Saturday, June 20, 2015

TỪ BI THỦY SÁM PHÁP - Ngộ Đạt Thiền Sư - Thích Huyền Dung.


 Trước thuật: Ngộ Đạt Thiền Sư
Dịch Giả:
 Thích Huyền Dung
Phật Lịch: 2541-1997
“Tội từ tâm khởi cũng từ tâm diệt
Tội diệt tâm không cả hai đều hết”
“Nguyện nghiệp chướng Báo chướng,
Phiền não chướng, ba chướng tiêu trừ.
Nguyện Tân duyên,Cựu duyên,
Oan trái duyên, mọi duyên giải thoát”.



DUYÊN KHỞI
Thiết nghĩ ngoài các kinh, luật, luận của thánh giáo phiên dịch, nhiều sách vở của hiền nhân chế tác về sau đầu do nơi sự cảm ứng mà làm ra cả. Nếu riêng từ phảm loại mà nói  thì không dễ gì kể cho hết được. Ngay như bản linh văn mà gọi là Thủy Sám, tôi xin nói rõ đến căn do.
Thuở xưa về triều vua Đường  Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư trong một ngôi chùa nọ, nhà sư ấy mắc bệnh ma ca la ( bệnh cùi ) ai cũng gớm., chỉ có ngài Tri Huyền là thương gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm khích phong thái của ngài Tri Huyền mới dặn rằng:
- Sau này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.
Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài thì vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo . Nhân đó vua mới ân từ rất hậu cho ngài pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lại lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.
Trên đường đi trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía,  bỗng thấy dạng hai cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang mih chói rọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ ngài một cách thân mật.
Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt  mới tỏ hết tâm đau khổ của mình, nhà sư ấy nói:
- Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa mụn ghẻ ấy sẽ khỏi ngay.
Mờ sáng hôm sau, một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì mụn ghẻ kêu lên:
- Đừng rửa vội. Ông học nhiều hiểu rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?
- Tôi có đọc.
- Ông đã đọc rồi lẽ nào không biết chuyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy. Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông , song đã mười kiếp ông làm bậc cao tăng, giới luật tinh nghiêm nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông đucợ nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù ông được . Nay nhờ có Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước pháp tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa.
Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa, nhân đó ngài mới thấy thánh hiền ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở nên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới có sắc hiệu là “ Chí Đức Thiền Tự”. Có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép việc này rõ ràng.
Khi đó ngài Ngộ Đạt nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu không gặp thánh nhân thì do đâu khỏi được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này để mai chiều lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.
Ba quyển sám đây tức là bài văn của ngài làm ra lúc đó vậy.
Nghĩa chính của bài văn này là lấy nước Tam muội rửa sạch nghiệp oan khiên nên mới đặt tên là Thủy Sám.Lại ngài Ngộ Đạt cũng vì cảm điềm dị ứng của đức Ca Nặc Ca nên dùng tên ấy mà đặt tên cho bộ Sám văn này để đáp cái ân kia.
Nay tôi kể rõ sự thật và nêu công của tiên đức để cho những người lật bộ sám này, hoặc lễ, hoặc tụng, đều biết được sự tích của tiền hiền vì lẽ nhân quả tuy nhiều kiếp cũng không sai chạy.

