những tay ngổ ngáo gần như ‘ký cơm tháng’ trong các buổi cấm túc vào những ngày cuối tuần.

Học sinh bị phạt "cấm túc" phải có mặt tại trường để làm những công việc tùy theo sáng kiến của giáo sư trông coi cấm túc. Thường thì nam giáo sư giao các việc ‘lao động công ích’ như dãy cỏ sân trường, lau chùi cửa kính, làm tổng vệ sinh các lớp học… Nếu phụ trách cấm túc là nữ giáo sư các hình phạt sẽ linh động hơn, chẳng hạn viết một bài luận văn kể trường hợp tại sao mình lại bị phạt…   

Trường Trần Hưng Đạo có những giáo sư nổi tiếng như thầy Thắng ‘Napoleon’ (chúng tôi gọi ông là Napoleon vì có vóc người vừa lùn vừa hói nhưng những tiết học của thầy luôn hấp dẫn học sinh). Thầy Chử Bá Anh có vóc người nho nhã, lịch lãm, thầy có chiếc xe Peugeot 201 nhưng nhà lại rất gần trường nên chẳng bao giờ thấy lái xe đến trường.

Trần Hưng Đạo năm nào cũng có một số thầy cô giáo mới tốt nghiệp đại học sư phạm được bổ nhiệm về dậy. Tôi còn nhớ cô Thủy dậy sử vì mỗi lần cô đọc bài cho cả lớp viết thì thế nào cô cũng bảo tôi lập lại. Lâu dần, điệp khúc “Chính nhắc lại” trở thành một đề tài để các bạn cùng lớp đem ra chọc tôi. Thực ra trong thâm tâm tôi vẫn tự hào vì được cô giáo cưng và hãnh diện khi trở thành teacher’s pet!

Sau này, đọc Nguyễn Thị Hoàng trong Vòng tay học trò, tôi mới hiểu được tâm trạng của các cô giáo mới ra trường như cô Thủy:  “Giảng bài, chấm bài, ăn ngủ, nghỉ ngơi, ngày này qua ngày khác, điệp khúc đó đều đều nản bắt đầu, chấm dứt để bắt lại như tiếng bánh xe rời rạc lăn mãi trên đường. Âm thầm. Cằn cỗi. Và an phận. Đời này vốn trống trải như quán trọ Y Pha Nho, con người làm lữ khách sống buồn vui tùy ở hành trang mình mang theo về đó…”

Cô giáo Trâm – nhà văn Nguyễn Thị Hoàng – dậy đệ nhất cấp trường Trần Hưng Đạo quen với cậu học trò tên Minh, tức Mai Tiến Thành người bạn thân ở Ban Mê Thuột lên Đà Lạt học lớp Đệ Nhị A. Thành rời BMT lên Đà Lạt trước tôi một năm và bước vào cuộc phiêu lưu tình cảm với cô giáo Hoàng tại trường Trần Hưng Đạo.

 Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng

Đúng ra thì mối tình Vòng tay học trò không thực sự xảy ra giữa cô giáo và học trò theo đúng nghĩa vì Trâm chỉ dạy đệ nhất cấp, chưa bao giờ là cô giáo của Minh đang học đệ nhị cấp. Dù sao đi nữa, cuốn tiểu thuyết đã gây một chấn động lớn tại trường Trần Hưng Đạo nói riêng và khá nổi tiếng ở miền Nam vào thập niên 60 nói chung.

Nói cho ngay, tôi thuộc loại học sinh khá trong lớp, năm nào cũng được phần thưởng. Năm Đệ Lục tôi nhận phần thưởng hạng nhì trong lớp, trong đó có môn thể dục xếp hạng nhất, môn quốc văn và hiệu đoàn xếp hạng ba. Thể dục là giờ tôi yêu thích nhất vì được học ngoài trời, chạy, nhảy và đá bóng
Phần thưởng năm Đệ Lục,
Trường Trần Hưng Đạo, niên khóa 59-60

Trường Trần Hưng Đạo tọa lạc trên một ngọn đồi nhìn xuống hồ Vạn Kiếp, một cái hồ nhân tạo nhỏ hơn hồ Xuân Hương rất nhiều. Phía bên kia hồ là vườn rau trồng bắp xú, artichaud, dâu tây và xu xu. Vào thời chúng tôi còn đi học, hồ Vạn Kiếp rất đẹp và thơ mộng nhưng thời gian sau 1975 hồ đã bị gần như biến mất vì dân nhập cư lấn chiếm, xây nhà, mở đất.

Gần bên hồ Vạn Kiếp là một sân bóng nhỏ, chiều dài độ 30m, được ủi bằng phẳng nên là một sân banh lý tưởng cho bọn học sinh chúng tôi. Nơi đây, chúng tôi thường có các trận thi đấu vào giấc trưa khi ở lại trường. Các đội bóng thường chia theo khu vực dân cư sinh sống.

Hồi đó, nhóm học sinh nhà ở khu Địa dư, gần trường Lycée Yersin, có đội bóng hay nhất trong số các học sinh ở lại trường vào buổi trưa. Nhà tôi ở được xếp vào khu Địa dư dù cách đó hơi xa nhưng vẫn nằm trong khu Saint Benois hay còn gọi là Chi Lăng, gần trường Võ bị Đà Lạt. 

Chúng tôi đá bóng chân đất và sau mỗi trận đấu thường xuống hồ rửa ráy để chuẩn bị vào lớp buổi chiều. Sân bóng gần hồ rất tiện lợi cho việc tắm rửa nhưng cũng có điều bất lợi mỗi khi đá mạnh quá bóng có thể lăn theo triền dốc xuống hồ, mất công lội xuống nước để nhặt bóng. 

Đá bóng là môn thể thao ưa thích của tôi ngay từ hồi còn nhỏ. Tôi thường chơi trong vai trò trung phong với những đường lừa bóng và sút bóng... có hạng. Tôi nhớ mãi đã có lần sút bóng mạnh đến nỗi thủ môn của phe đối phương phải chảy máu mũi vì bóng trúng mặt. Bản thân tôi lúc đó cũng thấy sợ phát khiếp.

Điều lý thú là người giữ khung thành, Nguyễn Thanh Hà, sau này gia đình cũng chuyển qua Ban Mê Thuột học lớp Đệ Ngũ tại trường trung học BMT. Hà về sau trở thành một cầu thủ có hạng còn tôi thì lại không còn chọn con đường đá bóng.

Thỉnh thoảng tôi vẫn nhắc lại với Hà chuyện ‘lỗ mũi ăn trầu’ khi còn học ở trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt nhưng có vẻ như Hà cố tình quên chuyện đó có lẽ vì tự ái. Hơn nữa, từ khi về BMT, như tôi đã nói, Hà là một trong những cầu thủ sáng giá nhất trường và rồi đá cho đội bóng của thị xã!

Đối với hầu hết những người Việt Nam, nhất là những người hâm mộ bóng tròn kể từ năm 1975 trở về trước, không ai là không biết hoặc không nghe giọng nói của Huyền Vũ, một ký giả kiêm bình luận viên trực tiếp truyền thanh các trận bóng đá trong suốt một phần tư thế kỷ vừa qua.

Trong những buổi tường thuật trực tiếp truyền thanh, ký giả Huyền Vũ, tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, đã khiến cho người nghe, dù ở thành thị hay vùng thôn quê xa xôi hẻo lánh, đều có cảm tưởng như mình đang hiện diện ngay tại sân cỏ để chứng kiến những pha gay cấn trong cuộc tranh tài.

Giọng nói miền Nam của ông có sức thu hút lạ lùng, khi thì ung dung như quả bóng đang lăn chậm chạp trên sân cỏ, khi thì dồn dập như mưa sa bão táp cuốn hút người nghe vào những pha công phá đang diễn ra sôi nổi trước khung thành. Cứ sau mỗi pha đầy gay cấn như vậy thì người ta lại nghe ông kể lại cách sắp xếp của hàng tấn công và hàng phòng thủ của 2 đội, chẳng khác nào một cuốn phim được quay chậm trở lại trên màn ảnh để khán giả có thể biết được một cách rõ ràng hơn.

Huyền Vũ dùng những cụm từ mà những người theo dõi qua radio không thể nào quên: khi trận đấu chưa có bàn thắng, ông nói ‘màng lưới đôi bên vẫn còn trinh bạch’, khi cầu thủ sút bóng không vào gôn, ông bình luận thêm ‘vượt cầu môn trong gang tấc’ hoặc ‘bỏ lỡ cơ hội bằng vàng’…

Hồi xưa chưa có truyền hình, được nghe Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh qua radio là một niềm say mê đối với những người ghiền túc cầu…

"... Ngầu đang lừa banh… qua rồi… truyền lại cho Há… Liêm đã sẵn sàng ở phía sau… cú sút như trái phá… nhưng ‘quả da’ đụng khung thành bật ra trong gang tấc…"

Ngay cả trong lúc dự những trận đấu tại sân Tao Đàn hoặc trên sân Cộng Hòa (ngày nay là sân Thống Nhất) thì ngoài việc coi trực tiếp những trận banh diễn ra trên sân cỏ, một số người còn mang thêm radio transistor để nghe Huyền Vũ mô tả tên cầu thủ, những đường banh lắt léo và những lời bình luận độc đáo của ông. Huyền Vũ mất ngày 24/8/2005 tại Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.

Ký giả Huyền Vũ

Ngày xưa, bóng đá được người Sài Gòn gọi nôm na là đá banh hay văn hoa hơn là túc cầu. VNCH thời 1966 đã từng đoạt cúp Merdeka của Mã Lai, khi đó đội tuyển được đặt dưới sự dìu dắt của huấnluyện viên Weigang, người Đức. Đội hình ra sân có thủ môn Lâm Hồng Châu, hậu vệ gồm Phan Dương Cẩm (tự Hiển)Nguyễn Văn Có, Phạm Huỳnh Tam Lang, Lại Văn Ngôn (II), giữ vị trí tiền vệ có Đỗ Thới Vinh, Nguyễn Ngọc Thanh và hàng tiền đạo gồm Nguyễn Văn Ngôn (I)Nguyễn Văn Chiêu, Lê Văn Đức, Trần Chánh.

Trận chung kết giải Merdeka có khoảng 40,000 khán giả ngồi kín Sân Vận động Quốc gia với sự chủ tọa của Quốc vương Mã Lai và Thủ tướng Abdulraman. Đội tuyển VNCH ra sân trong màu áo vàng, quần trắng, vớ vàng, được sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả Mã Lai, nhất là tiền vệ Đỗ Thới Vinh, người dễ nhận ra nhất trong đội hình Việt Nam với cái đầu hói và những pha lừa bóng điệu nghệ cùng những cử chỉ pha trò có duyên của anh trên sân cỏ đã thu được cảm tình của khán giả và báo chí nước chủ nhà.

Với ý chí quyết tâm, toàn đội Việt Nam đã ăn miếng trả miếng’ trong trận chung kết với đội Miến Điện (ngày nay gọi là Myanmar) một cách xuất sắc. Tuy nhiên, hiệp một chấm dứt mà không bên nào mở được tỉ số.

Đội tuyển VNCH, huy chương vàng SEA GAMES 1959
Hàng trước: Nhung, Vinh, Hà Tam, Thách, Tư
Hàng giữa: Thanh, Hiếu, Myo
Hàng sau: Tỷ, Rạng, Cự

Sang đến hiệp hai, cơ hội bằng vàng đến với đội tuyển VNCH ở phút 72. Từ đường chuyền của thủ quân Phạm Huỳnh Tam Lang, Nhà Ảo Thuật Đỗ Thới Vinh khéo léo dẫn banh qua hai cầu thủ Miến Điện, mở bóng xuống vừa đúng tầm để trung phong Nguyễn Văn Chiêu băng xuống.

Chiêu dùng ngực hứng bóng, xoay người, tung quả sút hiểm hóc từ xa 25 mét bằng chân trái, bóng đi như ánh chớp vào góc thượng của khung thành Miến Điện trước sự ngỡ ngàng của Đệ nhất Thủ môn Á Châu thời bấy giờ là Tin Tin An, mở tỷ số 1-0 cho Đội tuyển Việt Nam. Bàn thắng này cũng là tỷ số chung cuộc của trận đấu và là bàn thắng đáng giá ngàn vàng đưa đội tuyển VNCH lên ngôi Vô địch Giải Túc cầu Merdeka 1966 tại Mã Lai.

Trung phong Nguyễn Văn Chiêu và tiền vệ Đỗ Thới Vinh là đôi bạn thân thiết cùng chung màu áo từ đội Quan Thuế rồi khi vào quân ngũ cả hai đá cho đội Tổng Tham Mưu. Giải ngũ, cả hai trở về đội Quan Thuế và cùng đá trong đội tuyển quốc gia. Cuộc đời hai anh gắn liền cả chục năm trời bên nhau trên sân cỏ.

Tại Giải Merdeka năm 1966, Vinh và Chiêu là hai người lập công trạng lớn nhất đem vinh quang về cho Việt Nam. Giờ đây, hai anh kẻ trước người sau ra đi trong âm thầm, thiếu vắng đồng đội tiễn đưa, không một lời ai điếu nhắc lại thời huy hoàng trên sân cỏ.

Nguyễn Văn Chiêu đã vĩnh viễn ra đi năm 1987 tại Long Thành trong hoàn cảnh thương tâm, chỉ có người vợ cùng mấy người con khóc nghẹn trước thân xác lạnh lẽo của chồng và cha trong căn chòi lá nằm sâu trong một góc vắng của thị xã Long Thành. Đám tang anh vội vã, không kèn không trống. Mộ phần không tiền xây cất, đắp đất sơ sài.

Tiền vệ Đỗ Thới Vinh cũng mất tại Việt Nam năm 1995 vì bệnh tiểu đường. Anh là nhân vật tên tuổi trong giới túc cầu được nhiều người ái mộ từ trong nước ra tới hải ngoại nhưng anh cũng âm thầm ra đi trong hoàn cảnh đơn chiếc, túng thiếu. 
  
Lão tướng Quách Hội, 73 tuổi, kể về chiếc Cúp Merdeka năm 1966 như sau: “Năm 1995, một sáng tôi đi ngang một tiệm bán đồ lạc-xon trên đường Hải Thượng Lãn Ông, tình cờ tôi nhìn thấy, bày trong số đồ bán của tiệm, chiếc Cúp Vô Địch Giải Túc Cầu Merdeka mà Đội Tuyển Túc Cầu Việt Nam Cộng Hoà, trong đội có tôi, đoạt được năm 1966 tại Malaysia.

Người chủ tiệm nói chắc giá 5 triệu đồng. Không có tiền, tôi đứng trước tiệm lạc-xon ấy từ sáng đến trưa với hi vọng có bạn đồng đội cũ nào đi ngang thì báo tin để kêu gọi anh em góp tiền mua lại chiếc Cúp. Chờ mãi không gặp được ai, tôi đi về mà nước mắt ứa ra vì tiếc cho kỷ vật ghi lại chiến tích một thời của anh em chúng tôi. Không biết giờ này chiếc Cúp Merdeka của anh em chúng tôi lưu lạc về đâu.

Cũng phải nói thêm về thủ môn Phạm Văn Rạng đã một thời nổi tiếng với danh hiệu Lưỡng thủ vạn năng vẫn sống mãi trong ký ức của những người hâm mộ bóng đá thuộc lứa tuổi U-60 và U-70. Năm 1949, từ vai trò trung phong của trường Việt Nam Học đường ông bất ngờ trở thành người giữ khung thành khi thủ môn chính thức không thể ra sân.

Năm 1951 Phạm Văn Rạng được đội Ngôi sao Bà Chiểu của ông bầu Võ Văn Ứng mời về giữ khung thành, rồi chỉ hai năm sau được chọn làm thủ môn cho đội tuyển Thanh Niên. Năm 1953 bị động viên, ông trở thành người trấn giữ khung thành cho đội Tổng Tham Mưu. Cùng năm đó, ông được tuyển vào đội tuyển VNCH, khi mới 19 tuổi và khoác áo đội tuyển cho đến năm 1964 thì giải nghệ.

Năm 1966, dù đã 31 tuổi, ông vẫn được mời vào đội tuyển Ngôi sao châu Á (All Stars Team of Asia), bởi vị trí thủ môn chưa có cầu thủ nào của châu Á có thể cạnh tranh được. Đội Ngôi sao châu Á do cựu danh thủ Lý Huệ Đường làm HLV trưởng, trợ lý HLV là ông Peter Velappan (hiện nay là Tổng Thư ký LĐBĐ châu Á).

Sau khi được các đồng đội như Tam Lang, Dương Văn Thà, Võ Thành Sơn, Tư Lê, Hồ Thanh Cang cùng nhiều người hâm mộ đã giúp đỡ xây dựng cho một ngôi nhà cấp 4 tại sân bóng Thuận Kiều, thủ môn huyền thoại Phạm Văn Rạng đã qua đời vào tháng 11/2008. Tôi còn nhớ, ngày xưa mỗi khi họp nhau đá bóng, bọn trẻ chúng tôi luôn luôn bàn cãi trong việc chọn lựa ai sẽ là… Gôn Rạng! Hai chữGôn Rạng đã đi vào đầu óc non trẻ của chúng tôi trong ngôn ngữ hàng ngày.

Thủ môn Phạm Văn Rạng

Tại sân vận động Cộng Hòa vào giữa tháng 12/1967 có Giải Túc cầu Thân hữu Việt-Mỹ. Từ Mỹ sang là đội Dallas Tornado, họ đấu 2 trận, trận thứ nhất gặp Hội tuyển Thanh niên ngày 14/12/1967 và trận thứ nhì ngày 16/12/1967 gặp Hội tuyển Sài Gòn. Trận gặp đội tuyển có tới 20.000 khán giả đến chật kín sân vận động và kết quả 2 đội hòa nhau 1-1.

Đặc biệt vào thời xưa, trước các trận đấu chính luôn luôn có các trận mở màn để các đội bóng thanh thiếu niên hoặc lão tướng có dịp ra sân trình diễn trước khán giả. Tôi nghĩ, đây là một việc làm rất tốt của Tổng cục Túc cầu Việt Nam thời đó, một mặt khuyến khích các đội trẻ mặt khác phục vụ khán giả một cách tận tình bằng những ‘bữa tiệc’ túc cầu có nhiều món khác nhau. Điều này, bóng đá sau năm 1975 không hề có.
Bích chương Giải Túc cầu Thân hữu Việt-Mỹ năm 1967

Trở lại chuyện mê đá bóng của tôi hồi còn đi học. Túc cầu cũng mang lại cho tôi nhiều rắc rối. Đá bóng vào giờ nghỉ trưa thì không sao nhưng những trận đấu sau giờ học chiều mới có chuyện vì khi đó chắc chắn sẽ về nhà muộn.

Tàn trận bóng mới bắt đầu lo vì đường từ trường Trần Hưng Đạo về đến khu Hòa Bình quá xa mà lại còn phải đi bộ. Đến bến xe đò đi Trại Hầm trước 6 giờ thì may còn kịp chuyến xe chót về nhà và nếu không còn xe thì đành cuốc bộ.

Như vậy, cuốc bộ suốt con đường từ trường về nhà, tròm trèm 6km, cũng mất độ gần 2 tiếng. Về đến nhà còn phải nghĩ ra lý do để giải thích: có việc đột xuất ở trường nên thầy giáo cho về trễ hoặc không hiểu sao xe đò lại nghỉ sớm, nhưng hoàn toàn không bao giờ có lý do... mê đá bóng.  

Bây giờ tuổi đã già, niềm say mê bóng đá vẫn còn đó nhưng chỉ thể hiện qua việc xem bóng đá trên TV vào những ngày cuối tuần. Bóng đá Việt Nam vẫn chưa đi vào chuyên nghiệp, cầu thủ đa số là những người có chút ít kỹ thuật nhưng lại không được đào tạo về văn hóa còn khán giả phần đông là những người trẻ, họ đến sân với một tinh thần ‘cay cú, ăn thua’. Những khán giả chân chính chỉ còn biết ngồi nhà xem TV để không phải ‘tai nghe, mắt thấy’ những hành động thiếu văn hóa diễn ra trên sân cỏ!***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người – Chương 2: Thời niên thiếu)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 
http://chinhhoiuc.blogspot.com.au/2012/09/hoi-uc-hoc-tro.html

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… 
Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

thahuong82 wrote on Nov 6, '10, edited on Nov 6, '10
Anh Chính bộ nhớ còn rất tốt, lại lưu giử được nhiều hình ảnh "văn tự" hơn 1/2 thế kỷ đáng nể thật, nói có sách, mách có chứng mà lị. Cuốn phim quá khứ vì vậy rất hay và hấp dẩn
Thầy Chữ Bá Anh đã chết các con Chữ nhất Anh, Nhị Anh, Tam Anh.... rất thành công ở Mỹ trong lảnh vực học hành, tôi không nhớ cô con gái Chữ... Anh ra trường Bác Sĩ, lúc đó báo chí Mỹ cũng như Việt đều đăng tải là vị BS tốt nghiệp trẻ nhất nước Mỹ.





Thư của Nhất Anh gửi anh Trần Văn và ACE VH - VK

Mẹ Na bây giờ hồn phách đã lạc phố phường xưa, nhưng nếu còn hiểu được thì sẽ cảm động và vui lắm. Xin thay mặt mẹ và gia đình, cám ơn những lời nói đầy tình nghĩa của anh Sanh và của các bạn đã gửi thư riêng cho Na.

Thương mến,
Na.

2013/9/30 Sam Tran <svtr...@hotmail.com>
Không chỉ riêng ở ĐL, mà có lẽ ở khắp cả miền Nam, ai cũng từng một lần nghe câu ví von "Tiên học phí, hậu học văn", nói về sự buôn chữ bán thầy của một vài trường tư thục, điều này đối với tôi chẳng gì lạ, vì thói đời vốn vẫn thế - và nhiều khi chỉ cần một con sâu thôi cũng đủ để làm "rầu nồi canh"; điều đáng chú ý và để tâm hơn hết - hay nói cho chính xác hơn, một cây táo ngọt chẳng thể nào mọc ra trái chanh chua bao giờ cả. Cứ nhìn thành quả bây giờ của những bậc tiền bối, người đi trước đã để lại, ta biết một vị hiệu-trưởng đã là người như thế nào. Tôi không biết những người khác đã có những kinh nghiệm gặp gỡ với thầy CBA như thế nào, và đó là chuyện của họ, nhưng nhờ tôi can thiệp và xin thầy giúp cho người bạn cùng lớp, anh ấy tiếp tục học, và cũng như tôi đậu được bằng tú tài năm ấy, mà sau này nghe nói niên khóa năm 74 học sinh trường VH của thầy đậu nhiều nhất - không kể bốn chị em nhà họ Chữ!

Còn nếu nói về chuyện tiền bạc thì năm 72, thằng bạn của tôi mua được bài giải cho kỳ thi tú tài năm đó với cái giá $200,000. - một số tiền lớn đủ để mua một chiếc jeep lùn cũ (chiếc mới toanh "thuỗm" từ nhà kho của quân đội Mỹ lúc bấy giờ "chỉ" có $250,000 - mà tôi hằng mơ ước), nhưng tôi từ chối vì biết mình không phải loại dở dang, ngu dốt gì, chỉ vì chán đời mà ham ăn chơi cho nên thi rớt ráng chịu!
Tôi dám bảo đảm rằng những người đã từng nói "tiên học phí...." thì thứ nhất - họ cóc biết gì việc kinh doanh, sự sống còn không những của một trường tư thục , mà còn là bao nhiêu người của thế hệ trẻ như tôi lúc đó và sau này. Thứ hai, nếu có tiền và biết chỗ mua đề thi, họ sẽ chẳng hối tiếc mà sẵn sàng bỏ ra một số tiền gấp 10, gấp 20 lần tiền đóng học phí cho nguyên năm. Bởi thế, những lời đồn đãi xưa vốn cũng chỉ từ sự thiển cận, ganh ghét mà thôi, chẳng gì đáng để ý, bận tâm đến.

Từ lúc bắt đầu lên bậc trung-học đệ nhất cấp (từ đệ thất đến đệ tứ), tôi học trường Nguyễn Bá Tòng ở SG; rồi sau đó mỗi năm một trường ở Bình Dương, Mỹ Tho,  Biên Hòa - nhưng có lẽ chưa ai phá được cái "kỷ lục" ly kỳ như của tôi: 4 trường trong cùng một năm học ở ĐL ! Điều tôi muốn kể lại ở đây là tôi không còn nhớ tên của bất kỳ người Hiệu-Trưởng nào, ngoại trừ thầy Chữ Bá Anh, có lẽ đã nói lên phần nào lòng tưởng nhớ và kính trọng thầy.

Quên, trường Nguyễn Bá Tòng vì là của hội thánh Công-Giáo mà mấy  khi vị linh mục hiệu trưởng có thì giờ đến gặp và hỏi han từng học sinh như thầy CBA, mà chỉ có những linh mục Tổng Giám Thị (TGT) trông nom và cai quản trường, học sinh - trong đó học trò ớn &sợ nhất là thầy TGT tên Phạm Minh Công mà mấy thằng học trò quỷ quái đặt tên là "Công ngủ". Nhớ tên người khác kiểu này thì không khá được, rõ  là đồ HS ba trợn phải vậy không các bạn!


Date: Mon, 30 Sep 2013 04:22:27 -0400
Subject: [ dalatvanhoc ] Thư của Nhất Anh gửi anh Trần Văn và ACE VH - VK
From: nhata...@gmail.com
To: dalat...@googlegroups.com

Thưa anh Văn,

Na rất vui đọc được email của anh và xin cám ơn anh vẫn còn nhớ đến gia đình Na. Xin giới thiệu đây là Nhất Anh (Na), chị cả trong nhà. Vì là chị cả nên ...cái gì cũng biết cả !!!
Ngày còn bé mỗi ngày từ trường ra, 4 đứa đều theo Ba hoặc anh Thanh đi đón mẹ về. Na tin chắc rằng hồi ấy 4 chị em Na đều đã được hân hạnh biết tất cả các bác và cô chú làm việc tại Ty Thông Tin. Nay đã hơn 40 năm qua với biết bao biến động và đổi thay, người duy nhất mà Na vẫn còn nhớ trong trí óc là bác Phạm Gia Triếp, tức thi sĩ Việt Trang và cũng là trưởng Ty thông Tin Đalat (bác đã mất năm 2012?). Cách đây khoảng hơn 10 năm trước, mẹ Na có về VN để thăm gia đình và để tu sửa mồ mã cho ông bà ngoại. Mẹ đã có dịp lên Đalat trong một ngày để nhìn lại những kỷ niệm của một thời vang bóng. Hình như mẹ Na có gặp lại bác Phạm gia Triếp. Nhưng đáng nhớ hơn cả là trong dịp đó, mẹ đã được gặp lại bác Lê Phỉ, HT trường Việt Anh ngày xưa. Trong câu chuyện nói, bao nhiêu kỷ niệm vui buồn giữa hai ngôi trường Văn Học và Việt Anh lại hiện về trong nước mắt của hai người bạn thâm giao. 

Giờ đây sau 40 năm, các bạn trong Mái Ấm Văn Học đều có chung một niềm vui nho nhỏ là tìm lại nhau, sống lại những kỷ niệm của một thời Hiếu Học -Văn Học-Văn Khoa và của một Đàlạt ngày tháng cũ. Nếu có dịp, rất mong được nghe anh kể chuyện xưa... 
Thưa các bạn,
Trong một dịp tình cờ, Na được đọc lại một bài viết ngắn của ba Na, thầy CBA. Xin chia sẻ tâm tình đó với gia đinh VH-VK trong niềm thương tiếc vô biên:

"Đà Lạt đối với tôi đã có quá nhiều kỷ niệm, từ cuộc sống đến tình cảm. Tôi mong đợi một ngày về thăm Đà Lạt… thăm lại những ngôi trường mà do chính tay tôi xây dựng… gặp lại các bạn đồng nghiệp ngày xưa đã cùng chung sức với chúng tôi trong ngành giáo dục; thăm lại các bạn trẻ học trò cũ...”
 Nhất Anh

2013/9/29 NhiAnh Chu <nhia...@gmail.com>
Chào anh Văn
Xin phép tôi chuyển email của anh vào cả làng, anh khỏi mất công tự giới thiệu lại.
Rất mừng được tin anh. Nửa thế kỷ đi qua như chớp mắt. Anh nhắc mẹ tôi rất cảm động. Rất tiếc mẹ tôi bây giờ đang đi vào lớp tưổi "thần tiên" rất vui vẻ nhưng không còn nhớ được nhiều. Hai năm trước nhắc đến đồng nghiệp (bác Châu) hẳn mẹ tôi sẽ mừng lắm. Hy vọng chị Nhất Anh của tôi còn tôi. Chính ra, tôi có nhớ mài mại tên bác Châu. Nhiều khi muốn khóc vì những ký ức cứ mường tượng như trêu chọc lảng vảng, gợi lại những hình ảnh xinh tươi của thời đại vàng son ấy.
Lớp đàn anh của anh tôi biết có anh Đinh Văn Ninh và chị Phạm Thị Bích Thủy -- cùng lớp! -- cũng mới gặp lại nhau tháng 7 vừa qua, nghe nói anh ấy đang bay sang Frankfurt thăm chị ấy!
Có lẽ anh đã đọc qua cuốn sách nhỏ Mực Tím Lá Vàng có nhiều hình ảnh trích ra từ web site VH DL và một số bài viết, gọi là kỷ niệm, mời anh xem. http://vyea.com/usr/nhianh/DALAT/MTLV.htm
Rồi ta sẽ gặp nhau.

Nhị Anh
TB -- mật hiệu của anh là Bare Script viết là BS hê hê.

Tôi đã bỏ email của anh vào nhóm. Có mấy trăm email cũ anh hứng thì vào xem. https://groups.google.com/forum/#!forum/dalatvanhoc
Hầu hết mọi người dùng email. Hiện tôi để mail của nhóm gởi thẳng đến cho anh. Nếu mai một nhiều quá anh cứ nói tôi sẽ chuyển theo kiểu "digest" mỗi ngày 1 lần, hay tắt hẳn anh có thể xem trên web.

Mỗi tuần tôi xét thấy ai ít thư từ qua lại thì tôi thay đổi kiểu chuyển mail cho đỡ rối.

Chào anh NhiAnh,
Tôi biết gia đình của anh nhiều vì trước hết trường Văn Học nằm ngay trên đầu đường nhà tôi, đường Hoàng Diệu và sau đó là  bà mẹ của anh làm chung với bố tôi là ông Trần Văn Châu trên Ty Thông Tin Dalat. Phiêu liêu mấy chuc năm trên nước Mỹ xa xôi này tinh cờ tôi "va chạm" vào Webside VH làm tôi bàng hoàng quá khứ kéo đến dồn dập với biết bao nhiêu kỷ niêm của tuổi thơ. Bên này ngta gọi tôi là Văn, một tên dản dị và tôi chấp nhận cái tên này trong kiếp thứ hai này. Tôi khg biết nhiều và rõ các anh chị em con của thầy CBA vì khi tôi còn ở DL thì các anh chị còn nhỏ. Đó là một phần quá khứ của tôi đối vơí gia đình anh. Hiên tại tôi đang ở NC nếu các anh chị ở Virginia thì cho tôi xin địa chỉ để có dịp tôi sẽ ghé đến thăm gia đình anh.
Nhân đọc được về Dalat chia sẻ trên trang tường của anh tôi có khúc phim gởi anh xem cho vui : http://youtu.be/mtWzTmiVsXA

Thân

2013/9/29 NhiAnh Chu <nhia...@gmail.com>
Chào anh/chị Van Tran
Tôi là Nhị Anh năm 1974 ra trường tú tài IBM - (con thầy hiệu trưởng CBA ), lo việc admin cho nhóm này.
Xin anh/chị cho biết là ai?

N.A.
https://groups.google.com/forum/#!topic/dalatvanhoc/tlqlpj36UVQ

Trong khói lửa chiến tranh, trẻ em
Việt Nam đã và vẫn học rất giỏi!
TỰ HÀO ĐÀ LẠT!
Vào Đệ thất (lớp 6 bây giờ) khi chưa đầy 8 tuổi. 
Chưa đầy 15 tuổi, được các giáo sư nổi tiếng tại Đà Lạt đồng loạt xin ông Tổng trưởng Giáo dục cho phép cô ấy tham dự kỳ thi Tú tài phổ thông! Và Tuần báo Thiếu Nhi cũng vào cuộc, góp một tiếng nói cho trường hợp đặc biệt này!
Chưa đầy 15 tuổi, cô gái đó đã nói và viết được 4 ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật và Hán văn!
Các bạn đọc kỹ hình ảnh đính kèm, được chụp lại từ Tuần báo Thiếu Nhi, ra ngày 15-2-1974 để rõ hơn các chi tiết về cô Nữ sinh CHỮ TỨ ANH đã học giỏi như thế nào!
Đọc xong bài viết, mình cúi đầu khâm phục lớp đàn anh, đàn chị thuở trước! Hai cô cậu nhóc nhà mình cũng rất "thần tượng" cô Chữ Tứ Anh và do mình "bơm vá" túc tắc trong những lần chuyện trò, đều nói: học như cô ấy mới đã! Và cũng mừng, dù muộn hơn, cô cậu nhóc cũng bén gót được chút ít "thần tượng"!
Thế này mới là Thần tượng cho giới trẻ chứ hay ho gì ba cái được gọi là Idol, là sao, là trăng nhan nhãn trên báo chí hiện thời!
Đức Khổng Tử mà gặp Chử Tứ Anh cũng sẽ thốt lên mà mừng "Hậu sinh khả uý"!




Mà Thương Đến Cả Vệ Đường Hoa -Vi Khuê 1994 Gởi Người Dalat, xưa, sau Trái đất có lẽ sẽ phải nổ lúc ấy rồi ta cũng tiếc thôi tiếc sao những buổi rong chơi phố những buổi nhìn mây, buổi ngó trời... Xuân này ở Mỹ sao mà lạ bỗng rộn ràng lên chuyện tiếc thương và nhớ, và yêu Dalat quá yêu, ồ yêu nhỉ! nhớ, sao không? Nhớ đồi Cù mướt xanh trong gió biệt thự hồ bên đứng ngắm xa ngựa trắng, tóc hoe vàng, trước ngõ nàng công chúa Thượng áo hoa cà... Lên đồi. Lên đồi. Lên đồi cao những cô con gái má hồng au những chàng trai gắn Alpha đỏ Dalat mù sương một sớm nao! Ai tặng cô em một nhánh đào một nụ hồng lá thắm xôn xao và ai âu yếm cài lên tóc để đến nay cô nhớ ngọt ngào? Bùi thị Xuân còn thơm giấc mơ thì người cứ dệt gấm thêu thơ còn ai thiếu phụ chiều nay mộng hãy nhớ sân trường Đại học xưa. Và rừng. Và thác. Và thung lũng và gió từng cơn buốt thịt da Dalat. Trời ơi! Giờ ấm lạnh? Mà thương đến cả Vệ Đường Hoa!
Nữ sĩ VI KHUÊ:
Quốc Nam thành công trên nhiều phương diện
 
Vi Khuê là bút hiệu của một phụ nữ sinh trưởng tại Huế, tên thật là Trần Trinh Thuận. Thi tập đầu tay của Vi Khuê xuất bản năm 1971 tại VN là “Giọt Lệ”. Từ ngày lưu vong ra hải ngoại, bà ấn hành một loạt tác phẩm, gồm: Cát Vàng - thơ 1985, Ngựa Hồng Trên Đồi Cỏ - văn 1986, Tặng Phẩm Tình Yêu - thơ 1991 - Những Ngày Ở Virginia - văn 1991, Vẫn Chờ Xe Thổ Mộ - văn 1993, Hoa Bướm Vườn Thơ Tôi - thơ 1994, Thơ Vi Khuê - băng & CD, Thơ Trong Mưa và Hoa - thơ 2001 (Tuyển tập Việt-Anh-Pháp Ngữ), Vi Khuê văn nhiều thể loại 2008. Trước năm 1975, Vi Khuê cộng tác với 2 đài phát thanh Huế & Đà-Lạt trong công việc: Xướng Ngôn Viên, Biên Tập Viên & Diễn Viên Thoại Kịch. Trong Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ Việt Nam Toàn Cầu kỳ 2 năm 2010, nữ sĩ Vi Khuê đã được vinh danh trước cộng đồng về sự nghiệp văn hóa.
Bà là phụ nữ VN đầu tiên có tên trong Tự Điển Tiểu Sử Nhân Vật Quốc Tế (Dictionary of International Biography) ấn hành tại Cambridge (Anh Quốc), và Tự Điển ABI (American Biographycal Institute, Inc.) ấn hành tại Hoa Kỳ.Trước năm 1975, Vi Khuê đã tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương Việt Hán, và là Hiệu Trưởng trung học đệ nhị cấp Văn Khoa tại Đà-Lạt. Sau đây là phần phát biểu cũa nữ sĩ Vi Khuê về thi văn sĩ Quốc Nam tại Đại Học Luật Khoa George Mason (vùng Thủ Đô Hoa Kỳ) ngày 7 tháng 6 năm 2003:
Trên con đường gian nan khúc khuỷu của kiếp lưu vong -đường đi càng khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì đoạn trường vượt núi băng sông, đương đầu với cả đại dương ầm ầm sóng vỗ- ông bạn Quốc Nam của chúng ta đã có đủ can trường, tài năng và nhẫn nhục san bằng bao chướng ngại, để trở nên một người có tầm vóc, thành công về nhiều phương diện. Như đã được ghi nhận đó đây, Quốc Nam chẳng những từ tuổi thanh niên ở quê nhà đã từng xông pha tên đạn trong hàng ngũ những người lính Alpha Đỏ... mà từ khi ra hải ngoại, đã lần lượt đảm nhiệm một số vai trò khá quan trọng như:
- Chủ Bút bán tuần san Tre Xanh từ trại tị nạn Hongkong năm 1975.
- Chủ Bút tạp chí Hoài Hương vào năm 1976, sau này đổi tên là báo Đông Phương.
- Từ năm 1976, thành lập Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương chủ trương xuất bản sách báo, văn thơ nhạc, trình diễn văn nghệ, khám phá tài năng mới (văn chương và ca nhạc).
- Chẳng những là người từ năm 1987, đã sáng lập Giải Quốc Tế Ca Sĩ Tượng Vàng Việt Nam, có ảnh hưởng sâu rộng trong tập thể người Việt khắp năm châu.
- Anh lại là người đã có sáng kiến đặt tên thật dễ thương cho thành phố San Jose là “Thung Lũng Hoa Vàng”, và khai sinh cho tiểu bang Washington một tên thơ mộng khác là “Cao Nguyên Tình Xanh”.
- Và còn nhiều nữa...
Anh Quốc Nam chẳng những, đã cùng một vài đồng nghiệp khởi xướng “Chiến Dịch Tình Thương Dưới Ánh Mặt Trời” ở miền Bắc Cali, quyên góp được gần 100 ngàn Mỹ-kim cứu giúp đồng bào vượt biển; lại còn, vào năm 1991, thực hiện “Ngày Thi Ca Việt Nam” được sự hưởng ứng mua vé tham dự của hơn 500 khách yêu thơ. 
Năm 1993, tại miền Tây Bắc Hoa Kỳ, anh đã tạo dựng đài phát thanh Việt Ngữ “Saigon Radio”.
Chưa hết, những đóng góp nêu trên đã được kể như thành tích, khiến cho vào khoảng 1992-1994, “nhà hoạt động” Quốc Nam được tuyên dương là “Chiến Sĩ Văn Hóa Việt Nam” bởi Hội Sinh Hoạt Văn Hóa tiểu bang Louisiana (USA) và Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH tại Ontario (Canada).
Nhưng, vấn đề chính của hôm nay, thưa qúy vị, Quốc Nam còn là một tác giả - nhà thơ nhà văn với một số tác phẩm đã xuất bản, mà trong đó có 2 tập thơ “Quê Hương Nước Mắt & Người Tình Quê Hương” vừa được tái bản, cùng được trình làng văn học miền Đông Hoa Kỳ, trong không khí thân mật của hội trường quen thuộc này.
Giờ đây, xin mời qúy vị cùng chúng tôi đi vào tác phẩm của Quốc Nam:
I) Quê Hương Nước Mắt.- Dĩ nhiên, đó là tiếng khóc của tình yêu nước thương nòi, gọi là Tình Tự Quê Hương, Tình Tự Dân Tộc. Có hơn một độc giả trong hàng ngũ tị nạn đã nồng nhiệt kêu lên, qua những lời thư gởi người sáng tác: “Ngày nay, lâm vào cảnh lưu vong -vong gia thất thổ- chúng tôi thật bồi hồi xúc động đón nhận những giọt lệ gắn liền với quê hương đó, để chúng ta cùng khóc Mẹ Việt Nam khổ đau, và tích cực góp phần vào công cuộc giải phóng Quốc Gia, để còn mong ngày về...”
Với tác phẩm này của Quốc Nam, đã có khá nhiều nhận định tán thưởng. Từ những tên tuổi trong sinh hoạt văn học nghệ hải ngoại, như Linh mục nhà văn Lã Mộng Thường, LM chủ báo Việt Châu, sử gia Cao Thế Dung, cựu Thượng Nghị sĩ bình luận gia Phạm Nam Sách, cựu Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm v.v... Riêng kẻ có hân hạnh góp phần phát biểu cảm nghĩ hôm nay, cảm thấy thật tình xúc động trước chỉ vài câu ngắn ngủi như nghẹn ngào của Tác giả “Hồi Ký Một Đời Người” Phạm Ngọc Lũy, thuyền trưởng con tàu định mệnh Trường Xuân. Cụ viết: “Tôi nghĩ thơ Quốc Nam chắc chắn làm xúc động nhiều tâm hồn, vì quê hương chúng ta đang chịu quá nhiều đau khổ, toàn dân đang khóc ra máu mắt!” (Máu mắt, chữ nhấn mạnh, chứ không phải là nước mắt mà thôi).
Tác giả Quê Hương Nước Mắt đã bước xuống con tàu Trường Xuân lìa xa đất nước, trong tâm trạng “Kẻ đào ngũ của quê hương khổ đau”:
... Tôi nhục nhã trong tôi,
Kẻ bỏ nước ra đi
Bỏ anh em ở lại
Bỏ đồng đội gian nguy.
... Ta lưu đày ta một đời giãy chết,
Nắng phiền buồn theo nước mắt tuôn rơi.
Đêm quê hương lời kinh đã rã rời,
Ta trở giấc giữa Hoa Kỳ chói sáng.
(trích “Quê Hương Nước Mắt”)
Để rồi từ đó, trên con đường lưu vong, buổi chiều nào cũng là những hôn mê:
Ta hôn mê những chiều xa cố xứ,
Ly rượu nồng sao phá nổi cơn đau.
Nhớ Việt Nam từng dốc đá nhịp cầu,
Quê nghèo đã nuôi ta thành bất khuất.
(trích “Quê Hương Nước Mắt”)
“Kẻ Đào Ngũ Của Quê Hương Khổ Đau” với những chữ như xoáy vào niềm ăn năn đầy mặc cảm của kẻ tự nhận phần trách nhiệm “làm mất nước” về mình, ngày đêm ray rứt tâm can. Theo tôi, là một bài thơ sống động với hình ảnh của nhà thơ, đã thể hiện nhiệt tình cao độ đối với quê hương đất nước khi tự nhận là kẻ đào ngũ phải cúi đầu nhận tội.
II) Người Tình Quê Hương.- Đã 30 năm rồi, trên 2 triệu người VN nối tiếp nhau bỏ nước ra đi, đến bây giờ tan tác khắp năm châu, tình cảm thiết tha ray rứt thuở ban đầu đối với quê hương có còn như cũ? Hay là chính những kiếp tắm nhả tơ kia, giờ đây, đôi khi giật mình nhớ lại thời dĩ vãng “quá độ bàng hoàng” ấy, cũng phải lấy làm lạ lùng: Sao thế nhỉ? Sao lại khóc than nhiều đến thế? Con người ta sống, cũng phải có lúc trở lại với những tình cảm tự nhiên của con người bình thường, muôn thuở muôn nơi chứ? Giai đoạn hưng thịnh nhất của thi ca đời Đường bên Trung Hoa kéo dài đến 300 năm, cũng đâu có mấy bài thơ xuất chúng lấy đề tài từ Tình Tự Dân Tộc, Đất Nước Quê Hương? Thế mà, nhà thơ Quốc Nam của chúng ta, sau “Quê Hương Nước Mắt” từ năm 1987, đã có “Người Tình Quê Hương” vào năm 1999.
Nhưng, dầu là viết “Quê Hương Nước Mắt” hay “Quê Hương Người Tình” thì quê hương vẫn là quê hương. Quê hương như một nhắc nhở đêm ngày, như một ám ảnh không rời tâm tư người lưu lạc!
Có tiếng ai đó thì thầm bên tai: “Tôi nghĩ, thơ ai, dầu có hay đến mấy, mà không phải viết vì Quê Hương trong giai đoạn “bầy chim bỏ xứ” này, thì làm sao xứng đáng được đồng bào kính trọng?” Có lẽ ý thức rõ điều này hơn ai hết, nên đôi khi tạm chùi đi giọt lệ còn mằn mặn trên môi để nghĩ đến người tình, nhà thơ của chúng ta vẫn gọi: Người-tình-quê-hương. Này đây, thưa qúy vị:
... Em có quê hương bạt ngàn lúa chín,
Giòng Hậu Giang xuôi chảy đến bao giờ.
Em có hồn xanh ngát một màu thơ,
Tôi đứng đó mà yêu thương đã mở.
... Từ xa xứ tôi như trời ốc đảo,
Đã cô đơn từ đầu kiếp lưu dân.
Bỗng gặp em hình ảnh một Việt Nam,
Trong ánh mắt là tình quê vĩnh cửu.
(trích “Người Tình Quê Hương”)
Hồn em là Quê Hương, ánh mắt em là Quê Hương, và áo dài em mặc cũng là Quê Hương:
Em ạ, tôi yêu màu áo tím,
Bóng hình mở sáng một quê hương.
Mốt mai trên nẻo đường vô định,
Tà áo em dài những nhớ thương.

Nghĩ cho cùng, về nội dung, không có gì khác lạ giữa thơ Quốc Nam với cả rừng thơ văn hải ngoại thuở ban đầu tràn ngập hai tiếng “Quê Hương”. Nữ sĩ Thanh Phương cất lên tiếng khóc đầu tiên “Quê hương qua ngấn lệ”; Luân Hóan “Hơi thở Việt Nam”; Hoàng Xuân Sơn “Quê nhà như một vết thương”; Trần Mộng Tú “Quê hương càng nhớ, lòng càng đau”; Chu Vương Miện với tiếng kêu trầm thống “Đất nước”; Du Tử Lê “Nhìn nhau chợt thấy ra sông núi”, trong tập này có một bài yêu quê hương được nhắc nhở nhiều, có thể nói bài “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” là bài thơ hay của Du Tử Lê trong dòng thơ lưu vong.
- Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển,
Đời lưu vong không cả một ngôi mồ.
Vùi đất lạ thịt xương e khó rã,
Hồn không đi sao trở lại quê nhà?
- Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển,
Nước ngược dòng sẽ đẩy xác tôi đi.
Bên kia biển là quê hương tôi đó,
Rặng tre xưa muôn thuở vẫn xanh rì...” 