Chú thích: Hán Đế giết Tiều Thố

Thế quân 7 nước rất lớn khiến Hán Cảnh Đế lo lắng. Tiều Thố trong mấy năm làm sủng thần của Hán Cảnh Đế, hay giám sát và hạch tội các quan đại thần và chư hầu, do đó bị nhiều người oán hận. Trong số những người mâu thuẫn với Tiều Thố cóViên Áng. Viên Áng từng nhận của đút lót của Ngô vương Tỵ và tâu với Cảnh Đế rằng Lưu Tỵ sẽ không làm phản. Tiều Thố tố cáo Áng nhận đút lót của với Cảnh Đế. Cảnh Đế không giết Viên Áng mà chỉ hạ lệnh cách chức, phế làm thứ dân.
Nghe tin 7 nước làm phản, Tiều Thố bàn nên bắt Viên Áng để thẩm vấn vì cho rằng Viên Áng đồng mưu. Trong khi còn do dự thì có người đi báo cho Viên Áng biết. Viên Áng sợ hãi bèn đến cầu cạnh xin ngoại thích Đậu Anh (cháu Đậu thái hậu) cứu giúp. Đậu Anh cũng vốn có mâu thuẫn với Tiều Thố vì bị động chạm quyền lợi do những chính sách Tiều Thố kiến nghị với vua được thi hành. Theo lời Đậu Anh, Hán Cảnh Đế triệu tập Viên Áng đến hỏi kế chống phản quân.
Khi Viên Áng đến nơi, đúng lúc Cảnh Đế và Tiều Thố bàn bạc việc điều động quân lương. Viên Áng xin được gặp riêng Cảnh Đế hiến kế. Cảnh Đế lệnh cho Tiều Thố ra ngoài. Viên Áng khuyên Hán Cảnh Đế nên bắt giết Tiều Thố thì quân chư hầu sẽ lui, vì chư hầu chỉ oán một mình Tiều Thố.
Cảnh Đế trong tình hình nguy cấp, vội vã nghe theo Viên Áng, bèn sai viên trung úy triệu kiến Tiều Thố. Tiều Thố đến nơi, quân lính lập tức bắt giữ và chém ngang lưng ở chợ Đông.
Cảnh Đế sai Viên Áng làm thái thường, cùng Đức hầu Lưu Thông là người từng quen biết với Ngô vương Tỵ lãnh trách nhiệm sứ giả đi báo với Ngô vương việc giết Tiều Thố và phục lại đất đai cho chư hầu.