Nay, với hai thi tập của Quốc Nam, cũng có hơn một nhận định tán thưởng tương tự, từ một người yêu thơ: “Quê Hương Nước Mắt là một cuốn sách do Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương xuất bản lần thứ nhất vào năm 1987, từng được nhiều người quốc gia yêu nước khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, và đã trở thành tập thơ đầu tiên ở hải ngoại in đi in lại tới 4 lần, trong khoảng thời gian chưa đầy nửa thập niên”.
Và, ông Anh Lê (nhà văn) ngay ở trong tập thơ đầu tiên ấn hành tại hải ngoại của Quốc Nam, đã có lời viết xem ra vừa chân thành vừa chất phác, như sau: “Thơ Quốc Nam đã đánh mạnh vào tâm lý chung của quần chúng. Cái khéo của anh là đã kết hợp được cả Đời vào Đạo, hay ngược lại Đạo vào Đời. Do đó, anh được cả Cha lẫn Sư ưu ái hỗ trợ, cả Ni lẫn Sơ quý mến, nên anh không cần đem thơ ra rao bán mà sách anh vẫn bay đi khắp bốn phương trời, để anh liên tiếp in tới lần thứ tư. Như qúy vị đã biết, ít thi tập nào dám gồng mình tái bản, chứ nói chi thêm 3 lần tái bản (vị chi là 4 lần) như tập Quê Hương Nước Mắt. Dĩ nhiên thơ Quốc Nam phải có nét đặc thù nào đó, nếu không phải như lời tôi mạo muội nêu trên?”
Riêng phần tôi thì không phải là đến bây giờ, mà từ năm 1992 xa xôi, với bút hiệu Đoàn Văn phụ trách trang Văn Học Nghệ Thuật trên nguyệt san Diễn Đàn ngày ấy, đã có dịp giới thiệu tập Quê Hương Nước Mắt rồi. Tới nay, tác giả còn giữ và sao gởi cho tôi. Xem lại thì lạ quá, ngày ấy tôi đã không bàn gì về tác phẩm, mà lại chỉ nhấn mạnh ở một điểm. Tôi đã viết: “Có điều trước tiên cần phải nói: Quả thật, Quốc Nam là một thi sĩ hiện đại có diện mạo rất đặc biệt, ở trong hình cũng như ngoài đời. Cặp mắt với cái nhìn nghiêng và đôi môi ngậm kín, thật nghiêm chỉnh và thật nên thơ”. Nay tôi xin thêm: “Có lẽ diện mạo ấy, với miệng cười khi cởi mở, cũng là yếu tố góp phần vào sự thành công của thi sĩ Quốc Nam trong tác phẩm đã in đi in lại, cũng như ở ngoài đời?”
Chúng tôi xin mừng sự thành công của anh, cùng với cử tọa hôm nay.
Virgina, Hoa Kỳ, June 07, 2003
VI KHUÊ
_________________
Chú thích tấm hình:
Nữ sĩ Vi Khuê (mang kính đen) trong Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ VN Toàn Cầu kỳ 2 ngày 15 tháng 8 năm 2010 tại Thủ Đô Mỹ Quốc. Hình từ trái qua phải: Thi sĩ Quốc Nam, nữ sĩ Vi Khuê, cây bút trẻ Thái Hòa & nhà truyền thông Như Hảo (Giám Đốc Mẹ VN Radio & Global TV, California). Photo by Henry Nguyễn.

http://www.art2all.net/tho/quocnam/quocnam_vikhue.html

Chia Buồn Cùng Nữ Sĩ Vi Khuê
(Thứ nam Chử Tam Anh thất lộc)

Chia bớt Vi Khuê một nỗi buồn
Tam Anh con trẻ sớm đi luôn
Dù về nước Phật vui vô hạn
Cũng để vợ con nhớ mấy muôn
Tiến sĩ thành danh đang sáng giá
Gia đình nề nếp được tròn vuông
Mà sao cuộc sống không suôn sẻ
Xin mượn cảnh Chùa gióng tiếng chuông

San Francisco, September 9, 2011
Võ Đình Tiên


http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=6813

ẤN TƯỢNG TỪ THƠ VĂN VI KHUÊ

Tôi xin nhập đề với một chút dông dài, như một nhắc nhở về những gì đã qua cho những gì nhắc nhở mai hậu. Thời gian rồi sẽ qua đi, tất cả những rộn rã, tất bật của cuộc sống hôm nay cứ trôi theo dòng năm tháng, xô dạt về cuối mỗi cuộc đời. Nhưng dòng chảy kia thì bất tận, hun hút. Từ một căn duyên nào đó, người ta gặp nhau, thêm một mối dây liên hệ, một tương quan trong suy nghĩ, tương đồng hay dị biệt, trân trọng hay hững hờ...tất cả đều từ vốn liếng và sự đóng góp của mỗi cá thể cho nhân quần xã hội. Về phương tiện giao lưu văn học thì liên hệ của tác giả với tác giả và tác giả với tác phẩm là một tương quan mà một ngày kia là tư liệu.
Đối với một tác giả đã đi vào đại chúng, mối tương quan giữa tác giả và tác phẩm văn học là những tư liệu để soi rọi lại con người, tác phẩm và thời đại cho công việc khảo cứu, phê bình về sau. Tư liệu đó đôi khi chỉ là những chi tiết tản mạn nhưng lại hữu dụng khi nó phản ánh một góc cạnh của quan niệm, tư duy, tình cảm của tác giả và nhân vật trong tác phẩm.
Tên tuổi của nhà văn, nhà thơ nữ Vi Khuê đã rất quen thuộc với độc giả trong và ngoài nước, nhất là độc giả hải ngoại từ sau 1975.
Viết về Vi Khuê, nhiều người đã làm công việc đó. Tôi đã đọc bà ở “Vẫn Chờ Xe Thổ Mộ”, Hoa Bướm Vườn Thơ Tôi” và nhiều thơ văn khác của bà. Tôi đã được nghe bà trong băng thơ nhạc Vi Khuê do đài VOA giới thiệu từ Washington.
Sau ngày bà đến Cali dự lễ “49 Ngày tưởng niệm Nhà báo Chử Bá Anh” tại Hội Quán Việt Nam, Và rời San Jose trở về Hoa Thịnh Đốn, các thân hữu trong Cơ sở Thi Văn Cội Nguồn và Diễn đàn văn học nghệ thuật “Đất Đứng” quyết định thực hiện một số đặc biệt về Vi Khuê. Anh Chủ biên “Đất Đứng” đề nghị tôi viết một bài về chủ đề này. Tôi đắn đo nhưng rồi tôi viết.
Sau nhiều lần nói chuyện với bà và hai lần gặp gỡ, tiếp xúc, tôi nhận thấy ở Vi Khuê không phải chỉ có “chất thơ đài các và thâm trầm” như nhận xét của nhà văn Nguyễn Mộng Giác mà nét nữ lưu đài các, vẻ thông minh trầm mặc còn thể hiện rõ ở phong cách của Vi Khuê.
Vi Khuê đã có ba tập truyện và sáu tập thơ xuất bản. Thơ Vi Khuê là cả một kho tàng ngôn ngữ quý phái, sắc bén, thâm trầm, mới mẻ trong ý tưởng diễn đạt, rất gần gủi với tâm hồn, tình cảm của thế nhân.
Cách đây một năm, khi tôi phụ trách biên tập thi tuyển “Gửi Ngưởi Dưới Trăng”, nhận được tám bài thơ bà gửi cho tuyển tập, khi đọc, tôi đã khựng lại ở bài “Mai Mốt Tôi Về”, “Gởi Hồn Theo SÁch” và “Chúng Ta Đi Ngàn Dặm Sẽ Quay Về”. Có lẽ không phải riêng tôi mà người đọc thơ, yêu thơ đều thấy tâm sự mình ở đó, hoặc là, đều nhận thấy đã có Vi Khuê thổ lộ tâm sự thay cho mình. Trong “Mai Mốt Tôi Về”, thấy gì trên chiếc cầu cũ dòng sông xưa. Mơ về thưở mười tám đôi mươi của mình mà thương xót, tội nghiệp những mái đầu mười tám đôi mươi đã chít khăn sô từ mùa ly loạn.
Tất cả những ấn tượng từ một tương lai lùi dần về dĩ vãng đã được gói gọn trong bốn câu thơ mở đầu. Để rồi từ đó biết bao ấn tượng lan man kết thành một chuỗi dài khổ đau của cả một dân tộc. Nỗi khổ đau kia cho đến cuối đời tóc đã bạc “Đá cũng còn cau mặt”.
Bằng một khỏ thơ chuyển nhập với lối dùng điệp tự độc đáo, tác giả kéo tiềm thức trở về với nổi trôi bất hạnh của mấy thế hệ con người:


Thì thế thì thôi, thì lận đận
Thì long đong, thì đã lênh đênh
Thì như ai đó ngoài mưa lạnh
Chìm nổi theo con sóng gập ghềnh

Đọc tiếp sang bài “Chúng Ta Đi Ngàn Dặm Sẽ Quay Về”. Quay về, sau những xa lạ, bâng khuâng, ngọt ngào khách sáo, vu vơ, giả dối... là một thực tại của quê hương nghèo nàn, xiêu vẹo. Cảch sống bần cùng xơ xác. Mượn hình ảnh em bé mồ côi cúi gặm chút xương gà moi lên từ túi rác ni-lông để nhắn nhủ với mọi người. Lời tự thú hay một quy trách:


Chúng ta sẽ trao em lời tự thú
Là người dân Nước Mới Hai Trăm Năm
Để em hiểu: Bốn Ngàn Năm Lịch Sử
Phải thay đời. Cho bớt nỗi long đong.


Có phải thơ Vi Khuê là một hiện tượng “lên đồng” như chính tác giả đã thổ lộ khi phát biểu tại Hội Qúan Việt Nam chiều ngày 4.5.96. Hôm đó nữ nghệ sĩ Kiều Loan chọn bài “Tống Biệt Hành” trong tập “Hoa Bướm Vườn Thơ Tôi” để ngâm. Do cẩn thận, Kiều Loan trao tập thơ cho tôi và tỏ ý tôi chọn một bài đẻ cô trình bày. Đọc lướt qua một lượt, tôi dừng lại ở bài


 “Tống Biệt Hành”.
Tôi hỏi: “Cô đọc bài này rồi chứ?” Kiều Loan đáp lại : “Tôi đã chọn bài này. Anh thấy thế nào?” “Được chứ. Tôi định đề nghị cô ngâm “Tống Biệt Hành”.
Sau đó MC đã giới thiệu: “Nữ nghệ sĩ Kiều Loan ngâm bài “Tốnhg Biệt Hành” của Vi Khuê viết để tiễn biệt phu quân của bà.”


Vì vậy tác giả đã phải đăng đàn cải chính. Trong khi phát biểu với cử tọa, tác giả Vi Khuê nói rằng: “Làm thơ, có khi người ta như lên đồng; viết theo tiếng vọng từ tiềm thức, từ vô thức, từ một cõi xa xăm nào đó, mà chính mình không hiểu rõ!” Như vậy ngôn ngữ của Vi Khuê trong “Tống Biệt Hành” là ngôn ngữ “lên đồng”. Đó là hiện tượng xuất thần. Mà ý tứ, ngôn ngữ xuất thần thì hẳn nhiên bài thơ đã đạt đến tuyệt đích của cảm xúc và rung động.
Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã từ nói rằng: “Thơ là ngôn ngữ đặc biệt của thi nhân. Chỉ có người thơ mới có được thứ ngôn ngữ riêng biệt ấy”.


Tác giả Vi Khuê cũng cho biết bà viết ‘Tống Biệt Hành” theo gợi ý của nhà văn Võ Phiến. Theo đó, ông đề nghị mỗi người làm thơ nên viết một bài theo ý “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm. Nhưng Vi Khuê đã viết “Tống Biệt Hành” theo cảm xúc và ngôn ngữ riêng của bà, như thế thì sẽ thấy chẳng khác nào những bản dịch.

TỐNG BIỆT HÀNH CỦA THÂM TÂM VÀ VI KHUÊ
Cách đây hơn nửa thế kỷ Thâm Tâm đã tiễn một người đi trong “Tống Biệt Hành” của ông. Tiễn người đi mà tác giả nghe lòng dậy sóng. Người đi trong tâm sự mênh mang, trong hoàng hôn đáy mắt. Con đường đời nhỏ hẹp. Sự nghiệp còn ngoài tầm tay. Chí lớn đã quyết đành. Công chưa thành, danh chưa toại, “ba năm, mẹ già cũng đừng mong”. Và:


Người đi, ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà như chiếc lá bay
Chị thà như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say


“Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm đã là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ thi nhân. Tôi đã được đọc một số ít bài âm vọng từ “Tống Biệt Hành”. Nhưng phải chờ đến “Tống Biệt Hành” của Vi Khuê, tôi mới tìm được ở bà, một nhân vật thứ hai đầy tính chất triết lý nhập thế, dấn thân của một tráng sĩ Đông phương hay của một một lãng nhân Phù Tang thời phong kiến tay không đi tìm nghiệp lớn.


Vi Khuê đã dựng lên một đối tượng ngang bằng vai vế để nhắn nhủ, để khích lệ người ly khách. Dù Người đi về phương nào chưa chắc được, nhưng Người cứ đi. Cuộc tiễn đưa nào mà không mang tiếng ngậm ngùi, cảm xúc. Người ly khách trong “Tống Biệt Hành” của Vi Khuê có rượu, có trăng, có lệ tràn và một thoáng môi cười của người đưa tiễn. Rượu sẽ nói lời vĩnh biệt. Rừng không gió, trời không mây, vườn ngự không hoa và có cái gì đó không dằn được những cảm xúc trắc ẩn từ cõi lòng để kẻ ở phải thảng thốt nói với người đi:


Ta tiễn Ngươi mà,
Ta tiễn Ngươi!

TA VỀ VÀ TA ĐI
“Ta Về” của Tô Thùy Yên để vĩnh biệt mười lần ba trăm sáu mươi lăm thiên thu, hóa thân làm vượn cổ của thời đại văn minh từng rú. “Ta Về” để nhìn thấy những đổi thay bạo ngược. “Ta Về” với ảo giác một thoáng mừng vui xôn xao tưởng tượng. “Ta Về” như chiếc lá rơi về cội. Rưới một chút rượu hồng mong giải oan cho cuộc biển dâu, nhưng oan nghiệt ấy không những không giải được mà còn chất chồng thắt buộc. “Ta Về” để ngao ngán trước cảnh đời hoang phế, để vỗ về nhen nhúm gây dựng lại những thứ thân quen, cửa ngõ, giàn hoa, bức tường... mà cũng là để nhen nhúm niềm hy vọng, niềm tin cho cuộc hồi sinh.
“Ta Đi” của Vi Khuê để từ biệt nước non, từ biệt mẹ già, từ biệt dĩ vãng thân yêu, từ biệt nhưng lại cố níu kéo mọi thứ để mang theo, từ bông cỏ may đến dòng sông ửng nắng, hàng dây kẽm gai của giai cấp “tố khổ tố giàu trăm thứ tố”.
“Ta Đi” của Vi Khuê là bài thơ mà tác giả ghi là “Vọng âm bài ‘Ta Về’ của Tô Thùy Yên”:


Ta về như sợi tơ trời nắng
Chấp chới trơi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can.
(Tô Thùy Yên)

Ta đi, như thể chim lìa tổ
Như lá lìa cành tự tối nay
Một tiếng tiễn đưa là tiếng sét
Oan khiên là cuộc chiến tranh này
(Vi Khuê)


“Ta Về”, về để nhìn thấy một cảnh đời đổi thay, phế hoang, ngao ngán. “Ta Đi”, đi để bỏ cảnh đời thay ngựa giữa dòng, để bỏ cảnh đời phế hoang, ngao ngán ấy. Hai hành trình ngược chiều nhưng lại đồng quy, đọng lại ở một đáy sâu tình tự. Đó là tình cảm thiêng liêng ràng buộc của con người Việt Nam với đất nước quê hương.


“Ta Về”, về để cởi lốt con vượn cổ, trở lại nơi cũ chốn xưa, nơi đã nửa đời thân yêu gắn bó.
“Ta Đi”, người đi “vẫy chào non nước mộng”, vẫy chào “ngày xuân chưa kịp ước”. Vẫy chào một dĩ vãng chinh chiến, hận thù. Vẫy chào “năm mươi năm quyện câu hò Huế ”.
“Ta Đi” và ta đã đến. Đến bến bờ lộng lẫy hoa đăng như trong thần thoại nghìn đêm lẻ. Thế mà “Đến nơi...chưa phải là nơi đến”. Hy vọng ao ước không phải chốn này. Cả một dĩ vãng và tình cảm trĩu nặng sau lưng. Nơi đến, giờ đây lại là hành trình ngược lại. Ở đó mới thực sự là chỗ yên lành ao ước:


Ta đi. Ta đến. Ta về chứ
Đi. Đến. Về! Ôi! đất nước mình!


Những dấu chấm và chấm than kia là những ấn tượng xoáy vào tâm can người đọc, cũng như hình ảnh người đi “bước ngập ngừng theo gió” “Thả ống quần cho dính cỏ may” đã gieo một ấn tượng thật mãnh liệt. Đó là cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt tâm cảm một các rất tài tình của tác giả Vi Khuê.

***
Văn của Vi Khuê, bà đã xuất bản ba tập truyện. Nhiều người đã viết giới thiệu, phẩm bình. Tôi chú ý bài “Điểm sách mới – Nữ sĩ Vi Khuê” của tác giả Tống Diên Tô Dương Hà trong “Hoa Bướm Vườn Thơ Tôi”. Một phần, tôi muốn biết anh viết những gì khi đọc Vi Khuê. Phần khác vì anh là bạn thân, cùng làm việc ở một cơ quan với tôi trước 1975. Sau 75 cùng ở tù chung trại, chung phòng từ Nam ra Bắc. Tôi ít được đọc bài viết của anh. Anh chủ trương tờ Phù Sa, khi tôi còn ở Việt Nam. Vì thế khi gặp bài này tôi đọc hơi kỹ.
Theo tôi, nếu độc giả muốn biết ‘Vẫn Chờ Xe Thổ Mộ” là tập truyện có nội dung thế nào, muốn tìm hiểu giá trị văn chương của tác phẩm thì xin để người điểm sách đọc cho nghe tình tiết mỗi cốt truyện, dẫn đi từ một quán Tàu ở Los Angeles về tới Sài Gòn thăm Dịch vụ khóc mướn quốc doanh.


Và cuối cùng nghe anh kết luận: “Tất cả truyện của bà đều như thế cả: hấp dẫn, sống động, tuyệt vời.” Theo tôi bài viết của Tống Diên Tô Dương Hà cũng tinh tế, sắc bén và lôi cuốn như chính tác phẩm mà anh giới thiệu. Anh là thứ nam của cố văn sĩ Bình Nguyên Lộc.
sn.
http://www.trinhnu.net/van/17054

           VI KHUÊ
             vườn, hoa vào thu

    Bình thường, tôi vẫn bình thương
    sớm mai trở dậy soi gương vẽ mày
    ngó bàn tay, ngó bàn tay
    tay năm ngón chẳng hao gầy ngón mô

    Vén lên sợi tóc mai thừa
    nghe như từ tạ cũng vừa tháng năm
    chân mang guốc gỗ ra thăm
    đào xoan mấy cội đứng nằm dưới sân

    Vườn thơm đâu có ngại ngần
    dâng ta một đoá hoa hồng đỏ tươi
    xanh um ở phái sau đồi
    rợp lên rau cải rao mùi của ta

    Thương chưa, bầu vẫn ra hoa
    cành non lá nõn la đà ấp yêu
    lá sao lá uốn mỹ miều
    cảnh sao cảnh dịu dàng,leo phu giàn

    Trời xanh,cỏ biếc,thu vàng
    hai con bướm đậu,tan hàng,ngẩn ngơ
    nhớ ngày bụi phấn vào thơ
    mùa xuân sao để thẹn thùa đi qua

    Đừng làm vỡ giấc mơ hoa
    giữ cho em trọn đường qua lối về.


      VI KHUÊ - VIRGINIA/ USA

http://tanmanvanchuongthephong.blogspot.com.au/2014/06/bai-tho-hay-cua-nu-thi-si-vi-khue.html.

CÂU CHUYỆN VĂN CHƯƠNG

LTS: Lần đầu tiên, Cỏ Thơm nhận được một bài thơ rất lạ chứa đầy thổ ngữ đặc biệt địa phương miền Trung - đúng ra là giọng Huế của các Bà, các Mệ trong Cung Đình thuở trước, như: thế gia, vọng tộc, bây chừ, dỏ dẹ, ba de, rứa răng, răng rứa... gợi sự chú ý thích thú cho độc giả. Tìm hiểu nguồn gốc xuất xứ của bài thơ, chúng ta sẽ biết được nhiều giai thoại độc đáo nữa. Nhưng, trước hết xin thân ái mời độc giả thưởng thức qùa tặng đầu năm Đinh Hợi của nữ sĩ Vi Khuê. Số sau sẽ xin giới thiệu đến qúy vị bài thơ của Đức Từ, không ai khác hơn chính là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, thân mẫu của Cựu Hoàng Bảo Đại.
Nhân Đọc Bài Thơ Của Đức Từ trên Nguồn số 29

Quê hương bây chừ đã đẹp
Em đi, mặc áo đầm dài
Em cao gần hai mét nhỉ
Em cười, mọng trái tim môi...

Tôi về thăm quê nhiệt đới
Hình hài ướt đẫm mồ hôi
Thấy em ra từ hẽm tối
Áo bà ba lòng trứng gà tươi

Ờ, thuở trước bao nhiêu lầm lẫn
Đấu trường kia tố mẹ cha già
Nhầm lẫn qúa —Nhân Văn Giai Phẩm
Chứng tích một thời tội lỗi bươi ra.

Thuở trước tố đi thì chừ tố lại
Tố gì miễn có tố thì thôi
Phải có tố mới chùi tội lỗi
Sạch trơn tru. Để ngó nhau cười!

Đời dỏ dẹ thì mình dỏ dẹ
Đời ba de mình cũng ba de
Ai nói rứa thì mình cũng rứa
Có răng mô mà sợ cắn hè

Tôi công dận thơ Nguồn được qúa
Cứ tự nhiên không điệu không đà
Cứ vào nhà rồi lại đi ra
Cứ như nói chuyện sa đà rứa thôi
Dớ một thuở thế gia vọng tộc
Ông chú mình dạy học cho Vua
Sang chưa? Vua vẫn là Vua
Và con thầy chùa vẫn quét lá đa

Đèo Ngoạn Mục quanh co mà đẹp
Đường sửa sai sang rực đêm soi
Ta bước đi dép mòn lẹp xẹp
“Vương” tay lên diệt hết độc tài!

Ồ, chính tả có sai càng ngộ
Lạy đức Từ mấy thuở làm thơ

Lời mộc mạc vẫn là châu ngọc

Chúa Vua ban, biết nói răng chừ!


Con xin cảm tạ Đức Từ

Cho bài thơ đẹp thơm mùa sửa sai.


VI KHUÊ 



http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=481&Itemid=45



Xin mời quý vị nghe Tô Kiều Ngân diễn ngâm bài MAI MỐT TÔI VỀ của nữ sĩ Vi Khuê ( bấm vào tên bài thơ để nghe)

VI KHUÊ - Mai Mốt Tôi Về - 1984

Mai mốt tôi về tóc đã bạc
đứng trên cầu cũ, nhìn sông xưa
sông êm như thuở còn tươi mát
mười tám xuân nghiêng nón đợi chờ

Ồ không! thuở ấy mùa ly loạn
chỉ có phà ngang ở bến đò
cô gái qua sông mười tám tuổi
trên đầu đã chít chiếc khăn sô

Thì thế thì thôi, thì lận đận
thì long đong, thì đã lênh đênh
thì như ai đó ngoài mưa lạnh
chìm nổi theo cơn sóng bập bềnh

Thì như ai đó, ngoài phương Bắc
đỉnh nhọn Trường Sơn ứ máu chân
"móc trái tim đau" mà khóc lóc
nỗi niềm gian khổ bốn mươi năm

Thì như ai đó ở phương Nam
nằm mong đêm qua, đêm chẳng tàn
đêm cứ đêm hoài câm bóng nến
lệ người hay lệ nến chan chan


Thì như ai buổi đầu lưu lạc
trâu ngựa quê người tủi tấm thân
"ngày phóng xe làm phu hốt rác
đêm về nằm nước mắt chứa chan"

Thì như ai đó nữa, bây giờ
đứng dựa cột đèn, ngó ngẩn ngơ
dâu bể tan hoang thành phố cũ
thẫn thờ đi những bóng bơ vơ

Mai mốt tôi về, tóc đã bạc
đứng trên cầu cũ, nhìn sông xưa
sông ơi! đá cũng còn cau mặt
mà nước sông sao cứ lững lờ?
 





http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=107&Itemid=45

NGUYỄN LÂN.

Đọc Cuốn Giai Thoại Văn Chương
của Hồ Trường An

Hồ Trường An, một tên tuổi trong làng văn không ai là không biết. Vì có một văn phong khác người, Hồ Trường An có một chỗ đứng đặc biệt trên văn đàn mà chưa một ai dám chen chân.
Khi giới thiệu cuốn Giai Thoại Hồng của họ Hồ, nhà văn Võ Đình đã viết: “Hồ Trường An là một mụ phù thủy đòn phép cao cuờng, đưa độc giả vào cõi hỏa mù”.

Hồ Trường An viết rất nhiều, rất sung mãn với đủ thể loại: truyện dài, truyện ngắn, thơ, ký sự, bút khảo... Với tôi, họ Hồ có một bút pháp độc nhất vô nhị, đầy màu sắc, một lối diễn tả hoa hòe hoa sói, đậm đà, rất ngọt ngào mà cũng rất mặn mòi hương quê. Lối viết của anh chân chất, đượm mùi địa phương mà lại quyến rũ. Đã một lần chót đọc là ta cứ đi tìm bài của anh để tiếp tục ... và tiếp tục đọc!
Văn Hồ Trường An cho ta một cái khoái cảm, nhiều khi đến nổi da gà. Không phải là cái nổi da gà ghê rợn như đọc truyện U Tình của Nguyễn Lân, mà là cái sướng khoái như được ăn một bát cơm gạo đỏ ngọt ngào với những món mắm miền Nam đệm thêm nhiều loại rau thơm ngoài vườn, như được nghe Bà Già Trầu kể những chuyện cà kê dê ngỗng gãi đúng chỗ ngứa.
Trong tập Giai Thoại Văn Chương, Hồ Trường An giới thiệu 8 văn nhân thi sĩ hải ngoại: Việt Bằng, Dư Thị Diễm Buồn, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Phan Khâm, Vi Khuê, Vũ Nam, Trần Bích San, và TiểuThu.
Trong tập bút khảo này, Hồ Trường An dẫn dắt người đọc tới tìm gặp mỗi văn nhân thi sĩ. Sau khi biết dung mạo mỗi vị, Hồ Trưòng An tìm cách khai thác để độc giả biết những gì liên quan tới đời sống của mỗi người.

Khi chúng ta đọc một truyện, xem một bài thơ, yêu thích bản văn, vần thơ làchúng ta tò mò muốn biết văn nhân, thi sĩ đó ra sao, cuộc sống thế nào... những sở thích và cả những mối tình của người mà mình ưa chuộng. Hồ Trường An đã giải đáp thắc mắc của độc giả. Hơn thế nữa, công biên khảo của anh còn giúp ích cho những ai muốn khảo cứu về văn học sử nuớc nhà. Lối “khai thác” của Hồ Trường An rất tinh vi, rất khéo léo, tài tình mà linh động khiến các văn nhân thi sĩ phải “rút ruột tơ tằm”, phải “thổ lộ tâm can”.
Trong 8 nhà văn, nhà thơ trên, vì thời giờ có hạn, tôi chỉ xin lướt qua 3 vị hiện tại có mặt nơi đây. Nhũng giai thoại về những nhà văn, nhà thơ mà chúng ta mến yêu này rất nhiều, xin quí khán thính giả tìm đọc Giai Thoại Văn Chương.

Người đầu tiên, Nữ Sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung.

NTND, nhà văn, nhà thơ, Chủ Nhiệm Tam Cá Nguyệt San Cỏ Thơm đã cho ra đời 2 tác phẩm hồi ký tình cảm rất gần gũi với độc giả, đó là Phượng Vẫn Nở Bên Trời Hà Nội và Sài Gòn Nắng Nhớ Mưa Thương. Hồ Trường An đã để ý tới chị từ 2 cuốn sách này. Thế là anh đi tìm nữ sĩ ND.
Điểm đặc biệt của Hồ Trường An là anh sành sõi về cách điểm trang và cách chưng diện của giới quần thoa. Hãy nghe nhà văn tả nữ sĩ ND: “Chị có cặp mắt hơi nhỏ, nhưng cái nhìn long lanh và bao la vời vợi. Nụ cười chị tươi sáng dưới lớp son màu hồng đào. Hàm răng chị ngắn gọn, đều đặn như hạt lựu và bóng lộn như hạt trân châu”. Theo anh, nữ sĩ ND có khiếu thẩm mỹ về trang phục: “Chị ăn mặc trang điểm không gượng nhẹ mà cũng chẳng mạnh tay, cốt lấy cái sáng mát và tươi thắm cho nhân diện, vóc dáng của mình”.

Đến khi trò chuyện với nữ sĩ ND rồi, anh Hồ Trường An nói: “Chị duyên dáng, lúc nào cũng cười điềm đạm. Nhìn chị, tôi cảm nhận ngay đây là một ý chí to lớn và cứng rắn trong một thể xác nhỏ nhắn mảnh mai. Tiềm lực và ý chí của chị như những hòn than ngún lửa hoài hoài dưới lớp tro mỏng chỉ chờ dịp thuận tiện là khêu bừng bừng ngọn lửa thắp sáng”.
Về văn tài của nữ sĩ, anh nhận xét: “Nhờ óc quan sát tinh nhuệ, nhờ niềm rung cảm sâu sắc nên lối viết bút ký của chị rất tươi, rất hứng khởi. Chị viết văn bằng kinh nghiệm sống chứ không bằng tài liệu chết chóc và khô cứng. Chị không nhồi nhét những vấn đề lớn lao như tôn giáo, xã hội, chính trị, luôn cả thời sự nóng hổi hay các khoa học nhân văn khác vào văn chương. Chị chân thành và khiêm tốn, biết gì viết nấy, không làm dáng trí thức”.
Qua cuộc phỏng vấn, nữ sĩ ND đã thổ lộ nhiều điều. Chị có quân bằng về lý trí và tình cảm dù ở chị có những đam mê, đam mê tất yếu của nguời nghệ sĩ vì ngoài mê viết, chị còn ham vẽ và hát. ND chân thật nói tới cái “tôi” một cách tự nhiên. Một giai thoại lý thú: nữ sĩ ND đã biết rung cảm trước người khác phái khi tuổi mới cặp kê:

“... có hai ông nhà văn trẻ, chừng 21 tuổi, đến thăm ND mới 15. Chàng thứ nhất beau như Robert Taylor, là cựu học sinh Chu Văn An, mới từ Hà Nội vào Sài Gòn. Chàng thứ hai là cựu học sinh Ngô Quyền, Hải Phòng, vừa mãn khóa Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Chàng này có vẻ phong trần, nói chuyện dí dỏm có duyên, dáng dấp Roy Roger của những phim cao-bồi Mỹ. Đôi bạn nhà văn này đã để lại những kỷ niệm sâu đậm trong đời NTND”. Buổi sơ ngộ đó đã khiến cô bé ND lúng túng môi miệng, cuống quýt tay chân, tim nhảy loạn xa như mỗi khi phải lên bàn thầy giáo trả bài!


Nữ sĩ ND đi du lịch nhiều, thấy nhiều. Đó là vốn liếng trong văn chương của chị. Nữ sĩ tâm sự: “Tôi phải tìm thấy một ý nghĩa tốt đẹp, một tâm hồn cao thượng ở một nhân vật nào đó tôi mới hứng khởi dựng thành truyện”.

Theo dõi buổi hàn huyên tâm sự giữa nữ sĩ ND với anh Hồ Trường An mới thấy ND là một người có tư tưởng hướng thượng, một người can đảm, dám sống, giầu nghị lực. Trải qua bao sóng gió trong cuộc đời, chị vẫn vững tâm, vẫn dấn bước...và giờ đây vẫn tiếp tục lèo lái con thuyền Cỏ Thơm trên sóng to gió cả.

Người thứ hai, nhà thơ Phan Khâm.

Hồ Trường An hội ngộ với thi sĩ PK qua xướng họa thơ thất ngôn bát cú trong thi tập Hoài Cảm cùng nhiều thi nhân khác. Khi thi tập Bên Dòng Thạch Hãn ra đời, PK tặng cuốn thơ này cho HTA. Nhìn hình nhà thơ, HTA phác họa:

“Anh hơi vóc nhỏ, nhưng khuôn mặt kết hợp bằng những nét hùng tráng: cằm vuông, chân mày võ tướng hình Thanh Long Đao (nói theo Kim Dung là Lãnh Nguyệt Bảo Đao), cặp mắt sắc, cái nhìn soi bói, nụ cười khinh bạc. Điểm trội nhất trên khuôn măt anh là vừng trán cao, sáng nhuận làm người ngắm nghĩ đến một chân trời mênh mông. Chân trời hàm nhuận biết bao tráng khí, biết bao hoài bão sắt son...”.


Theo HTA: "PK đã tạo được cho anh một thứ thơ không giống thơ của ai. Anh không ngại những ngôn từ vụng dại hay cấu trúc thiếu tinh vi miễn sao thơ anh sáng trưng thần trí sáng tạo tuyệt vời của mình. Do đó, cái vụng dại, thiếu tinh vi trở thành cái ý nhị kỳ diệu, cái duyên dáng bất ngờ:

Con đường cột cây số hăm hai
Dâu bể tang thương tiếng thở dài
Chôn chặt trăm năm tình lủi thủi
Con đường cột cây số hăm hai 
”.


Thật là lẩn thẩn. Thật là luẩn quẩn. Nhưng đầy chất thơ!
Nhưng những câu thơ ẩn dụ của thi sĩ lại rất đa tình, rất khêu gợi và vô cùng hấp dẫn:


Căng tròn hai quả táo
Em bảo của trời cho
Đứng dưới triền mộng ảo
Ngước lên nhìn đủ no
"


hay:
Đường tơ tình tự bướm bay
Nhủ lòng như nhũ hoa đấy tương tư 
”.


Bên cạnh nhà thơ, hình bóng của người hôn phối, chị Phi Hồng mềm mại uyển chuyển với giọng ngâm Huế ngọt ngào. Hình bóng chị Phi Hồng làm tôn vẻ cứng cỏi của anh Phan Khâm. Giọng nhỏ nhẹ của chi càng tương phản với giọng trầm hùng của anh. Sự tương phản đó làm hai nhân vật cùng nổi lên như đôi kiếm thư hùng hỗ trợ cho nhau, quyện vào nhau chặt chẽ.

Qua những lời tâm tình với HTA, Thi sĩ PK là người rất tha thiết với quê hương Quảng Trị, vùng đất nghèo đá đôũ mồ hôi, nơi có dòng sông Thạch Hãn (nguồn cảm hứng của PK), nơi có những câu ca dao câu hò đầy tình tự dân tộc, nơi sản sinh ra những danh nhân, nơi có những địa linh (nhà thờ La Vang, làng Cam Lộ), nơi có những di tích lịch sử (cổ thành Quảng Trị, đại lộ kinh hoàng).

Thi sĩ mê thơ từ thuở còn trẻ. Anh làm thơ ca tụng nét đẹp của trường xưa, vẻ ngây thơ của thiếu nữ, vẻ đẹp của quê nhà. Rời đất nước, PK làm thơ tưởng nhớ tới Quảng Trị, tới Sài Gòn đã mất. Theo HTA, kỹ thuật làm thơ già dặn nhất của PK là thơ Đường Luật xướng họa.

Về quan niệm thi ca, PK có một quan niệm rất đáng yêu: “Thi ca là con suối trong xanh tươi mát mùa xuân, là hoa sen nở hồng mùa hạ, là bông cúc vàng thắm mùa thu, là ánh nến bên giọt rượu nồng sưởi ấm mùa đông... Mạch nguồn thi ca của tư tưởng Việt như mạch máu tuần hoàn chảy về tim, như đàn cá hồi biết tìm về biển mẹ, đưa tất cả những nơi xa xôi bạt ngàn về một điểm hội tụ: nguồn cội Việt Nam”.


Người thứ ba, Nữ Sĩ Vi Khuê

Chị Vi Khuê là một nhà thơ, một nhà văn, một nhà giáo dục.
Biên khảo gia HTA rất kính trọng nữ sĩ Vi Khuê. Suốt bài viết về nhà văn nhà thơ nữ này, HTA đều danh xưng chữ Chị ( chú ý chữ C hoa). Mà cũng phải, nữ sĩ Vi Khuê có một bề dầy văn chương đáng nể ở hải ngoại. Chị là một cây bút đàn chị, viết mạnh mẽ, sung mãn, nguồn cảm hứng dồi dào. Chị làm thơ, viết truyện ngắn, kịch, biên khảo, đủ loại. Mỗi loại đủ thể điệu.


Trong thơ, nữ sĩ đi vào địa hạt tâm linh, tâm tình đượm mùi thiền, tôn giáo. Nữ sĩ còn nghiền ngẫm những thảm trạng nhân loại. Nhưng nữ sĩ không quên tình đất nước, tình gia đình, và đương nhiên... tình yêu đôi lứa.


HTA viết về nữ sĩ VK như sau: Chị đã xây một lâu đài chữ nghĩa không nguy nga thì cũng tráng lệ. Ngòi viết của chị một khi đặt trên trang bản thảo là tung hoành như sư tử hí cầu và chạy thoăn thoắt như thuyền buồm rẽ sóng lướt ra khơi. Thơ VK đã vạch nên một chân trời bẩy sắc cầu vồng lộng lẫy.

Thơ đã vậy, còn văn thì sao? HTA viết: "Lối văn trong sáng như dòng suối chảy thánh thót trên lớp cát vàng óng mịn. Chị viết văn bằng một thái độ ung dung điềm đạm, bằng ánh sáng thiên lương. Chị viết văn bằng sự thăng bằng hòa điệu giữa lý trí và tình cảm. Đôi mắt dò xét thông minh của chị nhìn sâu vào từng lớp sóng phế hưng của lịch sử, vào từng thời cuộc tráo trở, vào từng tấn bi kịch của đời sống, vào từng cái tế nhị phức tạp của con người."

Cuộc bút đàm giữa HTA và VK đã giải đáp những thắc mắc của độc giả muốn đi sâu vào cuộc đời nữ sĩ. Trả lời những câu hỏi, chị VK vẻ rất tự tin với niềm tự hào của một người giầu kiến thức về văn chương, văn học sử nước nhà và ngoại quốc.
Chị là người đọc nhiều, biết nhiều không những văn chương Việt mà còn cả rừng văn hải ngoại. Chị còn chú trọng đến giải Nobel và mong muốn một ngày nao có một tên Việt Nam trong đó.
Theo thiển ý, nhà văn nào càng đọc nhiều, càng biết nhiều thì càng dễ cảm xúc với sự việc và càng hứng khởi trên bản văn, để dòng tư tưởng tuôn xối xả.


Được hỏi về quan niệm sáng tác, nữ sĩ VK cho biết: "Tôi viết, trước hết là vì mình, để tự giải tỏa những ẩn ức, suy tư, đớn đau, khắc khoải. Nhưng, ẩn ức, suy tư, đớn đau, khắc khoải của tôi sở dĩ có là vì người khác, vì những người tôi yêu, tôi thương, vì những điều làm tôi ray rứt, băn khoăn, vì xã hội trong đó tôi sống, vì quê hương như một mối ràng buộc không thể dứt rời. Nữ sĩ tiếp: tôi là ngưòi không chấp nhận quan niệm văn nghệ phụng sự nghệ thuật thuần túy."

Về nhân sinh quan, nữ sĩ cho biết: "Đời là bể khổ, cho nên thái độ của tôi đối với cuộc đời là thái độ xót thương, xót thương vô hạn. Tâm hồn đa cảm và lòng mở rộng thế mà nữ sĩ lúc nào cũng cảm thấy cô đơn. Chị viết tiếp: tôi cảm thấy cô đơn như bạn bè tôi, người Việt Nam vẫn thường, mỗi người cảm thấy mình cô đơn, vì chúng tôi sống trong một xã hội bị phân hóa cùng cực, bởi nhiều khuynh hướng đối lập. Con người thì hiền hậu, nhu hòa, nhiều tình cảm, nhưng cảnh ngộ chiến tranh thì đưa đẩy đến nghi kỵ, chia rẽ, hận thù. Cho nên ngồi giữa chốn đông ngưòi mà cảm thấy hoang vu"

Dưới đây là bài thơ “Hoang Vu”, mênh mông dễ sợ:



Qua đèo nay, nhớ trấn xưa

Hoang vu đồi hạ, đôi bờ cỏ may

Từ bên ấy sang bên này

Con sông vẽ một nét mày bắc ngang

Em về bên ấy sao đang

Tôi thương cổ thụ hai hàng lệ xưa

Cồn hoang dã, bến lau thưa

Trơ thân cỏ dại nằm chờ nước sông 
Cửa trời đã khép đôi khung
Suy tư bước nhỏ ngại ngùng chân em
Dòng ơi, sông nước êm đềm
Trả hoang vu, lại cho mình hoang vu ”.


Một bài thơ tuyệt vời từ ý tưởng, lời thơ cho đến âm điệu như ru hồn người đọc vào cõi... hoang vu, cô đơn cùng cực.

Chị VK rành rất nhiều thể thơ, thơ mới cũng như thơ cổ, Đường thi. Qua cuộc bút đàm với HTA, chị còn cho ta biết nhiều giai thoại lý thú của nhà thơ nổi tiếng Vương Bột.


Chị VK chỉ thích viết truyện ngắn. Chị nói: một truyện ngắn hay, cũng như một truyện dài hay, một tác phẩm nói chung là có sức tác động của nó trên tình cảm, trên tư tưởng của ngưòi đọc, đến độ có thể làm thay đổi phần lớn nếp suy tư, thái độ sống, có khi cả nhân sinh quan, vũ trụ quan của người đọc nữa.

Với những vấn đề lớn, vấn đề hệ trọng mà ít nhà văn nữ quan tâm thì VK lại trầm mình trong những thắm mắc siêu hình, những suy tư triết học, những vấn đề nhức nhối của đất nước, quê hương...
Nữ sĩ VK như muốn dang đôi tay bé nhỏ của chị để ôm gọn vũ trụ! 


Xin trang trọng giới thiệu tới quí vị một cuốn sách hay của nhà văn Hồ Trường An. Ai muốn tò mò tìm hiểu, ai muốn biên soạn 8 văn nhân thi sĩ hiện đại trên, tại hải ngoại, không thể bỏ qua cuốn sách này. 

Xin thành thật cảm ơn quí vị.

NGUYỄN LÂN (bài nói chuyện về Giai Thoại Văn Chương của tác giả Hồ Trường An ngày Ra Mắt Sách tại Tòa Soạn Cỏ Thơm - 7/2006)
NỮ-SĨ VI KHUÊ

TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu CầuTrường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.

Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh, không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á (Radio France-Asie) của Pháp ở Sài-Gòn, nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.
Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức đọc chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá ngoài Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.

Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức, vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn.
Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.  
Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.

Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.
Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng nói trời cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.
Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.
*
Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.
Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT (Phan Mỹ Trúc). Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.
Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.
Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.

Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên (Phan Nhật Hiến) bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị (Bùi Chánh Thời) cũng nhảy lên chiến-khu.
Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.
*
Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya (Ðái Ðức Tuấn) và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.
Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.
Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.
Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.
Tôi đưa Văn Giảng lên thay.
Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.
Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia cầu Trường Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.
*
Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.
Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.
Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.
*
Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh (con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp), mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.
Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác tác-động tinh-thần này.
Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.
Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.

Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.
Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi ổng lái xe ra đón Tố vào:
– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!
Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.
Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.

Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.

Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.
Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.
Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.
Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.
Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.
*
Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.
*
Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.
Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.
Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.

Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận

Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.
Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng  (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh (Tôn Nữ Kim Ninh).
*
Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên. 
Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.
Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.
Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ,  được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.
*
Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.
Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.
Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.
Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Lê Văn Nghiêm.
Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v... trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.
Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.
Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.

Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.
Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.
Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến, Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu (tức cơ-quan Tình-Báo) thuộc Phủ Tổng-Thống; thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.
Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.
Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơnhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”
Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v...

Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.
Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.

Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư...
*
Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.

Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, phù-hợp với nguồn cảm-hứng từ Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu...
Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, Quốc Dân... ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v... ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát phát-hành sách và đặc-san.
Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v...; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v...; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra...
Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.
Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai...
*
Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v...
Do đó, tôi đã liều-lĩnh công-khai nêu lên một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).

Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.
Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu...
Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.
Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.
*
Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một  bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.

Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay...

Giờ đây, tôi trở về Huế lại.
Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng...

Rồi lịch-sử đã sang trang...

Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.
Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang...; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân...; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi...; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên...; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương...

Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ Ðỗ Cẩm Khê của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.
Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca, và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.
Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân...

Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.
Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.
Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.
*
Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm
Thị-Xã, tước mấtngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa...

Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.

Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?
Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.

Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đườngcũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mớisự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi..

When I return, my hair will be white
Looking down from the old bridge at the old brook
Will it still be peaceful as in the young days?
Eighteen-springs, waiting under a tilted hat...

But no! It was a time of disunion and chaos
I remembered at the cross-ferry wait
A girl crossing the river, only eighteen of age
Wearing a mourning scarf around her head

And so it was, it was very tough
It was floating, and fleeting
The lives of those walking in the cold rain
Those struggling to keep staying afloat

The lives of those in the North
Bleeding their feet on the mountainous trail
Yanking their bruised heart out and wept
 Of misery and hardship, a forty-year tale

The lives of those in the South
Waiting for dawn but night stayed around
Night after night with the silent shadow off the candle's light
Hot, were those tears or just candle drops?