 Phần nghi lễ
(Mọi người đều chỉnh tề đứng trước Tam Bảo mật niệm rằng)
Tịnh pháp giới chân ngôn: Án La Sa Ha (3 lượt)
(Chủ sám đọc)
Hết thẩy cung kính: Dốc lòng kính lễ mười phương pháp giới thường trụ Tam Bảo(3 lượt)
(Mọi người quỳ nguyện hương)
Nguyện đem lòng thành kính.
Gửi theo đám mây hương.
Phảng phất khắp mười phương.
Cúng dường ngôi Tam Bảo.
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tính làm lành,
Cúng pháp giới chúng sinh.
Cầu Phật từ gia hộ;
Tâm Bồ đề kiên cố.
Xa bể khổ sông mê.
Chóng quay về bờ giác.
Cúng dường đoạn: Dốc lòng kính lễ mười phương pháp giới thường trụ Tam Bảo.(1 lượt)
(Mọi người đều đứng dậy chắp tay tán phật)
Đấng pháp vương vô thượng,
Ba cõi chẳng ai bằng,
Thầy dậy khắp trời người,
Cha lành chung bốn loài,
Quy y trọn một niệm.
Dứt sạch nghiệp ba kỳ,
Xưng dương cùng tán thán.
Ức kiếp không cùng tận.
Án phạ phật la vật.(3 lượt)
Chí tâm đảnh lễ, Tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, chư phật, tôn pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ tam Bảo.(1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Sa bà giáo chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Tây phương Cực Lạc giáo chủ A Di Đà Phật. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đương lai giáo chủ Di lặc Tôn Phật. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đại Hạnh Phổ Hiền Vương Bồ Tát. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Ca Nhã Ca Bồ Tát.(1 lễ)
Chí tâm đảnh lễ, Ngộ Đạt Quốc Sư Bồ Tát.(1 lễ)
Con nay xin bốn ân ba cõi, pháp giới chúng sinh, nguyện xin ba chướng tiêu trừ chí thành Sám hối...(1 lễ)
(cùng quỳ để sám hối)
Chúng con xin chí thành sám hối:
Xưa kia gây nên bao ác nghiệp.
Đều vì ba nghiệp Tham, sân, si.
Bởi thân, miệng, ý phát sinh ra.
Hết thảy nay con xin sám hối.
Sám hối đoạn: Dốc lòng kính lễ Tam Bảo thường ở khắp mười phương.(1 lễ)
(Đồng quỳ: Chủ sám thỉnh) (1 lễ)
Kính nghe:
Lòng Từ Mẫn hằng vì muôn vật, tâm Bi Nguyện khéo độ quần sinh. Hai chữ Từ Bi làm tiêu hết muôn nghìn tội lỗi. Một lời niệm Phật cũng diệt trừ trăm vạn oan khiên.
Nguyên nhân làm ra văn Thuỷ Sám này, là do Viên Áng, Tiều Thố hai người, vì kết thành mối oan khiên, nên nghiệp quả kia khó tránh.
Dưới bóng song tùng ngài Ca Nhã hiện Phạm thể đoan nghiêm, trong ao Tam Muội ngài Ngộ Đạt thoát oan sang (mụn hình mặt người mọc nơi đầu gối.), khổ nạn. Nhân Từ tâm hướng về thiện niệm, vì thế nên đất hiện suối thơm. Văn Thuỷ Sám nay mở đầu, là nguyên do từ đó.
Sở sĩ, một giọt nước thấm nhuần lại là phương thuốc hay thoát khổ, một lời kêu Sám hối thực là đạo tối yếu trừ khiên; khả dĩ tiêu tan nhiều đời tội nặng; khả dĩ cứu vớt cực khổ nơi ba đường; khả dĩ gỡ mối oan khiên trong nhiều kiếp. Công đức sám ma ấy, khen ngợi mãi khôn cùng.
Hôm nay đàn tràng nghiêm tịnh, tiệc pháp kính bày. Quy mệnh mười phương Điều Ngự, Kính lễ Phổ Hiền nguyện vương, vận tưởng hương hoa, một lòng dâng cúng.
Muốn cho căn lành trong sạch, trước nên nghiệp chướng, tiêu trừ. Cúi mong đức đại Từ Bi trông xuống rủ lòng soi xét.
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lượt)
(Chủ sám và mọi người ngồi, cùng tụng theo nhịp mõ)
Thiên thủ thiên nhỡn vô ngại Đại bi tâm đà la ni
Nam mô hát ra đát na đá ra giạ gia. Nam mô a rị gia. Bà lô yết đế thước bát ra gia. Bồ đề tát đỏa bà gia. Ma ha tát đỏa bà gia. Ma ha ca rô ni ca gia. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị gia. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà già. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà gia đế, ma ha phạt xà gia đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất phật ra gia. Dá ra giá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá gia. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề giạ bồ đề giạ. Bồ đà giạ bồ đà giạ. Di đế lị giạ. Na ra cẩn trì. Địa lị sắc ni na. Ba giạ ma na, sa bà ha. Tất đà giạ, sa bà ha. Ma ha tất đà giạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra giạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khư gia, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà giạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà giạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà giạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra gia, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra giạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra giạ gia. Nam mô a lị gia, Bà lô cát đế, Thước bàn ra giạ, sa bà ha.
Án tất điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà gia, sa bà ha. 
Nam mô ly cấu địa bồ tát ma ha tát
(3 lượt)