The new days of those who drifted
Laboring in foreign land, pitiful as slave horses
"At day, gunning the truck, a coolie collecting trash
Home in the evening, eyes swelled with tears"

The lives of whomever else, today
Leaning by the lamp posts, with foolish eyes
In the old streets destroyed after the havoc
 Lonesome miserable wretches, they walked so tired

When I return, my hair will be white
Looking down from the old bridge at the old brook
Old man river, what's with your slow careless pace
When even rocks are showing scowls on their faces?
http://lexuannhuan.tripod.com/ViKhue.html

http://vyea.com/

>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>


Tình Thầy-Cháu -Chử Nhất Anh Kính gửi Ba Mẹ và Thầy Cô của một thời Văn Học Dalat Đã gần 40 năm xa Dalat, nhưng dường như mỗi ngày tôi đều nghĩ đến cái thành phố thương yêu đầy kỷ niệm mà ở đó trong tôi đã có nhiều... mối tình: Tình quê hương, tình gia đình nội ngoại, tình cha mẹ, tình anh chị em, tình bè bạn, tình cốt nhục, tình sơ giao, tình sông núi, tình cỏ, tình hoa. Nhưng đặc biệt có một thứ tình mà đến ngày hôm nay vẫn thắm thiết và sâu đậm trong trái tim bốn chị em chúng tôi, đó là tình “thầy-cháu”. Từ bé lúc còn học ở trường Pháp bậc tiểu học, gia đình chúng tôi sống ngay trong khuôn viên trường Văn Học. Bốn chị em chúng tôi lớn lên bên cạnh những sinh hoạt đầy màu sắc, mới lạ của trường như thi đua bích báo, văn chương, văn nghệ, thể thao, cắm trại, ciné hàng tháng, phát thanh vào giờ ra chơi, lạc quyên cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc, lễ diễn hành... Xin nói thêm rằng, ngày đó trường Văn Học / Văn Khoa luôn nổi bật trong những dịp diễn hành với những chiếc áo dài vàng đồng phục rực rỡ và với người cầm bảng đẹp nhất của trường thời bấy giờ là chị Phạm Thị Bích Thủy. Hằng ngày chúng tôi nhìn ngắm, thán phục và chiêm ngưỡng các hoạt động của anh chị lớn trong trường như anh Trương Anh Dũng, anh Trương Chí Dũng, chị Phạm Thị Bích Thủy, chị Nguyễn Thị Trung, chị Trương Thị Lệ, anh Nguyễn Sơn, anh Lộc v. v.. và đương nhiên chúng tôi gặp các thầy cô vào ra dạy học. Mỗi lần như thế ba mẹ đều bảo: “Các con chào thầy cô đi”. Vòng tay cúi đầu chào các thầy cô, nhưng trong mắt chúng tôi lúc ấy các thầy cô là bạn của ba mẹ nên chúng tôi xưng là... cháu. Thế rồi bốn chị em chúng tôi đổi qua theo học chương trình Việt ở trường Văn Học vào năm đệ thất, hình như là niên khóa 67- 68. Vào lớp ngỡ ngàng gặp lại các thầy cô, nay uy nghi trên bục gỗ với phấn bảng cầm tay! Chúng tôi bắt đầu thấy thầy cô thật vĩ đại, trong sự ngưỡng mộ tuyệt đối của những đứa học trò ngoan. Đúng như truyền thống đạo đức “tôn sư trọng đạo,” tất cả những điều thầy cô dạy dỗ đều là khuôn vàng thước ngọc cho 70 chúng tôi noi theo. Hơn thế nữa, dường như là những lời giáo huấn thưở xưa đó đã tự bao giờ thấm nhuần vào đầu óc, hun đúc nên con người, nhân cách và sự suy nghĩ của chúng tôi, những học trò Văn Học ngày hôm nay. Bao năm qua, bên tai tôi vẫn còn văng vẳng lời thầy dạy “làm người cho phải đạo làm người”, giọng thầy vang vang truyện Kiều “bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi”, tiếng thầy khí phách Nguyễn Bỉnh Khiêm “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao” và mê mẩn, say sưa với Bạc Tần Hoài: Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa, Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia. Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa. Có một lần thầy dạy Triết của chúng tôi, mà cả trường đều ngưỡng mộ, thầy Nguyễn Minh Diễm, hóm hỉnh hỏi rằng: “Tại sao lại gọi là thầy mà xưng bằng cháu?” Bốn chị em chúng tôi chỉ biết nhìn nhau cười... Cứ như thế, năm tháng trôi đi, chúng tôi dần dà trưởng thành trong tình thương yêu đùm bọc của gia đình; trong văn chương, thơ phú và khoa học của một nền giáo dục đẹp đẽ và tuyệt vời mà nay đã một thời vang bóng. Đời người như bóng câu qua song cửa, một số các thầy cô đã ra người thiên cổ hoặc đã già yếu với tuổi đời chồng chất. Xa quê hương, chúng tôi vẫn may mắn giữ được liên lạc với một số thầy cô và bạn bè của ngày tuổi nhỏ. Trên đất khách quê người, thỉnh thoảng thầy trò lại có dịp ngồi xuống ôn chuyện xưa Văn Học Dalat và lẽ dĩ nhiên không quên câu chuyện thầy-cháu. Bây giờ tôi đã lớn và đã hiểu rõ ý nghĩa của nó, đó là một thứ tình cảm thiêng liêng, trân qúy đã hiện diện tự bao giờ trong vô thức tuổi thơ của chị em tôi, một thứ tình cảm không chỉ giữa thầy trò mà còn là sợi dây gắn bó giữa người thân, của những người cô chú bác và các cháu thân yêu. Cùng các bạn Văn Học, Đã 40 năm qua...thời gian sẽ cứ thế mà trôi. Có lẽ một ngày nào đó không xa, chúng ta sẽ không còn có cơ hội và khả năng để níu kéo kỷ niệm được nữa. Hôm nay viết những dòng chữ này, hy vọng lưu lại một chút Văn Học xưa. Mai kia sẽ có ngày gặp lại, sẽ cùng ngồi bên nhau mở từng trang kỷ niệm của một thời đẹp nhất trong đời. Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương cũ, so tơ phím này. 


>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
Trong Giai Thoại Làng Nho của Nhị Anh có viết: “Mình phải muốn, cái muốn sẽ có sức thu hút khởi đầu cho mọi chuyện.” 

Những Con Đường Ký Ức thời Văn Học -Chử Nhị Anh Hồi đó bốn chị em chúng tôi học Trung Học ở trường nhà. Trường Văn Học do ba tôi thầy Chử Bá Anh làm hiệu trưởng. Trường Văn Khoa thì mẹ tôi làm hiệu trưởng. Mẹ cũng là nhà thơ Vi Khuê. 1973-1974 - Học lớp 12 - đệ Nhất - Văn Học 1972-1973 - Học lớp 11 - đệ Nhị - Văn Khoa 1971-1972 - Học lớp 10 - đệ Tam - Văn Khoa 1970-1971 - Học lớp 09 - đệ Tứ - Văn Học 1969-1970 - Học lớp 08 - đệ Ngũ - Văn Học 1968-1969 - Học lớp 07 - đệ Lục - Văn Học 1967-1968 - Học lớp 06 - đệ Thất - Văn Học Năm 1971, thầy Hiệu trưởng xin được viện trợ của cơ quan USAID xây và mở trường Văn Khoa ở số 9 đường Phan Chu Trinh. Hồ Than Thở chỉ cách đấy có 2 cây số (nhìn theo bản đồ Googlemaps.com) mà hồi đó cảm thấy như chân trời góc bể! Ba năm 1971-1973, chúng tôi học ở Văn Khoa. Năm đệ Nhất trở lại Văn Học vì VK chỉ mở từ đệ Tứ đến đệ Nhị mà thôi. Năm ấy tôi và Tam Anh học lớp 12B cùng với Sơn Đen, còn Nhất Anh Tứ Anh học 12A - sinh vật học. Tháng Sáu 1974. Năm cuối cùng. Chúng ta thi Tú Tài IBM. Nhà trường dán bản kết quả sớm nhất thị xã. Tôi còn nhớ cảnh hàng trăm học sinh và cha mẹ bu quanh cửa sổ nhỏ xíu của trường Văn Học, nói lớn tên và bên trong ông thư ký là cụ Đinh Tình và vài người giúp dò trên danh sách. Ai đậu thì sung sướng hò hét, còn kẻ rớt thì cha mẹ nước mắt dầm dề, lo cho con trai phải vào lính vân vân. Tại sao không dán danh sách vào trên tường để coi chung nhỉ? Giản dị thôi: Hồi đó không có nào sao bản ngoại trừ chép bằng tay - không có máy xerox! Danh sách này là cả Dalat chớ không chỉ trường Văn Học, có lẽ đến mấy trăm tên. Danh sách ở đâu ra? Thầy HT kêu điện thoại về Saigon nhờ người quen chép lại từ bản công bố ở bộ Giáo Dục. Thế nào cũng có trường hợp chép tới lui sai lên sai xuống. Nhưng sau vài ngày thì có danh sách chính thức. Hình như lúc đó đệ Nhất đã trở thành lớp 12. 26 Mùa Hè 1974, những buổi liên hoan cuối khóa hình như có gì rời rạc. Cả thằng ngu ngơ không tư lự như tôi cũng cảm thấy có gì thê lương. Phải chăng vì nạn nước sắp đến, hay vì tin bạn X vừa chết trên chiến trường, bạn Y thi rớt lên đường vào Thủ Đức, những buổi học cuối lớp học vắng hẳn. Tuy vậy lớp học vẫn còn vang vang tiếng nói cười của Sơn Đen và giọng Bắc chua chua của PhạmThị Mai Anh (12C - Sinh Ngữ). Hai người này chủ xướng một buổi picnic tại thác Prenn. Chúng ta đèo nhau trên những chiếc Honda, Yamaha, Kawasaki, Suzuki, hoặc sang nhất là Huỳnh Quốc Hùng “Con Cua” phom phom như anh hùng xa lộ. Tôi chỉ nhớ một phút duy nhất có năm bảy người quây quần nhảy nhót trên những tảng đá tròn tròn khổng lồ giữa tiếng thác đổ ầm ầm, Mai Anh nói mấy câu chọc ghẹo gì làm có người ngẩn ngơ, không những hôm cuối cùng ấy mà cả đến 2013- 1974=39 năm sau vẫn còn nhớ mãi. PTMA người cao gầy, hay mặc áo mưa kiểu tây màu xam xám - hình ảnh đậm trong trí nhớ của tôi là cô nàng đi lưng hơi khòm khòm ở cuối dốc đường Duy Tân đi lên. Mấy chục năm nay, tôi vẫn nhớ đến cô ta và ít nhất hai, ba lần tìm kiếm trên Internet - nhưng không thấy tăm hơi. Biết đâu con tạo xoay vòng, vì bài viết này tôi sẽ nhận được một cái email, viết: “Ối giời, hôm ấy tôi nói đùa vậy mà cũng vui nhỉ!” Mùa Xuân năm nào, có hình ảnh Phan Kim Thanh Thủy mặc áo đầm cầm cái vợt tennis. Cái mặt cô này tôi nhận ra ngay vì có ảnh TT tặng chị tôi mỗi khi nhìn lại hình ngày xưa. Không biết sao tôi vẫn nghĩ TT học trường Tây ra. Biết đâu con tạo xoay vòng, PKTT gởi email viết: “Ối giời, hồi xưa anh này đẹp trai học giỏi con nhà giàu,” hoặc thực tế hơn: “Ối giời, hồi ấy anh cứ như con khỉ nhảy tưng tưng phá phách không thể tả!” hoặc “Ối giời hồi ấy chẳng nhớ cái mặt anh này ra sao, nhỉ!” Không biết tôi có nhớ lầm không: nhà TT đi đường Hoàng Diệu ngược lại hướng ra phố. Đường Hoàng Diệu đi khoảng 400 thước tới đường Yagút, đi lên dốc thì tới nhà TT. Tại sao tôi lại nhớ rõ như thế nhỉ? Có thể trật bét, nhưng tự nhiên gắng nhớ lại thì nhưng chi tiết trên tuôn ra! PKTT bây giờ mang tên “Sonia” như nữ thủ tướng Ấn Độ, ấn tượng lắm. Vườn cây năm nào ngồi vắt vẻo trên những cây ổi nhà Đỗ Thị Thu. Ở chỗ nào tôi chẳng nhớ rõ, hình như khá gần cái “a ba toa”. Cái nhà sát sinh này từ trường Văn Học đường Hoàng Diệu đi ra phố, quẹo tay phải đường không tên (bên trái là đường Hải Thượng) đi ngang qua cái cầu kiên cố rồi trường Việt Anh là tới chân đường Duy Tân, quẹo phải vào đường Lê Quý Đôn. Nếu tới chút nữa là đại lộ Hùng Vương. Nhà ĐTT hình như đâu khoảng có. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, nhưng nhớ sơ sơ tơ lơ mơ vậy chắc cũng đủ trả nghĩa ổi. Với lại hồi đó mười hai mười ba răng hư đau quá xá cũng vì ăn ổi mà ra. Chị tôi có liên lạc được với ĐTT. Biết đâu con tạo xoay vòng, chuyện hồi xưa vui lắm khi nào gặp ta bàn: bạn thân của Nhất Anh từ đệ Thất cho đến lúc ra đi 1975, chúng ta có biết bao kỷ niệm. Tức cười nhất là năm đệ Thất (1967), DTT bị Nhất Anh tưởng là học trò của xóm đạo La Vang. Tôi nhớ đăm đăm hình ảnh cô bé tóc bới với hai cái kẹp hai bên trông rất khôi ngô, cầm cái nón lá, áo dài trắng và áo len xanh tím - đồng phục học sinh Dalat đấy thôi! Nếu đi ngược lên dốc Duy Tân, trên đầu dốc bên phải là tiệm thuốc bắc tên gì quên rồi nhưng vẫn gọi là “con Cua” là tiệm của ba mẹ Huỳnh Quốc Hùng, ba tôi vẫn vào đó mua Salonpas là cao dán, bây giờ bên Mỹ các tiệm Việt hay Đại Hàn vẫn còn bán, y hệt như hồi xưa. Tôi nhớ có bán kẹo ho tây viên hiệu Pulmoll màu nâu thơm lừng ở trong cái hộp thiếc bằng hai hộp 27 diêm. Có bán nhân sâm có lần thấy mà toát mồ hôi vì trông như ông già tí hon! Anh chàng HQH CC này nhớ mài mại giống như các tài tử xi nê Hồng Kong hồi đó, mắt kiếng đen bự xư. Năm đệ Tứ biết lái xe Honda. VN chẳng biết có luật lệ gì không mà 14 tuổi mà được lái nhỉ? Một vài buổi chiều lái Honda từ Văn Học về nhà mới ở 30 Nguyễn Du thì đi ngang qua bờ Hồ Xuân Hương, có thoáng thấy người bạn cùng lớp tên Ngọc Hương - mặc áo len màu hồng xinh xinh đi bộ về nhà quãng đường Trần Quốc Toản gần tới nhà Thủy Tạ. Ước gì hồi đó cả gan đi rà rà theo nói chuyện như trong bài thơ của Phạm Thiên Thư “Anh theo Ngọ về, gót giày lặng lẽ đường quê!” Thực tế là: giả bộ tỉnh bơ lái xe cái vù qua, bụng nghĩ, úi cha cô nàng đang ngưỡng mộ cái lưng của tui. Biết đâu con tạo xoay vòng, cô Hương này gởi email, viết: “Đúng, hôm đó tôi có thấy anh lái xe Honda qua, foula phất phới trông cứ như tài tử Tàu.” Đường Trần Quốc Toản đi tới chút xíu rồi quẹo tay phải ngược lên là đi vế phía nhà thờ Đức Bà. Hồi đó có lần tôi ghé thăm người bạn tên Bùi Thanh (chụp hình đứng cạnh T.A. năm đệ Ngũ quyên tiền) nhà ở đâu đó. Thanh người nhỏ con mà học toán giỏi đáo để. Tôi còn nhớ một bạn lớp đệ Nhất B là Nguyễn Hoàng Sơn tục gọi là Sơn đen. Sơn Đen này rời vào năm 1975 rời VN sang Pháp. Tôi gặp lại ở Virginia và nam California mấy lần. Khoảng 1990 Sơn lêu phêu từ Pháp qua với bằng kiến trúc sư tốt nghiệp École Nationale Supérieure des Beaux-Arts là một trường nổi tiếng thế giới, nên đào tạo ra những kẻ khác người. Sơn mặc bộ đồ đen bằng NHUNG (corduroy) tự anh ta cắt và may lấy, cái vest có túi trên túi dưới túi trong túi ngoài nhét đầy những bút chì, cọ, sách trắng để vẽ. Thăm vùng thủ đô, Sơn phác họa hàng mấy chục trang cơ cấu các tòa nhà hay tượng hình nổi tiếng. Tôi có xin một cuốn ngắm nghía. Lần cuối thấy ở dưới hầm nhà cũ. Sơn bây giờ nhảy sang nghề địa ốc, nhưng ước mơ hướng về mỹ thuật giờ còn không? Dalat, 1963 Năm chục ngàn cư dân. Hai mươi lăm trường đại học, tiểu học, dân sự, quân sự, Tây Ta. Gồm có đại học Dalat, trung tâm huấn luyện cảnh sát (Gendarme Training center,) trường đại học quân sự, trường Võ Bị quốc gia Dalat, viện Y Tế Pasteur, trường trung học Trần Hưng Đạo cho nam sinh và Bùi Thị Xuân cho nữ sinh, trung học tư thục dạy tiếng Pháp có Lycée Yersin và Couvent des Oiseaux, một nhà trẻ của chính phủ, trường tiểu học Lasan Adran của các tu sĩ dòng Jesuit, và trường tiểu học Yersin. Trường trung học tư thì có Hiếu Học, tiền thân của Văn Học, Việt Anh, Trí Đức (của Công giáo), Bồ Đề (Phật giáo). Ngoài ra còn có các trường công tiểu học Đa Nghĩa, Phan Chu Trinh, Tây Hồ, Đoàn Thị Điểm, trường của các soeur Nazareth. 28 Dalat thừa hưởng một hệ thống đường sắt, có đoạn lên dốc 75 độ, xe lửa khi đi lên có móc điện rachet gắn dưới đường mới ì ạch từng nấc một mới lên nổi. Ai đã bỏ công gầy sức tạo dựng như vậy? Hệ thống độc nhất vô nhị này nghe nói thị xã gần đây bán lại cho một hãng nước Thụy Sĩ, họ chở nguyên các đường rầy máy móc mang về đó xài! Không biết ai là bờm ai là phú ông trong giao dịch này! Dalat thừa hưởng hai sân Vận Động tân tiến, một sân cù đẹp nhất thế giới (thời đó), ba rạp xi nê. Dalat có hai mươi bốn nhà chùa, nhà thờ. Dalat có một thư viện thành phố và là nơi tọa lạc Viện Thư Khố quốc gia. Tại sao thành phố nhỏ xíu này lại có những cơ sở lớn như vậy? Dalat có ba dinh Tổng Thống (trong bản đồ của Mỹ năm ấy gọi là Presidential Palace) mà ta gọi Dinh một Dinh hai Dinh ba. Hai phi trường lớn hoạt động cả nắng và mưa, Cam Ly và Liên Khương. Hai nhà máy nước và hai máy điện. 1963! Còn có một cơ sở mang tên Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc, vào năm 1963 chẳng biết có kỹ sư nào làm hạt nhân đụng leng keng gì trong đó không? Hỏi: Tại Sao? Đáp: Cái vụ nguyên tử là do Mỹ muốn dằn mặt cộng sản, nhưng kho tàng Dalat thì từ một mưu đồ đế quốc của người Pháp, muốn biến Việt Nam, Cam Bốt và Lào thành một thuộc địa gọi là “French Indochina”, mà Dalat chính là Thủ Đô. Trường Trần Hưng Đạo Trên bản đồ 1963, tôi thấy trường THĐ nằm ngay trên mé đông của hồ Vạn Kiếp và trông có vẻ là một khu biệt lập. Chị tôi vẫn kể vanh vách qua bao nhiêu năm, chuyện hồi chúng tôi còn nhỏ xíu khi ba mẹ mới di cư từ Huế vào Dalat, ba đi dạy tại trường Trần Hưng Đạo. Hồi bé, chị Nhất Anh và thằng em 3 tuổi là tôi thường hay đứng ở dưới thang cấp ở cổng trường đợi ba về. Có một ông Cha vui vẻ thân thiết với chúng tôi, mỗi chiều ông đi ra, hai đứa vòng tay rạp mình chào: -“Chào ông cha daaaaaaaạ…” Tôi nhe răng cười nghe chị kể là hồi đó tôi thường núp sau thang cấp bê tông, thấy ai ra thì nhảy ra hù, dơ súng hai tay: -“Pằng pằng, pằng pằng…” Trường Trần Hưng Đạo bây giờ đã bị phế bỏ, ngay cả hồ Vạn Kiếp cũng đã lấp đi. Ta không khỏi ngậm ngùi nhớ đến những bài Việt Văn xưa, thầy Phạm văn An giải thích hai chữ “tang thương”: -“Tang: Tang điền là ruộng dâu. Thương: Thương hải là biển khơi, biển rộng. Ruộng dâu biến thành biển khơi.” Phải buổi giao thời, kẻ chiến thắng đã nghiến răng làm việc đội đá vá trời để dập vùi chí khí của người con trai Dalat? Sân Vận Động Thống Nhất Phía Đông Bắc hồ Xuân Hương là sân vận động thành phố, cái gần cạnh nhà Thủy Tạ. Chỉ nhìn cái vòng bầu dục trên bản đồ tôi cũng bị tràn ngập những hình ảnh của một thời đại vàng son. Trong thời đệ nhị Cộng Hòa, từ 1966 cho đến 1973 hay sau nữa, chính phủ tổ chức rầm rộ ngày Quốc Khánh 1 tháng 11 mà thích thú nhất là màn diễn hành của học sinh sinh viên của trường học, chung với các tổ chức quân sự. Tôi vẫn nhớ trường Văn Học của chúng ta tập họp cùng với các trường bạn ở trên đồi cao gần trường Trí Đức, gần ngã ba Bá Đa Lộc/ Trần Hưng Đạo. Theo kiểu Thế Vận Hội, mỗi trường được 29 dẫn đầu bởi một học sinh mang bảng tên trường, tiếp theo là người mang cờ quốc gia, và sau đó là các nam sinh nữ sinh mặc đồng phục, đi đều theo tiếng trống kèn quân nhạc. Các đoàn theo nhau tiến vào hội trường Thống Nhất, nhìn lên đài có hàng trăm ngàn khán giả chờ đón. Nữ sinh các trường thường mặc áo dài trắng, quần trắng. Có một năm trường mình phá lệ, tất cả con gái Văn Học mặc áo dài màu vàng, “vàng chanh,” tôi nghe phảng phất tiếng Mẹ tôi nói bên tai. Có năm con gái Văn Học mặc áo dài xanh da trời. Lại có năm, như Huyền Ma Soeur nhớ, chỉ có một người con gái duy nhất cầm bảng tên trường, phía sau là các nam sinh mặc complet đen, áo sơ mi trắng. Mấy năm liên tiếp, người cầm bảng tên “Văn Học” là Phạm Thị Bích Thủy, người con gái đẹp nhất trường và có lẽ của cả Dalat. Tôi nhớ rõ mồn một chi tiết quanh cái cờ. Cán cờ bằng nhôm mạ kền láng bóng, đặt vào một cái bao trông như bao súng bằng da, có dây treo quanh vai. Đỉnh cờ có một cái đầu sắt màu vàng mạ kền, nhọn, hình con thoi nhưng có góc cạnh. Sân Vận Động chính thằng tôi cũng đã có dịp nhảy nhót trong đó. Tôi nhớ lắm, vì cái cảm giác hụt hẫng sau khi chạy cả tiếng đồng hồ trong sân trong một trận đá bóng, mà chân tôi chỉ đụng quả bóng có một lần duy nhất! Sở dĩ như vậy vì nhờ “quen lớn” nên thằng bé 13 tuổi này mới được có mặt trong trận đấu giữa hai đội bóng người lớn! Vài năm sau đó, cũng tại vận động trường Thống Nhất có một trận đấu giữa trường Văn Học và trường Trần Hưng Đạo. THĐ là trường nam lớn nhất thị xã và năm này qua năm khác luôn luôn không có đối thủ ngang hàng, bởi thế nên kết quả trận đấu hôm ấy làm tất cả mọi người choáng váng. Tôi nhớ đội Văn Học thắng với tỷ số 7-1 hay gì đó, rất chênh lệch. Đó là nhờ trong đội VH có bốn, năm người Thượng. Họ rất khỏe và nhanh, quả thật là những lực sĩ thiên bẩm – chẳng khác gì người da đen ở Mỹ. Các anh Ha Rang, Ha Nhưng, Ha Kha này học Văn Học 2 (Văn Khoa) mà lại đấu cho đội mang tên Văn Học, xảy ra một tranh chấp ngoài sân còn gây cấn hơn. Làm tôi nhớ đến câu này mẹ tôi từng nói: “Văn Học Văn Khoa, hai trường cũng đầy văn học cả!” Sau trận đấu buổi chiều, học sinh Trần Hưng Đạo vây quanh trường Văn Học ở số 4 Hoàng Diệu, cả trăm người. Trường VH nằm ở trên ngọn đồi, muốn lên phải dùng thang cấp 120 bước. Cửa trường đóng lại. Hôm trước gần đây, tôi có nói chuyện được với anh Đình Hùng từ Sidney, anh ta cũng nhớ giai thoại này, chúng tôi cùng chắt lưỡi như hai con thằn lằn. Thầy hiệu trưởng một mình đi xuống 120 cấp thang, đi vào trong đám hỗn loạn ấy, gắng thuyết phục các học trò giải tán, vì lúc đó họ bắt đầu ném đá từ dưới đường lên, rơi trên mái tôn nghe lộp độp. Hôm ấy, ba tôi trở lại, sống nhăn răng! Tôi nhớ áo ba bị rách. 


Thầy Chử Bá Anh – Đỗ Thị Hồng Memorial weekend May 27, 2013 Tôi có duyên học ở trường Văn Học chỉ có hai năm, nhưng trong hai năm đó là hai trong những năm vui nhất trong đời học sinh của tôi, nó cho tôi đầy ắp những kỷ niệm, và những kỷ niệm này đã ăn sâu vào ký ức. Sau khi thì rớt tú tài 1 - trước đó tôi học trừơng Trí Đức - nghe Mùi em gái đang học trường Văn Học nói: -“Trường VH có lớp đặc biệt dạy cho những người đã từng trợt vỏ chuối đó.” Nghe thế tôi muốn lên trường để tìm hiểu thêm. Tôi đón xe đò từ Cô Giang lên bến xe đò ở chợ Dalat, rồi đi bộ xuống dốc Duy Tân, ngang qua trường Việt -Anh quẹo trái đường Hoàng Diệu, đây rồi trường VH nằm trên đồi, phải leo lên những bậc tầng cấp cao mới vào sân trường. Tôi còn đang lơ ngơ nhìn, thì thầy Chử Bá Anh từ trong cửa văn phòng bước ra, ông hỏi thăm và tự giới thiệu: -“Tôi là Chử Bá Anh, hiệu trưởng của trường Văn Học.” Tôi chào Thầy. Tôi đã nghe tên lâu, nhưng hôm đó mới hân hạnh được gặp thầy. Ông mặc bộ đồ vest màu đen, thắt cravate áo chemise màu trắng, thầy trông rất đạo mạo mà rất dễ thương. Thầy hỏi tôi cần sư giúp đỡ gì? Sau khi nghe tôi “ca bài con cá nó sống vì nước” về tình cảnh của mình, thầy giới thiệu lớp đệ Nhị học lại, sau đó thầy nói sơ qua về lớp học đặc biệt này, lần đầu tiên mở để đón nhận những học trò ở Dalat đã từng “qua cầu gió bay” như tôi, lớp học nầy tên là Nhị B2. Ông nói thêm: -“Vì lớp nầy đặc biệt cho những em đã từng học qua lớp đệ nhị rồi, nên thầy cô giảng dạy sẽ khác hơn lớp đệ nhị bình thường.” Sau đó thầy giới thiệu tôi sang bác Tình làm trong văn phòng làm thủ tục hồ sơ để tôi nhập học lớp 2B2 và tôi có duyên với 32 trường Văn Học từ ngày đó. Lớp 2B2 năm đó xác xuất thi đậu rất cao, tôi nghĩ khoảng hơn 90%. Thầy Chử Bá Anh là một người rất hoạt bát, tiếng nói của ông sang sảng uy nghi, đặc biệt là mỗi lần đứng trước đám đông ông ứng khẩu, chứ ông không “đọc” diễn văn, ông đứng trước micro và nói với giọng của người Bắc, giọng của ông thật hay, mạnh và lôi cuốn sự chú ý của người nghe. Thầy Chử Bá Anh còn có biệt tài nữa là ông nhớ tên của tất cả các học sinh, tên cha mẹ và chỗ ở nữa, có lần trong rạp Hoà Bình vào buổi sáng thứ Ba của mỗi tháng, trường có cho tất cả học sinh đi xem ciné, vì trong rạp còn tối, và tôi còn đang kiếm chỗ ngồi, ông rọi đèn pin và nói to: -“Đỗ Thị Hồng làm gì còn đứng đó mà chưa ngồi xuống”. Quê quá, tôi phải kiếm chỗ ngồi xuống cho lẹ. Thầy Chử Bá Anh trong việc giáo dục, ông chọn những thầy, cô giáo giỏi và nổi tiếng để vào dạy cho học sinh. Mỗi năm vào kỳ thi tú tài, thầy liên lạc về Bộ Giáo Dục, mang danh sách những học sinh của Đalat thi đậu và thông báo sớm nhất thành thử học trò ở Dalat mặc dầu không phải là học sinh của trường, cũng đã hơn một lần đặt chân đến trường Văn Học. Ông còn lo giấy tờ hoãn dịch cho các nam học sinh, để còn được đi học cho đến lúc thi tú tài. Ông cũng nâng đỡ các học sinh thiểu số vào học trường Văn Khoa và Văn Học. Thầy tổ chức những cuộc thi thể thao mời các trường khác đấu giao hữu, và thầy cũng gửi những học sinh của VH đi dự thi thể thao khắp nơi. Mùi em gái tôi cũng là một trong những lực sĩ gà của trường VH. Mùi đi tranh giải chạy 100 thước thi với trường Couvent des Oiseaux, tôi còn nhớ tôi đi cổ võ cho gà nhà, và gà đứng cổ võ thì hồi hộp và run lẩy bẩy như “cầy sấy” mặc dầu không có thi, lúc chờ tiếng súng bắn báo hiệu, cặp chân của tôi như muốn gập xuống. Sau khi tiếng súng báo hiệu chấm dứt tôi mới hoàn hồn thì Mùi đã chạy về tới đích với giải nhất, tôi rất vui mừng và cảm thấy nhẹ nhõm như mình đã thắng vậy. Sau đó thầy Chử Bá Anh thuê huấn luyện viên tập dợt cho đoàn “lực sĩ” của VH để xuống Phan Rang thi, Mùi đoạt giải hạng ba 100 meter huy chương đồng cho toàn vùng. Chắc tại không có gà nhà đi hỗ trợ tinh thần. Bước vào cửa văn phòng của trường VH, thầy triển lãm vô số những cái cúp, thành tích của học sinh trường VH. Ngoài việc trí dục, đức dục thầy còn lo những vấn đề giải trí và xã hội nữa. Về giải trí như đã nêu trên mỗi tháng ông cho tất cả các học sinh của trường đi xem ciné. Sau khi xem ciné xong, thì có mục trình diễn tự do. Tôi nhớ một lần, có cô học sinh tên Thanh học lớp Nhị A từ Saigon lên học ở Dalat. Người miền nam, lên hát bài tân cổ giao duyên “Gạo Trắng Trăng Thanh” thật hay, lúc cô xuống giọng sáu câu, cả rạp vỗ tay gần như rạp muốn nổ tung. Thời bấy giờ nếu có Karaoke chắc tôi cũng xin ghi danh đấy. Tôi nghĩ chỉ có trường VH mới có những chương trình như thế thôi. Giờ ra chơi thầy cho học sinh nghe nhạc. Thầy cũng mời đoàn văn nghệ sinh viên Tiên Rồng từ Sàigòn lên Dalat để trình diễn cho chúng tôi xem. Ban Tiên Rồng trình diễn thật hay và đặc sắc, lo cho một đoàn văn nghệ mấy trăm người từ Sàigòn 33 lên, thầy lo chu đáo cho họ chỗ ăn chỗ ngủ, phương tiện di chuyển, đó không phải là chuyện nhỏ. Thầy còn tổ chức những buổi cắm trại cho chúng tôi nữa. Tôi còn nhớ buổi cắm trại đêm ở trường Văn Khoa, lúc ấy trường Văn Khoa còn đang xây dở dang. Về mặt xã hội, mỗi lần trong nuớc có vụ tai ương như lũ lụt cáp duồn từ Campuchia, thầy hăng hái tổ chức cho chúng tôi là những học sinh đi quyên tiền để giúp đỡ người bị nạn, tôi còn nhớ thầy chở chúng tôi lên tận những khu xóm xa xôi như ấp Đa Thiện để quyên góp, rồi thầy lại đón về. Trường VH là một trong những trường quyên góp nhiều nhất và đóng góp nhiều nhất trong quỹ từ thiện ở Dalat. Thầy Chử Bá Anh rất dễ thương nhưng cũng rất nghiêm khắc, học sinh nào phạm kỷ luật là thầy cho ăn roi mây. Giờ học mà học sinh nào đi lang thang trốn học, hay vào quán bi da, ông lái xe đi ngang, ngừng lại, “a lê hấp” thầy “hốt” lên xe chở về trường ăn roi mây và bắt về lớp học. Anh con trai nào theo thời trang để tóc dài theo kiểu ca nhạc sĩ của ban the Beattles thì thầy gọi lên văn phòng, ông cầm cái kéo, sớn một lằn từ dưới gáy lên tận đỉnh đầu, và từ đó thì “mái tóc thôi bay”. Thầy Chử Bá Anh và cô Vi Khuê đã chọn màu vàng cho bọn con gái chúng tôi làm đồng phục, màu vàng sang trọng, đẹp nhẹ nhàng nổi bật với chiếc quần đen, tôi cũng đã mặc áo dài vàng di diễn hành của trường VH ngày nào, vì màu áo vàng sáng ngời được mặc bởi những cô học sinh ngây thơ xinh đẹp, tôi đoán, chắc có nhiều anh chàng đã “về yêu hoa cúc” từ ngày đó. Nhà tôi ở Cô Giang xa trường, thường đứng đón xe đò đi học, nên mỗi lần thầy đi ngang qua và cho tôi quá giang đến trường nên tôi có dịp được truyện trò với thầy nhiều. Tôi không nhớ năm nào trong khoảng thập niên 80, tôi có dịp được nói chuyện thăm thầy cô lúc đó ông đang làm CBA News ở Washington DC. Con tạo xoay vần, người đi kẻ mất, tôi viết lên vài dòng để tưởng nhớ và cám ơn đến vị thầy khả kính, đã bỏ công lao xây dựng lên những ngôi trường nổi tiếng ở Dalat và đã đào tạo ra hàng ngàn học sinh hữu dụng. Cầu xin ơn trên cho ông được siêu thoát, và cũng cầu chúc cho cô Vi Khuê được nhiều sức khoẻ. Thành kính, Đỗ Hồng thay mặt cho gia đình và anh chị em. Đỗ Viên Thông, Đỗ Mùi, Đỗ Thế Quang.  Giã Từ Dalat -Đỗ Thị Hồng Tháng Ba ngày 23 1975 là một ngày bao năm tôi vẫn nhớ, vì ngày đó là ngày tôi rời Dalat, nơi tôi được sinh ra và lớn lên trong hạnh phúc và tình thương yêu của cha mẹ và anh chị em. Mùa Xuân Năm 1975, tôi vừa chập chững làm cô giáo mới, ra trường khoảng 4 tháng trước đó nhưng vì không muốn nhận nhiệm số ở những nơi xa hơn Dalat như Bảo Lộc, Tùng Nghĩa nên tôi và một số bạn ráng chờ, rồi cũng được bổ nhiệm dạy ở trường tiểu học Sào Nam cũng không xa thành phố Dalat lắm, trường nằm giữa đường đi từ Dalat xuống Trại mát, trường được xây cất ở giữa thung lũng của Ấp Sào Nam. Từ trên đường cái muốn tới trường phải đi xuống một còn dốc dài. Cái duyên mặc 34 dầu ngắn ngủi chỉ khoảng ba tháng làm cô giáo cũng còn trong tôi những kỷ niệm đẹp. Vào dịp Tết năm đó, tôi được “Chú Sĩ” lì xì. Thực ra chú đã lên chức vị thầy rồi, chú tu ở chùa Linh Sơn, vì cùng học chung lớp với cô em, nên chúng tôi quen gọi là chú. Tết năm đó tụi tôi đòi chú lì xì bằng cách xem chỉ tay, đến lượt tôi, chú nói: - “À, bàn tay này có số đi xa, cuộc đời sẽ thay đỗi nhiều lắm, lắm...” Tôi nghĩ chắc mình sẽ xa nhà vì đi dạy học xa và thay đổi thì chắc rủng rỉnh có tí tiền còm làm cô giáo. Tưởng như cuộc sống sẽ bình lặng như thành phố tôi đang ở, nhưng sau Tết tất cả đều thay đổi, những cơn biến động dồn dập xảy ra như tin Ban Mê Thuột đã đi tản làm cho tôi cũng như bao nhiều người chung quanh hoang mang lo sợ. Một hôm khi đi dạy về, tôi thấy hàng xóm lao xao, người chạy ngược chạy xuôi để tìm đường di tản. Mở radio nghe thì nghe ông thị trưởng tuyên bố Dalat di tản, nhìn quanh đầu đầu cũng thấy người ta hốt hoảng mang theo đồ đạc để rời Dalat đi về Saigon, Phan Rang hay Nha Trang, gia đình tôi không đi đâu hết nhưng khi nhìn thấy hàng xóm bỏ đi gần hết tôi cũng thấy sốt ruột, lúc bấy giờ mẹ tôi, hai bà chị và anh lớn đang ở Saigon, người em trai đang bị thương nằm ở bệnh viện Cộng Hòa ở Saigon, còn lại Ba tôi, tôi và bốn người em nữa đang ở Dalat. Thằng em trai đang học lớp 12, vì lo sợ cho nó nên có người hàng xóm về Phan Rang và có con là bạn học với em trai tôi, nên họ cho nó đi cùng. Nhà chỉ còn lại ba tôi và mấy chị em gái. Thằng em trai đi rồi tôi cũng bớt lo lắng, nhưng gia đình bỗng nhiên phân chia, ly tán. Mẹ tôi ở Saigon nghe tin tức bảo Dalat chạy loạn cũng nóng ruột không biết gia đình ở Dalat như thế nào nên bảo ông anh về Dalat xem. Biết được em trai đã đi về Phan Rang ông lại phải lặn lội xuống Phan Rang đi kiếm, vậy mà may sao cũng kiếm được. Ba tôi và ông anh quyết định cho em trai và hai người em gái nhỏ đi theo anh về Saigon. Ba và hai người con gái ở lại. Ông định: nếu có chuyện gì thì ba cha con lo liệu. Thấy hai đứa tôi xếp những bộ đồ đẹp nhất nhét vào vali, anh bảo tụi tôi: - “Bây giờ xách vali thử xem đi được mấy bước?” Và ảnh chỉ dẫn, dặn dò cách mưu sinh thoát hiểm trong trường hợp phải đi trong rừng, dù sao ảnh cũng đã từng đi lính Lực Lượng Đặc Biệt. Tháng Ba. Dalat lúc này càng hoang vắng hơn, nhất là những buổi chiều, không khí cô tịch bao trùm một sự yên lặng nhưng có cái gì bất trắc ẩn hiện trong đó. Hai chị em ra chùa Trúc Lâm cầu nguyện. Dalat 20 tháng Ba. Chiều tối nay có anh bạn Hướng Đạo của em gái tôi ghé ngang nhà, thấy hai chúng tôi, anh hỏi: - “Sao còn ở đây?” Tụi tôi nói: - “Tụi em tử thủ Dalat mà.” Anh nói: - “Tử thủ cái con khỉ. Nha Địa Dư, Kho bạc tối nay người ta đã bỏ rồi đó. Nếu không đi được bằng đường hàng không, thì chuẩn bị cơm nắm muối mè, giày bata quần jeans, mang theo bột ngọt 35 để làm thuốc cầm máu, chuẩn bị đi bộ 3 ngày thì đến Phan Rang và đi càng sớm càng tốt.” Thật sự lúc đó tôi sợ và hoảng hốt lắm, sau khi anh ra về rồi, tụi tôi nói cho Ba nghe và nói với Ba là mình phải rời Dalat, Ba đồng ý. Dalat 21 tháng Ba, 1975 Sáng nay Ba nói: - “Hai đứa còn đi thôi Ba không đi đâu.” Hai đứa tôi gắng thuyết phục nhưng ba tôi nói: - “Ba ở đây, để nhỡ có tin tức ở trường học thì ba sẽ liên lạc với các con, khi nào bình yên thì nơi đây là căn nhà để các con trở lại, hơn nữa còn hai con chó nữa.” Nghe cũng bùi tai nên chúng tôi đồng ý. Bây giờ nghĩ lại chắc ba tôi đã mất ngủ cả đêm cho cái quyết định đi hay ở lại đó. Năm 1945 ba mẹ tôi cũng đã rời Dalat chạy loạn về Phan Rang, ông phải lẫn trốn quân đội Nhật, hai ông bà thất lạc nhau, mẹ tôi đang mang bầu chị lớn trốn ở gầm cầu, may thay tụi Nhật cho mẹ tôi vào nhà thương sinh, sau đó bà được vị sư già ở vùng núi Cà Đú cho tạm trú, vài tháng sau đó thì ba mẹ tôi tìm gặp lại nhau. Ngày 22 tháng Ba 1975 Em gái tôi có quen một chị bạn làm ở Air Việt Nam nên mua được hai vé máy bay ngay không phải chờ đợi hay mua vé chợ đen. Những thứ gì mang đi và những thứ gì để lại, ôi sao cái gì cũng muốn mang theo cả. Nhớ lời của ông anh dặn, tôi chỉ mang theo một ít quần áo, photo album,nhật ký và hộp giấy tờ ba má tôi cất trong góc nhà, gồm tất cả những giấy tờ quan trọng như giấy khai sinh của tất cả anh chị em, và tôi cũng mang theo những học bạ của những năm còn học ở trung học mà hiện nay tôi cũng vẫn còn giữ. Ngày 23 tháng Ba 1975 Buổi sáng, Ba tôi xách vali cho hai chị em tiễn hai đứa về Saigon. Trong đầu tôi chỉ nghĩ rằng mình đi một thời gian thôi, và hẹn sẽ gặp lại Ba sau, ba cha con chia tay nhau và có biết đâu rằng đó cũng là lần cuối.... Ra đến nhà ga Dalat, tôi không ngờ là người đông như thế, không phải người Dalat mà những người ở Bảo Lộc, Lâm Đồng đi di tản, người Dalat đã đi hết rồi. Hai đứa tôi không thể chen lấn như họ được, đứng đó chỉ nhìn những xe bus rời bến. Thấy hai chúng tôi còn lóng ngóng đứng đó, chị bạn Air Việt Nam bảo tài xế ngừng xe bus lại, ông tài xế quẳng hai cái vali của chúng tôi lên mui xe, hối hai đứa tôi ra ngồi trên đống hành lý phía sau xe, vì xe đă chật cứng người rồi. Xe rời nhà ga Dalat đi qua Hồ Xuân Hương rồi trực chỉ về Phi trường Liên Khương. Trong xe bỗng nghe tiếng khóc than của bà cụ già người miền Bắc, vừa khóc bà vừa kể lể, rằng cháu của bà còn đang ở sân ga, ai cũng động lòng thương hại. Ông tài xế nói: -“Để tôi quành xe lại để bà ở lại kiếm cháu bà.” Nhưng bà không chịu, mới vỡ lẽ rằng cháu của bà còn đang ở sân ga với mẹ của nó, vì không lên cùng một xe được. Bà mắng mẻ cô con dâu đã không nhanh chân lên xe được cùng: “Thà chết một đống chứ không sống một mình.” Tuy nói thế, bà không chịu trở về sân ga, làm trên xe ai cũng bật cười. Đến phi trường Liên Khương, tôi lo hành lý, nhỏ em vào ghi thủ tục, rồi chúng tôi cũng được xếp theo thứ tự lên máy bay về 36 Saigon. Từ trên máy bay nhìn xuống thấy cảnh đẹp và hiền hòa quá, máy bay xa dần mang chúng tôi về Saigon, và đó cũng là lần cuối tôi nhìn thấy Dalat. Trứơc khi rời Dalat, hai chị em đã ra chùa Trúc Lâm như thường lệ đứng dưới pho tượng Phật Quan Âm cầu nguyện. Sau đó chúng tôi đi ra chợ Dalat, nhìn thấy rau cải hoa trái chất đầy chợ, bán với giá thật rẻ, nhưng chả có mấy người mua, nhìn thấy những bó hoa hồng nhung nằm lây lất thật tội nghiệp hai đứa tôi mua hai tá để mang về Saigon. Trên máy bay có lẽ nhìn qua kính chiếu hậu từ phòng lái thấy trong đám người chạy loạn có hai cô con gái mặt mày trông cũng sáng sủa lại ôm hai bó hoa hồng, anh chàng Pilot phụ đi xuống làm quen, bảo: -“Chưa thấy ai chạy loạn lại mang bông hồng bao giờ!” Anh cho biết vì nhu cầu nên anh và người Pilot chính đều là lính không quân nhưng được bổ nhiệm sang Air VN để chở dân tị nạn về Saigon. Sau khi hạ cánh chúng tôi có gặp người Pilot chính và ngỏ lời cám ơn đã giúp chuyên chở những người di tản như chúng tôi. Phi trường Tân Sơn Nhất thật là xô bồ, nóng bức khác hẳn với xứ Dalat hiền hoà mát mẻ và êm ả của tôi. Gặp một số người rời Dalat trứơc, họ đến nói chuyện với người mới tới như chúng tôi để biết thêm tin tức về Dalat. Tại đây tôi có gặp lại vị thầy cũ, thầy dạy ở trường Chiến Tranh Chính Trị và Sư phạm. Trong số người thăm hỏi tin tức đó có một anh chàng cũng đã ở Dalat thấy hai chị em đang mặc cả taxi về Phú Nhuận, anh chàng có xe hơi nên ngỏ ý cho hai chị em quá giang. Xứ lạ quê người tôi cũng sợ, còn đang chần chờ, sẵn có thầy bên cạnh nên quay sang cầu cứu: -“Thầy, thầy thấy sao thầy?” Nghĩ lại mình vô duyên quá, đặt thầy vào vị trí khó xử, may quá hai đứa không bị người lạ bắt cóc, mà hôm sau còn được đi quá giang lên Bộ Giáo Dục để trình diện nữa. Cơn bão lốc đã cuốn hút chúng tôi đi từ ngày đó, xa rời mái ấm, xa rời Dalat thân yêu, Dalat của tuổi ấu thơ, của thời niên thiếu, biết bao kỷ niệm chồng chất. Những lúc còn bé theo cha mẹ đi lễ chùa vào những ngày 30, ngày rằm. Làm sao tôi quên được những đêm trăng rằm thật đẹp, những vì sao trên trời chừng như sáng hơn và gần hơn. Những buổi sáng đi học trong sương mù lạnh cóng. Những buổi chiều lộng gió lên đồi sau nhà thả diều, xếp những miếng giấy nhỏ viết một vài câu ước nguyện để con diều mang lên trời. Những lần đi câu cá, đèo nhau trên chiếc xe đạp hì hục leo dốc rồi thoải mái để xe thả dốc. Những lần sau này lớn hơn một chút, anh chị em trong nhà cùng bạn bè họp nhau đàn hát và lập ban nhạc lấy tên “Sao Khuya” được ông giám đốc đài phát thanh Dalat cho hát nửa tiếng mỗi tuần một lần… Kỷ niệm nhiều lắm, không làm sao kể hết được. Xa Dalat đã 38 năm. Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ, những bước thăng trầm của cuộc sống vẫn không làm phai nhạt Dalat trong ký ức của tôi và làm tôi trân quí hơn những tháng ngày hoa mộng của thời thơ ấu.