Kính nghe:
Mỗi Đức Phật ra đời mở tám vạn bốn nghìn cửa Pháp. Một mặt trăng cõi thiên phá tối tăm quần sinh nơi đại địa. Mở rộng đạo mầu nhất thừa, sám diệt tội khiên hết thảy
Kính xin Bảy Phật Thế Tôn, mười phương Từ Phụ, hiện tướng hào quang sáng suốt, giám soi ý khẩn chân thành.
Phụng vì cầu sám cho tên là.........................Vận Sức Từ Bi Đạo Tràng Thuỷ Sám. Đây là quyển thượng, duyên khởi vào đàn, hành nhân chúng con, quỳ gối chắp tay, kính lễ mười phương Tam Bảo, quy y hết thảy Thánh Tăng, dĩa tỏ cầu thượng, mở bày sám hối.
Trộm nghĩ: Chúng con tên là.........................Nhất tính trái ngang chìm đắm hương về trong bốn thú, Nhất Chân mờ mịt loanh quanh ở mãi trong sáu đường. Nghiệp Thân, Miệng, ý buông lung, vì Tham, Sân, Si phóng túng. Làm càn làm bậy tạo ra nghiệp chướng vô biên, theo ác theo tà gây lấy lỗi lầm nhiều thứ.
Nay nhờ đức Như Lai mở bày cửa Pháp phương tiện, Khiến cho lũ chúng con phát khởi tam thành sám hối. Mong sạch tội cấu nghìn đời, trừ hết oan khiên nhiều kiếp. Con nguyện được như vậy, xin Phật rủ lòng thương; Ngửa mong đức Đại Từ Bi, vì con mà ngầm giúp.
(đại chúng ngồi tụng)
Lư hương vừa đốt,
Cõi pháp thơm lây
Chư Phật bốn biển đều xa hay
Thấu tâm thành này
Chư Phật hiện thân ngay.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.(3 lượt)
Chân ngôn tịnh tam nghiệp:
án sa phạ bà phạ chuật đà xa phạ đạt ma sa phạ bà phạ chuật độ hám.(3 lượt)
Chân ngôn phả cúng dàng:
án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhiệt la hộc.
(Lời Phát nguyện)
Kính lễ Đức Thế Tôn
Quy mệnh mười phương chư phật
Con nay phát nguỵên lớn
Trì tụng hành sám văn
Trên đền bốn trọng ân
Dưới cứu khổ muôn loài
Nếu có ai thấy nghe Đều phát tâm Bồ đề
Tụ tập các công đức
thực hành hạnh lợi tha
khi nào hết báo thân này
Đều vãng sinh cực lạc.

Kệ khai kinh:
Chính pháp sâu xa rất nhiệm mầu!
Trăm nghìn ức kiếp cũng khó gặp,
Con nay thấy nghe xin thụ trì,
Nguyện hiểu nghĩa chân của Như Lai.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(3 lượt)
Khải vận đạo tràng Sám Pháp, một lòng quy mệnh chư Phật trong ba đời.
Nam mô Quá khứ tỳ bà Thi Phật, (1 lạy)
Nam mô thi khí Phật, (1 lạy)
Nam mô tỳ xá phù Phật, (1 lạy)
Nam mô Câu Lưu Tôn Phật., (1 lạy)
Nam mô Câu na Hàm Mâu Ni Phật, (1 lạy)
Nam mô Ca Diếp Phật, (1 lạy)
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, (1 lạy)
Nam mô Đương lai Di lặc Tôn Phật, (1 lạy)

Pháp Từ Bi Thủy Sám

(Quyển thượng)

Tất cả chư Phật, vì thương xót chúng sinh, nói pháp lập đàn Thuỷ Sám. Chúng sinh vì nghiệp cấu nặng nề nên không một ai tránh khỏi tội lỗi. Những kẻ phàm phu bi màn vô minh che lấp, gần gũi bạn ác, phiền não loạn tâm, tính không hiểu biết, nên cứ buông lòng tự thị, không tin tưởng mười phương chư Phật, Không tin tôn Pháp, cùng các bậc thánh Tăng, bất hiếu cha mẹ, không kính nhường bà con. Tuổi trẻ phóng túng, kiêu căng ngạo mạn, đối với các vật quý báu, các thứ ca nhạc, các sắc đẹp trai gái thường sinh tâm tham luyến, ý khởi phiền não, lân la với người hư, tập tành theo bạn ác, không biết chừa đổi. Hoặc giết hại các giống sinh linh, hoặc uống rượu mê man mất hết trí tuệ, rồi thường cùng với chúng sinh tạo nghiệp phá giới. Những tội ác ở hiện tại ngày nay chí thành xin sám hối hết thảy, còn các tội lỗi về sau không dám làm nữa.
Bởi thế hôm nay chúng con dốc lòng thành kính quy y hết thảy các Đức Phật, các vị Đại Bồ Tát, Bích Chi, La Hán, Phạm Vương Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ và tất cả thánh chúng trong mười phương hư không thế giới cầu xin dủ lòng chứng giám.
Lễ Phật Và Bồ Tát
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Đỉnh lễ các đức Phật rồi, thứ lại sám hối. Nhưng, muốn làm lễ sám trước phải kính lễ Tam Bảo, vì Tam bảo là bạn lành, là ruộng phúc của tất cả chúng sinh. Nếu qui hướng Tam Bảo thì diệt được vô lượng tội, thêm được vô lượng phúc, khiến người làm đạo thoát khổ sinh tử, được vui giải thoát. Vì vậy cho nên chúng con tên là.........................
Quy y hết thảy chư Phật trong mười phương hư không thế giới (1 lạy)
Quy y hết thảy tôn Pháp trong mười phương hư không thế giới (1 lạy)
Quy y hết thảy Thánh Tăng trong mười phương hư không thế giới (1 lạy)
Sở dĩ ngày nay chúng con sám hối, chính vì từ vô thỉ nhẫn lại, còn ở địa vị phàm phu bất cứ sang hèn, tội lỗi không lường: hoặc do ba nghiệp gây nên tội lỗi, hoặc vì nội tâm vọng tưởng, hoặc vì ngoại cảnh mê hoặc sinh lòng nhiễm trước.
Như thế cho đến mười điều ác nghiệp, tám vạn bốn ngàn trần lao. Những tội lỗi ấy tuy nhiều vô lượng, nhưng không ngoài ba điều: phiền não, nghiệp chướng, quả báo. Ba ác pháp này là pháp chướng ngại thánh đạo, ngăn trở quả báo tốt đẹp nhân thiên. Thế nên kinh gọi là ba chướng, vì vậy Chư Phật, Bồ Tát dạy làm những pháp phương tiện sám hối trừ diệt. Ba chướng ấy diệt thì sáu căn mười ác, cho đến tám vạn bốn ngàn trần lao thảy đều thanh tịnh.
Hôm nay chúng con là........................................đem hết lòng thành, vận tâm thù thắng sám hối ba chướng. Muốn diệt ba chướng phải dùng những tâm niệm này: trước phải phát bảy tâm thù thắng làm phương tiện, sau mới trừ diệt:
Một là tâm tủi hổ, hai là tâm e sợ, ba là tâm chán xa, bốn là tâm bồ đề; năm là tâm oán thân bình đẳng; sáu là tâm nghĩ báo ân Phật; bảy là tâm oán xét tội tính vốn không.
Thứ nhất tâm tủi hổ, là tự nghĩ ta với đức Thích ca đồng là phàm phu, mà đức Thế Tôn đã thành đạo đến nay trải qua số kiếp nhiều như cát bụi, chúng ta thì lại còn cùng nhau say đắm lục trầntrôi lăn trong vòng sinh tử, chưa biết bao giờ ra khỏi. Như thế thật là đáng thẹn, đáng hổ nhất trong thiên hạ.
Thứ hai tâm e sợ, đang là phàm phu thì thân, khẩu, ý nghiệp thường thuận ưng với tội lỗi. Bởi nhân duyên ấy nên sau khi chết phải toạ vào địa ngục, ngã quỉ, súc sinh chịu khổ vô cùng. Như thế thật là đáng kinh đáng sợ.