>>>>>>>>
Những Bông Hồng Văn Học -Nguyễn Hoàng Sơn Có lần Nhất Anh hỏi có còn nhớ những người đẹp Văn Học không? Có lần về thăm Việt Nam, nghe bạn học cũ của đồng chí vợ kể, có ông nào học chung di tản qua Mỹ, về VN dọ hỏi đi tìm đôi mắt người xưa. Gặp một bà lão trong hẻm bán bánh mì đi ra, chàng hỏi thăm nhà của cô nàng. Ai ngờ bà lão rụng răng kêu là... em đây! Anh ta chới với không dám hỏi tiếp và tự trách tại sao phải ôm nhớ hình bóng ấy trên 20 năm qua. Ông Trần Quảng Nam đợi 10 năm chưa đủ nhưng đến 20 năm thì giác ngộ ra rằng: Những mối tình hữu nghị thời mới lớn đều có đoạn kết chán như con chuồn chuồn nên mình rất phục những ông trên diễn đàn VH này vẫn hoài niệm cô nào 40 năm về trước. Từ ngày lấy vợ đến nay, khi nói về đàn bà, mình đều nghĩ đến những người hay la còn nói đến đàn ông thì nghĩ đến những tên sợ vợ như mình. Như ai đã nói “Vợ là địch, bồ là ta, nằm trong lòng địch, lại nhớ đến ta.” Gái 13 trai 16, cho nên tuy học chung nhưng mấy chị khôn giàn trời, trước đám con trai rất nhiều. Ban Toán nên ít có con gái theo học, lên 12 B thì còn một người có cái tên Lê Thị Song Kim nên gọi là “2 kim”. Dạo đó mình thích mấy cô học lớp 10, lớp 11 vì không phải gọi bằng chị. Nếu Sơn không lầm thì có 3 người được nhiều anh chàng cứ hít hà, nức nở khi nhắc đến tên: Hàng Thị Ngọc Hiền ở cư xá công chánh đối diện ấp Ánh Sáng, Phan thị Bích Thuỷ ở gần trường Bồ Đề và Trần thị Ánh Nguyệt không biết ở đâu vì không có cơ hội nói chuyện hay đưa về, hình như cũng không học niên khoá 73-74. (Xin nói rõ đây là Bích Thủy của 74-75 chứ không phải chị Phạm thị Bích Thủy 69-70 của Huyền Ma Soeur! Hình như ai tên Bích Thủy cũng là người đẹp.) Dạo đó ngu, đi cắm trại ở hồ Than Thở, khi về thấy thiên hạ đi bộ nên mình thuơng tình, chạy về lấy xe ông già ra chở về. Nay 46 nghĩ lại phải công nhận là ngu, nếu xảy ra tai nạn là ông già lãnh nợ. Ngọc Hiền có một cô hàng xóm có lẽ đẹp nhất Dalat dạo đó tên Nhung, học Bùi thị Xuân. Sơn có anh bạn đứng mỗi buổi chiều ở cuối đường Duy Tân để đợi cô này đi học về. Bích Thuỷ có cô bạn ở đường Calmette nên hay đi ngang nhà mình. Thuỷ hay tới nhà nhờ giải toán dùm hay mượn xe đi đâu với cô em cực xinh. Thủy có nhiều người mê, không biết sau này lấy ai? Hình như Mai Thanh cũng được nhiều người trồng cây si. Cô này học trường Tây ra nên hay bận váy đầm. Sơn nhớ có lần trời gió lạnh một anh tên Trí thì phải, nói giọng Huế “gió luồn lên như ri chắc lạnh lắm.” Trên diễn đàn thấy có nhiều ca sĩ, ngay Phạm Minh Cường ngày xưa chỉ dám gửi thư yêu cầu nhạc gửi tặng cô nào mà không dám nêu tên, chỉ đề “tặng các bạn học,” nay cũng hát chuyên nghiệp như ca sĩ karaoke thứ thiệt! Giờ ra chơi, trường Văn Học hay mở các băng thu học sinh hát nên có lẽ vậy mà ngày nay “phát hiện” nhiều ca sĩ. Dạo đó hình như Nhất Anh có hát “Le temps de l'amour” và có chị hát ở đài Phát Thanh, hình như tên là Hường, bản gì mà có “Tóc mai sợi vắn sợi dài” được mọi người ưa thích. Có dạo trường tổ chức văn nghệ nên phải đến nhà thầy CBA tập dợt. Mình làm trưởng ban hay trưởng lớp chi đó nên phải đi theo ban văn nghệ chớ mình chỉ mê vọng cổ. Nhà thầy mới và đẹp nên đi vòng vòng xem. Nghe nói vườn hoa hồng nhà thầy bây giờ đã bị chiếm hữu đã thành tổ nuôi heo. Sau này khi đi về ngành kiến trúc, có ít người VN học nên mình như hoàn toàn không giao tiếp với cộng đồng người Việt trong khoảng 10 năm, cho đến khi mấy người em vượt biên sang mới nói lại tiếng Việt. Qua Mỹ chơi, Tam Anh giới thiệu cho hai cô VN ở Boston nên quyết định qua Mỹ kiếm vợ. Vất vả trên năm năm trời mới có một “Hoàng Dung” chịu quản lý đời mình. Nay mới hiểu tại sao ế vợ lâu: Đi kiếm vợ mà lái xe cũ, rung rung, ghế thì bị lủng lòi lò xo, không có máy lạnh và chỉ độc nhất cái cassette cải lương “Tình anh bán chiếu” của Út Trà Ôn. Sau này có một cô chịu đi chơi lần thứ hai với điều kiện đi xe của cô ta. Khi thấy thời cơ chín mùi, mình muốn “đăng ký quản lý” nhưng lại sợ bị từ chối nên không biết làm sao. May thay lúc đó có phim “Cyrano de Bergerac” mà Gerard Depardieu đóng nên mình bắt chước anh này, thảo bản thông điệp tình yêu. Lâu quá rồi không nhớ vì cô nàng không giữ. Hình như là như vậy : Kính gửi đồng chí gái Hôm nay trong buổi thông tầm, anh khắc phục không ăn cơm trưa để viết bản báo cáo tình hình trái tim của anh. Đồng chí gái vô vàn kính yêu, Từ ngày phát hiện ra em, lòng anh vô cùng hồ hỡi, phấn khởi và thương nhớ trường kỳ. Hôm qua đi tham quan phố Bolsa, nắm được tay em, lòng anh nó cứ lâng lâng như chiếc máy bay lên thẳng. Ngồi uống cái nồi ngồi trên cái cốc, ngắm em lòng anh rộn ràng như trong ngày vui đại thắng. Đồng chí gái thân mến, Từ ngày giao lưu với em, đời anh như bước sang một trang sử mới. Hôm nay, anh đề xuất một kiến nghị, nếu em nhất trí thì anh sẽ báo cáo với đồng chí bố và đồng chí mẹ cho 47 anh đăng ký quản lý đời em. Anh sẽ đảm bảo em một đời sống nghiêm túc, không đánh bạc, không rượu chè. Sông có cạn, núi có mòn nhưng mối tình hữu nghị đôi ta đời đời bền vững, không bao giờ thay đổi. Kính chào em trong tinh thần vui duyên mới không quên nghĩa vụ. Đồng Chí trai. 
>>>>>>>>>>>>>
Kung Fu Kung Thê -Nguyễn Hoàng Sơn Đọc bài “tử vi” của thầy Viêm làm mình nhớ lại đoạn trường tìm vợ. Dạo ấy kiếm vợ ở hải ngoại khó giàn trời. Dân di tản 75 thì chuộng môn đăng hộ đối, mình lí lịch ít ai biết nên không dễ gì mà đi đăng kí gửi gạo. Sau 79 thì bắt đầu có lớp người VN vượt biển nhưng đa số là đàn ông, phụ nữ còn rất hiếm hoi. Đi party, một cô dù xấu đến đâu, cũng có nhiều anh bu theo như ruồi. Nói theo kinh tế thị trường thì hàng độc dù chất lượng xấu vẫn có giá theo nhu cầu cung và ứng. Sau này có chính sách đổi mới, có phong trào các ông đua nhau về VN cưới vợ. Rồi lại thêm có chương trình đoàn tụ O.D.P. và H.O. nên dần dà thị trường gái Việt đỡ khan hiếm. Ngày nay, về VN lấy người đẹp chân dài lại được cấp thêm tiền tươi. Đời có những cái lạ không luờng được! Dạo Sơn mới sang Tây thì mê đầm lắm. Con gái tóc vàng tóc nâu, tóc đỏ, đồ phụ tùng, điện nước đầy đủ không như các cô VN gầy như... con mắm! Mình mê đầm nên khi ở Ý, Đức, Thụy Sĩ hay Luân Đôn cũng không chừa cái tật đó. Nhất là hồi ở Đan Mạch, đầm tóc vàng mắt xanh làm mình ngất ngư không quay lại được bến bờ. Cứ tưởng sau này lấy vợ đầm, nhất là thời gian làm việc ở Ý. Đùng một cái, nhận tin mấy người em vượt biển sang Nam Dương nên phải vội vàng quay về Paris để lo chuyện định cư cho các em. Lúc đó mới bắt đầu được ăn cơm và nói tiếng VN trở lại. Tiếng Việt thì Sơn cũng không rành vì hồi nhỏ học trường Tây, chỉ học chương trình Việt hai năm cuối trung học ở Văn Học. Thơ Đường thì nhớ na ná cái chi bằng bằng trắc trắc rồi thơ lục bát cửu vạn tổ tôm chi đó mà thôi. Sau 10 năm, gần như hoàn toàn không nói tiếng Việt, gặp lại mấy đứa em dùng những từ sau 75 lại càng làm Sơn như lạc vào u minh. Khi sang Mỹ chơi, được Tam Anh giới thiệu cho hai cô VN làm Sơn ngất ngư nên quyết định sang Mỹ kiếm vợ. Tam Anh nói con gái VN thích thơ văn nên Sơn tìm báo, đọc mục gỡ rối tơ lòng để điều nghiên về đối tượng VN. Thấy bài thơ của anh Lành, chôm về đổi vài chữ vào rồi gửi cho nàng: Vui biết bao khi anh tập nói Hai tiếng đầu lòng anh gọi Em ơi. Thương cha thương mẹ thương một Thương em thương mười. Không ngờ cô nàng là dân di tản 75 lúc còn học tiểu học nên cũng i tờ tiếng Việt, đi chợ mua gạo, nhà dặn là mua gạo ông Địa, ra chợ VN lớ ngớ sao nói: “Bán cho bao gạo ông Đĩ”. Rõ chán mớ đời! Cô nàng đưa thông điệp tình yêu của mình cho ông già đọc để “thuyết minh” ra tiếng Mỹ. Đọc xong ông già nói mình là cộng sản vì chôm thơ Tố Hữu. Từ đó cạch đến già không dám làm 48 thơ. Cứ mỗi lần cô nào mà hỏi tên tuổi ngày sinh của mình là coi như Adieu Jolie Candy! Không bao giờ gặp lại và không cho biết lí do. Có lần một cô buồn buồn nói là mẹ đi coi bói thầy Ba cầu Tràng Tiền, cô Năm núi Bà Đen, nói anh sinh năm 1956 là “tủi thân” không hạp. Dương Hạ Hoả thì số này nó phá tiền ở các sòng bài casino là tàn đời con luôn. Mình gạt lệ trách, “Sao trời sinh ta lại còn sinh tử vi!” Ngày xưa đọc Tam Quốc Chí thuê của nhà sách Minh Thu, ông Khổng Minh cải số để giúp Lưu Bị nhưng không rõ làm sao. May là dạo đó Tam Anh, không biết nghiên cứu tử vi hồi nào mà viết phần mềm tử vi như thánh, con gái bu đông như kiến nhờ ông thầy bói Tam Anh coi duyên phận. Anh này cũng khôn lắm, thấy cô nào dễ thương là nói tình duyên sau này sẽ gặp người tương tự như anh ta. Tam Anh còn nói con gái Bắc Kỳ tin tử vi lắm cho nên sau này lấy vợ người Bắc. Sơn nhớ chuyện ông Thiệu, ngày xưa làm tổng thống vì có Tam Tý. Sau này cô nào hỏi ngày sinh tháng đẻ là cứ phán đại là tui sinh năm Tý, giờ Tý, tháng Tý thì cái huông bị gái cho de của mình nó biến mất. Sau này mình có truyền cho thằng con cái software tử vi để đi tán gái Á Đông. Khi đến nhà xin phép đưa mấy cô đi chơi thì các cụ không còn vẻ mặt hình sự như dạo trước. Đi coi bói thì bố mẹ biết Sơn có...mạng đế vương cho nên quý Sơn như bạn vong niên, lâu năm gặp lại. Có lần Sơn bị một đồng chí gái lôi đến nhà ông thầy Sáu. Nghe nói ông này có viết sách tử vi, nổi tiếng lắm. Sau khi xin xăm, xin quẻ rồi in bản tử vi điện toán, thì ông thầy phán: “Anh tuổi Tý là tuổi con chuột. Chuột thì có nhiều loại như chuột đồng, chuột chù, chuột xù, chuột nhắc, chuột nhí... Anh thuộc dạng chuột nhí nên sợ vợ như Lưu Bị, nghe sấm chớp là đã run không dám luận anh hùng thiên hạ với ai cả. Suốt ngày chỉ biết khóc lóc, hát ca trù cho Tào Tháo chết. Anh có số đào hoa nhưng bị Triệt vì có Cô Thần, Quả Tú. Số anh không ở với cha mẹ được, chỉ ở với vợ thôi.” Ra về lòng man mác buồn, không lẽ kiếp trước mình là Thúc Sinh đầu thai lại mà vợ tương lai mình lại là Hoạn Thư? Ông Lưu Bị ngày xưa muốn thoát khỏi vòng tay lãnh đạo và quản lí của vợ, sai Quan Công ở nhà hầu bà vợ, ai ngờ bà vợ hiểu được ý nên bắt Quan Công đứng đốt đuốc sáng đêm để ông chồng không thể lấy cớ dèm pha mà kiếm bồ nhí. Đau nhất là phải moi tiền trả cho thầy cho dù mình đã có bản tử vi gồm cả lời giải ở nhà. Không ngờ cô nàng lại tủm tỉm cười, có lẽ phát hiện ra một tên có mạng đế vương chăng? Đồng chí gái mời về nhà để ra mắt gia đình. Cô nàng dặn là phải cẩn thận, ăn nói nghiêm chỉnh, từ tốn, không được ăn nói phản động vì theo lí lịch thì gia đình Sơn thuộc hệ 13. Sơn có tật là ăn nói búa xua, xuất khẩu không đúng không gian và thời gian. Tam Anh có nhắc là “bệnh tòng khẩu nhập, hoạ tòng khẩu xuất.” Chưa bao giờ mà mình khổ sở như vậy, gặp ai cũng thưa gửi, cười, ngay con chó sủa gầm gừ mình vẫn: “Hello! How are you?” Khi thiên hạ ngồi vào bàn ăn cơm, nhà thì đông anh em lại thêm dâu rể, mới quay qua quay lại mời cha mời mẹ, mời anh mời chị thì đồ ăn biến đâu mất đành nuốt hận nhai cơm và cơm. Ông già thì nói giọng Nghệ An hay Nghệ Tĩnh gì đó rất nặng khó nghe. Mình thì ăn nhỏ nhẻ như chuột nhí trong khi ông ấy vừa gắp vừa lua, vừa interview mình. Ông hỏi: -“Nì! Rựa hai bạc bên nhà còn đụ khôn?” Mình nghe đến đây là tá hoả tam tinh, không biết trả lời ra sao đành thú thật: “Dạ cháu không biết! Để cháu viết thư hỏi Bố Mẹ 49 cháu. Bố cháu ở trại cải tạo 15 năm mới ra nên sức khoẻ còn yếu, nếu có làm chuyện ấy thì chắc cũng lai rai.” Lúc đó tôi bị đồng chí gái đá cho một cái dưới bàn đau điếng. Cả nhà bỗng cười rầm trời, ai nấy đều mếu máo đập bàn, đập ghế làm mình ngơ ngơ ngác ngác. Sau này nghe đồng chí gái kể là ông cụ nói: “Thằng ni thiệt thà, được.” Rứa là mình lên xe bông về nhà vợ. Lấy vợ rồi mình mới thành khẩn khai báo là mình tuổi con khỉ chớ không phải tuổi con chuột. Số mình không có mạng đế vương, mạng mình chỉ làm đồng chí chuột nhí. Đồng chí gái bảo: “Tui biết từ khuya rồi ôn!” Một Thuở Còn Vương -Nguyễn Hoàng Sơn Xem hình ảnh của các thầy và các bạn của một thời Văn Học, Sơn nhận ra ngay: - Phạm Minh Cường dù có vẻ phát tướng hơn xưa. (Nghe PMC gào thét: “Này em ơi còn đường em đi đó, đúng hay sai?” Thật ra con đường nào em đi cũng phải chạy gạo, trả tiền nhà, tiền điện, tiền nước cả.) - Võ Tấn Hưng, hướng đạo sinh: Anh này hay nghỉ học đi cắm trại, mơ lấy bằng Rừng. - Bùi Thanh thì vẫn còn nguyên đôi lông mày của ngày xưa. - Cặp bài trùng Nguyễn Đình Tài và Nguyễn Hùng, hai chàng ở cùng xóm, không biết có bà con không. Sau này gia đình Tài dọn về gần Hồ Than Thở. Lần đầu tiên về Dalat có đi kiếm hai chàng. Qua hẻm cây xăng Ngọc Hiệp mà thầy Tuyến có kể về quán mì quảng Thanh Bình thì không gặp Nguyễn Hùng mà lại gặp Lê Hùng Sơn. Nhớ lần đậu tú tài, bố mẹ Hùng đãi một bữa cơm ngon nhớ đời. Sau đó xuống Hồ Than Thở tìm Tài nhưng người em nói Tài đang ở Hà Nội. Ngày xưa mỗi sáng Tài và Sơn tập võ với nhau ở ngã ba chùa Linh Sơn từ 6g đến 7g30 sáng. Tài có người anh bà con tên Sĩ, học Trần Hưng Đạo rất giỏi nhu đạo cũng tập chung. Sau này Sĩ đi nhảy dù, chết ở Hạ Lào. Sơn có gặp Dương Quang Trí, vẫn ở 134 Phan Đình Phùng, có xe đò du lịch và mở quán cà phê. Anh này ngày xưa hay lấy xe máy cày của ông già đi làm mướn cho mấy vườn bên cạnh gần thung lũng tình yêu, kiếm thêm tiền rủ bạn bè đi ăn chè. Trí chạy chiếc Vespa Sprint 125cc độc nhất vô nhị tại Dalat. Hồi tưởng lại ngày xưa hay đến nhà Vi Hoàng Đông Phương ở đường Pasteur tập văn nghệ vì anh ta có bộ trống ngon lành. Hùng Con Cua cũng có bộ trống mà lại đánh rất nhuyễn nên được thiên hạ mời đi boom hoài. Hùng con cua tán gái nghề nhất trong lớp, nghe kể đi nhảy đầm v.v. cứ như “Ngày xưa còn bé” của ông Duyên Anh. Vào giờ ra chơi là cả đám ngồi nghe Hùng Con Cua và Tân Tùng Nghĩa kể chuyện đi cua gái. (Có lẽ vì vậy mà Nhị Anh đi mua cao dán tiệm Con Cua để được mấy cô để ý đến cái lưng của mình?) Dạo đó, Sơn nể phục mấy anh chàng dám nói chuyện với con gái vì Sơn nhát gái lắm, chân tay run rẩy, nói cà lăm khi gặp đối tượng. Ngày nay thì vẫn run khi đối diện đồng chí vợ. Nhỏ sợ gái, lớn sợ vợ! Ngô Văn Thuỷ thì không thể nhận ra được, không còn nét mặt thư sinh như xưa. Mình có ra ấp Hà Đông tìm nhưng không gặp, 50 có gặp người anh nói là sắp đi Mỹ theo diện H.O. Còn những khuôn mặt khác thì chịu, nhìn không ra, có lẽ học ban A. Sơn nhận được hình chị Lê Thị Ngọ vì năm 12 nấu chè bán, chị Ngọ có xung phong và Sơn đã chở chén đĩa mượn của bà cụ đến nhà chị ở Phan Đình Phùng, trước tiệm gỗ Nguyễn Đình Thừa. Hình như chị Ngọ có bà con với chị Lê Thị Dậu, người làm video nổi tiếng trong mái ấm Văn Học hiện nay. Chị 2 Kim (Song Kim), người lạc quyên nhiều nhất trường, chắc nay đã thành đại gia vì cái tài ăn nói khiến bà con đưa tiền là...thiên phú. Xem hình đi lạc quyên, nhớ có lần tụi này rủ nhau xuống Đức Trọng đi lạc quyên. Đến nhà Tân ở Tùng Nghĩa, hi vọng về đó ông già có tiệm thuốc tây và quen lớn, có thể kiếm được nhiều tiền bỏ vô thùng. Không may xe bị lủng bình nước nên cả đám ngồi ngáp ruồi đợi thợ hàn đến sửa. Hôm đó về tối khiến gia đình và thầy CBA lo lắng. Miền Trung là cái xứ chi mà năm nào cũng bị lụt! Lúc coi phim “Áo lụa Hà Đông” với mấy đứa con mới hiểu tại sao xứ này nghèo. Sau này lại có về thăm quê của bà cụ cũng như quê vợ nên hết muốn tham gia “Ngày nhớ Huế.” Phạm Minh Cường kể về thầy Nguyên làm mình nhớ có lần anh nào trong lớp bị thầy kêu lên giải toán, hình như là Nguyễn Văn Tân. Tân và Võ Hoàng Đa hay gồng mình để khoe thân hình tập tạ khi lên bảng. Lần đó Tân giải không ra, bị thầy Nguyên la thì Sơn có nói đỡ “Nhà nó nghèo” khiến cả lớp cười oà, ngay cả thầy cũng bật cười. Cuối tháng cả trường Văn Học được coi xi nê ở rạp Hoà Bình. Có lần họ chiếu phim “Ngậm Ngùi” có cảnh Thẩm Thuý Hằng mặc ít áo, nên từ đó thiên hạ bắt chước... “nhà nó nghèo.” Trong giờ Vạn Vật, thầy Phan Nam có lần giảng về cơ thể con người. Thầy nói người đàn bà có một màng trinh nên khi bị xâm nhập vào sẽ rách. Có ai ngồi phía sau hỏi “Có chắc không thầy?” Rồi có người lại phạng thêm câu “Trời ơi, thầy hại đời em rồi” làm cả lớp cười rầm như vỡ chợ. Mình nhớ có dạo thầy An nói: -“Ai mà có cảm tình viên thì dẫn lên thác Cam Ly, đem theo lon sơn Bạch Tuyết, viết tên hai người rồi thề: ‘Ngày nào hãng sơn Bạch Tuyết sập tiệm thì mối tình hữu nghị đôi ta mới tan vỡ’.” Dạo ấy sau hiệp định Paris thì mỗi nhà phải vẽ lá cờ VNCH ở trên mái nhà và tường. Sơn có vẽ một lá cờ to nhất xóm, làm sau 75 mấy đứa em cạo mệt thở! Có một anh nghe lời nên cũng mượn mình lon sơn. Anh này cũng đưa cô bạn lên thác Cam Ly vẽ trái tim và tên hai người, thề thốt sẽ đời đời bền vững như hãng sơn Bạch Tuyết. Ai ngờ vụ 4/75 xảy ra nên chắc họ cũng không nên duyên. Có tìm thăm nhưng gia đình đã dọn đi xa. Sơn thích nhất cách giảng bài của thầy Thạc. Có lẽ sau này ra hải ngoại Sơn vẫn học theo lối của thầy chỉ. Trong lần tổ chức văn nghệ, thầy có đến biểu diễn tây ban cầm cổ điển. Sau này Sơn có hỏi thăm người quen nhưng không ai biết thầy trôi giạt nơi nào. Ngày đó hình như cũng là giai đoạn bắt đầu cái nghiệp làm báo của thầy CBA. Sau này ở Mỹ, thầy nổi tiếng với hãng CBA News. Có lần khi vào lớp thay cho thầy Hoàn chưa đến kịp, thầy CBA đã đọc bài báo của thầy đăng trên một tờ báo ở Saigon, về chuyện tình của một cặp trai gái bị cướp và giết tại thác Prenn, nghe mùi mẫn như truyện Quỳnh Dao. Hình như thầy cũng viết 51 một bài khác, kể câu chuyện một cặp tình nhân không được gia đình chấp nhận, đưa nhau ra Hồ Xuân Hương tự tử. Không may anh chàng biết bơi nên sau khi nhảy xuống hồ, đã bơi qua Thuỷ Tạ rồi lên bờ trốn về Saigon. Buồn cho gia đình cô gái, vớt xác con đem về chôn! Ngày xưa Văn Học nổi tiếng là trung tâm luyện thi Tú Tài của Dalat nhờ ba thầy Viêm, Bình Bào, nhưng năm Sơn vào học Văn Học thì Bộ Tam Sư này đã di tản qua trường Việt Anh của thầy Lê Phỉ. Sơn cũng nhớ Nguyễn Phước Tuyên Quang, trại gà Gala, có đối tượng là Hải ở gần xóm. Anh Hải này học Trần Hưng Đạo đánh lộn rồi vác súng của ông già lên trường bắn ai, bị đuổi nên sang Văn Học. Một năm gần cuối, bố của Tuyên Quang, lúc đó là chỉ huy Ban Tuyên Huấn của trường Võ Bị, cấm mấy thầy biệt phái về trường Võ Bị không được dạy thêm cho các trường tư thục, như các thầy Thuận dạy Đại Số, thầy Hùng dạy Vật Lí. Thầy CBA phải lo chạy tìm các thầy khác thế vào, đa số là các thầy dạy ở Trần Hưng Đạo như thầy Hoàng Trọng Hàn dạy Anh Văn, Hoàng Ngọc Ẩn dạy Vật lí. Sau thầy Ẩn đổi về Saigon nên mỗi tuần thầy CBA phải mua vé máy bay để thầy Ẩn bay lên Dalat dạy học. Sơn còn nhớ có hai thầy dạy Toán và Vạn Vật khác, hình như là thầy Toàn và thầy Hưởng. Một lần có thầy người Huế dạy được một buổi thì... ra đi không trở lại. Ông nói ông đang học Cao Học, bị học sinh ban B quay như dế làm ông quýnh, không dạy được. Rốt cuộc hình như Sơn hay Nhị Anh phải lên bảng giải. Sau đó thầy CBA có mời anh Dũng học Khoa Học Dalat đến dạy kèm cho học trò làm bài tập. Nhìn lại thì phải công nhận thầy CBA dạo đó phải lo qúa nhiều, phải lo thay đổi toàn bộ ban giáo sư đệ nhị cấp một cách cấp tốc để kịp thời cứu vãn tình thế cho đám học trò Văn Học sắp đi thi. Nhất Anh gửi video clip “My Rose” khiến Sơn nhớ đến Nguyễn Thành Sang học 11B, nhà ở xóm Nữ Công Gia Chánh. Anh này mê một cô học Quang Trung, nhà ở xóm Địa Dư gần nhà Sơn. Sang cứ rủ đi ngắm cô nàng đi học về. Dạo đó Sơn thấy cô này cũng nức nở. Hồi tiểu học hay đá banh và đánh lộn với anh cô ta. Sau này về Hà Nội có gặp một bà làm lớn trong đoàn thanh niên CS cũng tên M, xưng là gia đình ở xóm Địa Dư Đalat, em của anh chàng ngày xưa hay đá banh với Sơn. Cô này hoàn toàn không giống 20 năm về trước. Hai con mắt ngơ ngác con nai vàng ngày xưa nay biến thành hai viên đạn đồng AK! Nghe nói đang làm đại biểu Quốc Hội. Sau mùa hè đỏ lửa thì Sang bị động viên, sau này có về hỏi thăm nhưng không gặp để nhắc lại bài thơ “của T.T.Kh:” Được tin em đã lấy chồng Anh về lấy vợ thế cũng xong Vợ anh không phải đảng viên Nhưng đẹp hơn em một tấm lòng.
>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
Những Thiên Sứ của Văn Học -Nguyễn Hoàng Sơn Có một người ngoan đạo, ngày nào cũng đi lễ, cầu nguyện, sống gương mẫu theo kinh thánh đã dạy. Một hôm trời mưa có người hàng xóm gõ cửa, kêu phải di tản vì vỡ đê, ông từ chối và nói Chúa sẽ cứu rỗi ông ta. Khi nước lên tới tầng thứ nhất thì có một người chèo ghe qua nhà, kêu ông ta đi nhưng ông từ chối và tiếp tục cầu nguyện. Cuối cùng ông phải leo lên nóc nhà vì nước đã ngập hết căn nhà. Bỗng dưng có một chiếc trực thăng bay qua, bảo ông ta đu dây lên, nhưng ông ta từ chối vì tin mình là người tốt, Thượng Đế sẽ cứu ông ta. Khi lên thiên đàng, ông ta trách thánh Phao Lô sao không cứu vớt mặc dù ông ta đã sống tuân theo lời chúa dạy mỗi ngày. Thánh Phao Lô nói: -“Ta đã gửi 3 Thiên Sứ đến cứu ngươi nhưng ngươi không chịu theo họ.” Trong đời sống, chúng ta có duyên gặp những người xa lạ rồi thành quen, họ có thể khuyên bảo hay giúp ta một việc gì. Nếu đón nhận thì cuộc đời mình sẽ có sự thay đổi. Họ là những... Thiên Sứ của đấng tối cao nào đó phái đến để báo động hay hướng dẫn mình. Ngồi nhìn lại con đường đã đi qua, gặp những bạn đã đi chung một chặng đường trong đời, có những ảnh hưởng khác nhau trong cuộc sống rồi...chia tay. Năm lớp 11B, tuy không ngồi cùng bàn, Ngô Văn Thuỷ (cô Thuỷ) hay rủ Sơn đi thăm mấy ông thầy dòng ở Giáo Hoàng Chủng Viện để Sơn mượn sách còn Thuỷ thì không. Dạo đó được các thầy cho mượn sách đọc thì thích lắm vì hầu như mình đã đọc hết sách truyện thuê của nhà sách Minh Thu đường Phan Đình Phùng. Hình như gia đình Minh Thu bây giờ cũng định cư ở bên Mỹ. Không gian nhỏ bé của Dalat đôi khi khiến mình muốn bay nhảy thật xa nên niềm vui đọc sách giúp đầu óc mở mang, mơ về những phương trời và một tương lai rộng lớn hơn. Hồi đó Phạm Minh Cường cứ thắc mắc về cô Thuỷ vì giờ ra chơi, đám con trai hay kéo nhau lên đồi phía sau trường để...đi tiểu nhưng không bao giờ thấy Cô Thuỷ đi theo! Sau này không thấy cô Thuỷ đến nhà rủ đi thăm mấy thầy nữa, có lẽ là đã xong nhiệm vụ... thiên sứ của mình. Nghe nói cô Thủy cũng đã lấy vợ, yên bề gia thất. Lúc nộp đơn xin đi du học, đang lo vì ít hy vọng thì nhận thư của Hùng Con Cua ở Saigon kèm theo cái nghị định của bộ Giáo Dục cho đi xuất ngoại. Gần 40 năm, Sơn cố tìm kiếm Hùng thì bỗng dưng hôm nay Phi Nga xuất hiện để cho tin tức về Hùng và những người bạn năm xưa. Hai mươi bảy năm về trước sang Mỹ chơi, ghé thăm Nhị Anh ở San Diego thì được tặng 2 cuốn sách trong đó cuốn “You can negotiate anything” của Herbert Cohen. Nó đã trở thành cẩm nang cho đời sống. Nhớ có lần đi chơi với cô bạn, cô ta nói chỉ có 60 phút để đả thông tư tưởng vì phải trực nhà thương. Lúc đó có người bán dạo hoa hồng ghé lại mời. Sơn mất 15 phút 62 để trả giá nên không bao giờ gặp lại cô ta! Cuốn sách đó coi như chìa khoá mở cửa cho mình một hướng đi khác trong cuộc đời. Nhà Sơn ở Hai Bà Trưng, khu cư xá công chánh. Có lần Nhị Anh lái xe của thầy đi qua nhà cô nào ở đường Thi Sách bị kẹt xe trong bùn, Sơn phải lấy xe jeep kéo ra vũng lầy. Khi sang Mỹ chơi, có ghé thăm gia đình thầy Chử Bá Anh và cô Vi Khuê thì Nhất Anh cứ bảo Sơn phải lấy vợ vì “nhỏ có mẹ, lớn có vợ.” Rồi không ngờ gặp lại Tam Anh giúp Sơn quyết định sang Mỹ làm việc ở New York. Qua bạn bè của Tam Anh, lại phát hiện ra “đồng chí gái.” Lúc đó mới hiểu “công danh phú quý không bằng có vợ.” Hồi còn sinh viên, trong ba tháng hè Sơn hay đi hitch hiking khắp Âu Châu. Vai mang ba lô, tay cầm giá vẽ đi quá giang xe thiên hạ từ tỉnh này sang tỉnh kia. Tính đến nay cũng trên 40 nước, sinh sống tại sáu quốc gia và thay đổi thành phố 14 lần. Nói đủ thứ tiếng nên lộn tiếng này qua tiếng kia. Đi du lịch vẽ tranh bán để trả tiền ăn ở Youth Hostel, còn dư tiền để đóng tiền học và gửi về VN. Dạo mới lập gia đình Sơn có được mời về Hà Nội dự hội thảo về phát triển VN. Lần thứ nhì về thì ông Lý Quang Diệu rút lui nên mình cũng hứa với vợ là sẽ không khắc khoải về VN nữa. Sơn học kiến trúc vì có giấc mơ giúp xây dựng lại VN. Đi nhiều nước để làm việc cho những kts nổi tiếng như I.M Pei, Norman Foster, Rafael Vignoli,...học hỏi thêm kiến thức. Sau này đi du lịch với vợ con có đưa đi viếng những công trình ở Âu Châu, Á Châu, Phi Châu. Ngày xưa, ông Nguyễn Trãi từ quan về ở ẩn vẫn bị tru di tam tộc. Còn Nguyễn Thạc, có lẽ bị nhà Lê gửi sang Trung Hoa theo lệ triều cống hàng năm, được vua Tàu thâu dụng để xây dựng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh mà ngày nay là niềm tự hào của TQ, một kho tàng văn hoá của nhân loại. Nếu ông ta ở lại VN thì có thể cũng không đóng góp được gì cho đất nước hay con người! Bây giờ ở Cali, mỗi ngày phải nói bốn ngôn ngữ: tiếng Mỹ, tiếng Mễ với khách hàng và thợ rồi về nhà nói tiếng Việt. Có lúc mấy đứa con giở chứng, kêu phải nói tiếng Pháp để tụi nó thực tập nên ở nhà như cái vở hài kịch, nhất là khi có con cháu của mấy người bạn ở Âu Châu sang chơi. Đi làm kiến trúc bên Mỹ thì thấy nhà thầu làm nhiều tiền hơn nên xoay qua đi thầu, lại thấy developers có đồng ra đồng vào hơn nên mua đất, chia lô, vẽ, xây rồi bán. Lại thấy mấy người có nhà cho thuê không phải lo chạy gạo từng ngày nên bắt chước mua nhà cũ, sửa lại cho thuê. Đến nay thì không cần phải...làm việc nữa! Vợ cứ la hoài vì thiên hạ kêu vẽ và xây nhà cho họ nhưng từ chối dù họ trả thù lao hậu hĩnh. Hàng ngày xách xe chạy vòng vòng chơi, vì sợ ở nhà vợ lại sai vặt. Tính vài năm nữa cô con gái út vào đại học thì sẽ trở lại khăn gói đi giang hồ. Lần này thì có “đồng chí Vợ” đi theo để pha màu cho mình vẽ. Ngày xưa, đọc “Anh hùng Xạ Điêu” Sơn mê nhân vật Hoàng Dung, không ngờ sau này lấy vợ có rất nhiều điểm tương đồng còn mình thì vẫn ngơ ngơ như ngày xưa, bị vợ la hoài. Những mẩu chuyện kể ở trên đều liên quan đến những Thiên Sứ mà Sơn đã gặp ở Văn Học. Có thể có những Thiên Sứ khác đến giúp Sơn nhưng vô tình không hiểu được thông điệp của họ, cũng có thể quên. Sơn viết lên đây để cám ơn các Thiên Sứ của Văn Học, cám ơn thầy CBA đã cho học miễn phí hai năm và tất cả những người bạn đã đi cùng một chặng đường. 
>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
Nhớ Dalat -Phạm Thị Bích Thủy 
Tôi người dân miền cao nguyên Dalat Tuổi ấu thơ chân sáo bước đến trường Ngọn đồi Cù cùng đỉnh núi Lâm Viên đã hun đúc tâm hồn tôi khôn lớn Thầy cô tôi những người mang tâm nguyện giáo dục để vun bồi thế hệ sau Chúng tôi đám học trò nhỏ bảo nhau Mai khôn lớn nối truyền hoài bão ấy Nhưng cuộc đời có ai ngờ dâu bể Tháng tư đen mây xám phủ núi đồi Chúng tôi đành rời Dalat ra khơi Mang ước nguyện sẽ có ngày hội ngộ Chúng tôi như đàn chim vỡ tổ Hoảng hốt bay trên khắp quả địa cầu Hôm nay ta hội ngộ giữa quê người. 
>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
Thôi Để Lúc Khác -Nguyễn Hùng Hôm trước khi liên lạc được với Mái Ấm Văn Học, Huyền Ma Sơ có nhắn tham gia hát hò viết lách với cộng đồng Văn Học cho vui. Khi đó nghĩ tới cái khả năng còm cõi của mình đành im thin thít không dám trả lời. Tự nghĩ: thôi, yếu thì đừng bày đặt ra gió! Rồi vào trang web nghe, đọc. Nghe những giọng hát tuyệt vời, đọc những bài văn bài thơ đầy cảm xúc, đầy ắp những kỷ niệm. Những nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ của VH trổ tài làm ta choáng ngợp. Nghe tiếng hát tuyệt vời của Nhất Anh ta không ngạc nhiên lắm vì ngày xưa đã từng nghe rồi. Xưa đã hay thì bây giờ hay hơn là chuyện đương nhiên. Ta chỉ thật sự kinh ngạc với mấy ông nam, ta nhớ ngày xưa hầu như là ông nào cũng thộn y như mình mà bây giờ tài hoa quá cỡ như vậy, như ông Phạm Minh Cường với ông Nguyễn Hoàng Sơn. Cái ông NHS này ta nhìn hình mãi mà không nhớ được ngày xưa dung nhan lão trông như thế nào. Nhất Anh bảo ngày xưa lão ốm ốm đen đen mà cái khoản ốm và đen khi đó hình như là ta đứng hạng nhất nên mãi không hình dung ra được. Một ông thì đã hát hay lại còn viết lách ngon lành, một ông thì vừa viết bay bướm hấp dẫn vừa sở hữu một bộ nhớ tuyệt vời kể vanh vách chuyện ngày xưa cấm sai một chỗ nào. Mấy tay này làm ta cảm thấy vui vui hào hứng muốn nhào vô để cho “anh thư biết mặt quần hùng biết tên,” nhưng rồi nghĩ mãi vẫn chưa ra mình có cái ngón nào coi được để xuất chiêu với thiên hạ. Thôi, cứ để lúc khác, rồi sẽ có thôi. Ngày họp lớp mình đến tham dự với một tâm trạng vui vẻ, đầy hứng khởi vì được gặp lại thầy, bạn và tự hứa với lòng rằng: Ngày hôm nay ta sẽ tìm ra một ý tưởng nào đó để tham gia với các bạn cho vui. Nhưng…hỡi ôi…đến khi máu văn nghệ của các bạn nổi lên thì ta chết điếng bàng hoàng: Người tài hoa ở đâu ra mà nhiều đến thế? Như cái tay Trương Mùa khi thì làm người nghe phải yên lặng thưởng thức bản nhạc buồn sâu lắng lúc thì khiến mọi người cười bò lê bò càng chảy cả nước mắt với bài hát tiếu lâm. Trần Ngọc Tuấn hát đầy ngẫu hứng, đầy phong cách nghệ sĩ. Trần Văn Đồng khi đã cất tiếng hò thì tất cả phải nín thở mà nghe. Lại thêm Nguyễn Kim Long nữa, cái tay này hễ cứ mở miệng là thơ cứ tuôn ra như nước lũ về đồng bằng. Còn nữa… Còn nữa… Càng nghe thì thấy tự ti của mình càng lớn lên còn cái tài năng cọc cạch của mình càng bé lại. Tự nghĩ: thôi, để lúc khác. Ta cần có thời gian để đắp vá lại cái khả năng ọp ẹp của mình đã. Vài ngày sau, vừa mở hộp thư ra thì đập ngay vào mắt dòng chữ Mái Ấm Văn Học giới thiệu Nguyễn Đình Tài với bài viết Hai Cây Roi Mây Nhớ Đời! Trời đất ơi! Tên này vừa mới tái xuất gianghồ mà đã kịp thời tung chưởng rồi! Quả thật nhân tài Văn Học nhiều như lá mùa thu. Đọc bài của hắn, ta bỗng nhớ ngày xưa 80 cũng đã một lần thưởng thức món này của thầy Hiệu Trưởng, chợt cảm thấy một ý muốn mãnh liệt nổi lên thôi thúc ta phải làm một cái gì đó để chung vui với bạn bè. Trong Giai Thoại Làng Nho của Nhị Anh có viết: “Mình phải muốn, cái muốn sẽ có sức thu hút khởi đầu cho mọi chuyện.” Thì bây giờ ta đang muốn đây, cực kỳ muốn, ý tưởng đã có, vậy thì khởi đầu đi thôi. Quyết tâm rồi thì cũng cần bình tĩnh, giờ việc cần làm là chọn món nào trong các khoản hát hò viết lách để thi thố mà không lòi cái đuôi yếu kém của ta ra mới là quan trọng. Hát hò thì lộ tẩy ngay không thể bịp được cái lỗ tai “Em ơi…60 năm cuộc đời” của thế giới Văn Học được. Nhất Anh có bảo: “Thì cứ ra karaoke là OK ngay”, nhưng mà còn phải tập nữa chứ! Ra đó mà tập hát thì hơi tốn tiền, chưa kể đến chuyện ở Việt Nam nếu đi karaoke thường xuyên thì dễ quên đường về nhà lắm…. Còn viết thì ta tự biết cái sự nghiệp viết lách đồ sộ của mình chỉ gói gọn trong ba năm trung học đệ nhị cấp với mấy bài bình giảng văn trong lớp. Bây giờ mà may mắn kiếm được những quyển vở đó có khi chỉ cần đọc lại vài dòng là đã học được phép độn thổ ngay! Trong lúc bế tắc này lại nhớ quân sư Tứ Anh có tham mưu cho một chiêu hết sức …tào lao, ta mà làm theo lỡ bị lộ thì ăn đòn hội chợ là cái chắc. Tính sao đây… Đang xuống tinh thần, bỗng chợt nhớ đã từng nghe ai nói: “Cái đẹp xấu là tùy con mắt từng người nhìn thôi.” Đúng rồi, ngay như Trăm Năm Cô Đơn của Gabriel García Márquez có người đọc đến cả chục lần vẫn xuýt xoa khen hay, nhưng cũng có người mới đọc có vài trang đã quăng cái vèo, bĩu môi: “Dở ẹc!” Được rồi. Quyết định là viết và để tăng thêm dũng khí ta tự trấn an với lòng rằng: cứ viết đi, ai đọc bài viết của ta mà khen ta hoặc không có ý kiến gì thì là người biết đọc, còn ai đọc bài của ta mà chê ta thì là người biết chữ mà không…biết đọc! Trấn an kiểu này có vẻ mang hơi hướm của ả Q nhưng không sao, miễn củng cố thêm quyết tâm là được rồi. À mà bạn cười ta, ta cười bạn thế mới là bạn chứ! Rồi, xong, và bây giờ ta bắt đầu viết đây. Khỉ thật! Cái số của ta nó làm sao ấy. Vừa giơ tay định gõ vào bàn phím để cho ra đời một áng văn tuyệt tác thì mắt chợt nhìn sang đồng hồ: Đã đến giờ nấu cơm! Nhìn sang bên kia: một đống chén bát ăn từ hồi trưa chưa rửa! Ôi thôi, thế là những ý tưởng tuyệt vời, những lời văn bay bướm trong đầu ta lần lượt vỗ cánh bay đi không chào tạm biệt. Đúng là những vụn vặt đời thường luôn đối chọi với nghệ thuật cao quý. Và, thế là một cuộc đấu tranh tư tưởng giữa cơm nước và văn chương diễn ra ác liệt. Cuối cùng thì cơm nước đã hạ knock-outvăn chương. Đành ngậm ngùi: - “Thôi để lúc khác.” 

http://vyea.com/usr/nhianh/DALAT/MTLV/MTLV-V9-LR.pdf

VYEA Advisory Board - Cố Vấn Đoàn

Mrs. Vi Khuê - Mrs. Lê Tống Mộng Hoa - Ms. Nguyễn Kim Oanh - Dr. Phạm Văn Hải - Mr. Đinh Hùng Cường - Mr. Đoàn Hữu Định - Mr. Lê Khắc Huyền - Mrs. Bùi Châu Thiên Hương - Mr. Lê Dũng - Mr. Nguyễn Minh Dũng - Dr. Nguyễn Hưng - Mrs. Nguyễn Lê Thủy.

VYEA Board of Directors - Hội Đồng Quản Trị

  • President - Mrs. Chử Nhất Anh - Chủ Tịch
  • VP Internal - Mrs. Hoàng Lan Hương - Phó Chủ Tịch Nội Vụ
  • VP External - Mr. Trương Văn Thuần - Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ
  • Secretary General - Dr. Hoàng Việt Dũng - Tổng Thư Ký
  • Treasurer - Mrs. Trần Bùi Thúy Vân - Thủ Quỹ
  • Treasurer - Mrs. Nguyễn Thùy Trâm - Thủ Quỹ
  • Dr. Chử Nhị Anh
  • Mrs. Nguyễn Phan Trinh
  • Dr. Huỳnh Tường Minh
  • Mr. Đặng Văn Thành
  • Mr. Huỳnh Xuân Quang
  • Ms. Dương Kim Nguyệt
  • Commissions - Các Uỷ Ban
  • Material Committee - Ban Tu Thư
    • Mrs. Vi Khuê
    • Dr. Chử Nhị Anh
    • Mrs. Bùi Châu Thiên Hương
    • Dr. Huỳnh Tường Minh
    • Mr. Đặng Văn Thành
    • Mr. Huỳnh Xuân Quang
  • Summer School Principal
    • Mrs. Nguyễn Phan Trinh - Hiệu Trưởng Lớp Hè
    • Ms. Dương Kim Nguyệt - Phụ Tá Hiệu Trưởng

No comments:

Post a Comment