Thứ ba tâm chán xa, là chúng ta thường cùng nhau quan sát trong đường sinh tử, chỉ là vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, hư giả như bọt nước nổi, tan, xoay vần qua lại như bánh xe lăn; còn thêm sinh, già, bệnh chết, tám khổ, nung nấu không dừng. Chúng ta xem sét ngay trong thân thể từ đầu đến chân có 36 thứ; tóc, lông, răng, móng, ghèn, nước mắt, mũi, nước miếng, gàu, mồ hôi, đại tiện, tiểu tiện, da dầy, da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tuỷ, mỡ chài, mỡ nước, óc, màng, lá lách, thận, tim, phổi, gan, mật, ruột, dạ dày, đàm đỏ, đàm trắng, sinh tạng, thục tạng, thường bài tiết ra chín lỗ. Nên trong kinh nói: Thân này là chỗ chứa, các khổ não, đầy dãy bất tịnh, nên kẻ trí giả chẳng hề yêu dấu. Trong vòng sinh tử đã có những cái xấu xa như thế, thực là đáng lo, đáng chán!
Thứ tư phát tâm bồ đề. Kinh nói: “Nên ham muốn thân Phật, vì thân Phật tức là Pháp thân, pháp thân ấy do vô lượng công đức trí tuệ sinh ra, do tu sáu pháp ba la mật sinh ra, do từ, bi, hỷ, xả sinh ra, do tu ba bẩy pháp trợ bồ đề sinh ra. Do những công đức trí tuệ ấy sinh ra Như Lai. Muốn được thân đó thì phải phát tâm Bồ đề, cầu được Nhất thiết chủng trí, Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, chứng quả Tát bà nhã, thanh tịnh Phật độ, thành tựu chúng sinh, chẳng tiếc thân mệnh tài sản”.
Thứ năm tâm oán thân bình đẳng, là đối với tất cả chúng sinh mở lòng từ bi không phân “nhân ngã”. Vì nếu còn thấy kẻ “oán” khác với người “thân”, tức còn có sự phân biệt. Bởi có phân biệt mới có chấp trước, bởi có chấp trước mới sinh phiền não, bởi sinh phiền não mới tạo nghiệp dữ, bởi tạo nghiệp dữ mới tạo quả báo.
Thứ sáu tâm nghĩ báo ân Phật. Đức Như Lai từ vô lượng kiếp đã vì chúng ta mà bỏ cả đầu, mắt, tuỷ, não, tay chân, xương thịt, quốc thành, vợ con, voi ngựa, thất bảo, tu hành khổ hạnh. Ơn đức ấy thật khó báo đền. Vì vậy kinh nói: “Giả sử đầu đội vai mang, trải qua số kiếp như hằng hà sa, cũng khó đền đáp ơn Phật. Chúng ta muốn đền đáp công ơn của đức Như Lai, trong đời này phải dũng mãnh, tinh tiến gắng chịu khổ nhọc, không tiếc thân mệnh gây dựng Tam Bảo, hoằng dương giáo pháp đại thừa, hoá độ chúng sinh, đồng vào ngôi Chính giác”.
Thứ bẩy tâm quán xét tội tính không thật, là tội không tự tính, do nhân duyên sinh, do điên đảo thành, đã do nhân duyên sinh thì cũng do nhân duyên diệt. Nhân duyên sinh tội tức là gần gũi bạn ác gây nghiệp vô cùng. Nhân duyên diệt tội tức là ngày nay tịnh tâm sám hối. Thế nên kinh dạy: “Tội tính không phải ở trong, không phải ở ngoài, không ở chặng giữa. Nên biết tội tính vốn không”.
Khởi bảy thứ tâm như trên ấy rồi, lại duyên tưởng đến mười phương chư Phật, cùng các hiền thánh, cung kính chắp tay phơi bày tâm can tỏ lòng cầu khẩn khổ thẹn sám hối. Sám hối như thế, tội nào không diệt, phúc nào không sinh. Nếu không hết lòng sám hối, cứ lần nữa biến nhác, tình tự buông lung thì chỉ khổ nhọc cho mình, chứ không ích lợi gì cả. Và lại mạng người vô thường như quay vó đuốc. Khi hơi thở ra không trở lại thì thân này đồng như tro đất, khổ báo trong ba đường chính mình, phải chịu, không thể nhờ tiền tài, của báu để lo nhờ thoát khỏi,ở mãi trong cảnh mịt mù không có kỳ hạn ân sá, riêng mình chịu khổ, không ai thay thế.
Đừng cho rằng trong đời này ta không gây tội, mà không ân cần cầu sám hối, vì trong kinh nói:” kẻ phàm phu mỗi khi động chân cất bước là có tội”. Lại trong những đời quá khứ đã gây nên nhiều điều ác nghiệp, không thể kể xiết, nó thường theo dõi như bóng theo hình. Nếu không sám hối thì tội ác ngày càng sâu. Nên biết rằng hễ che giấu tội lỗi của mình, thì phật còn không dung cho, tỏ rằng để sám hối thì ngài Tịnh Danh kính chuộng. Bởi thế nên biết chúng sinh bị chìm đắm mãi trong bể khổ cũng do thói hay che giấu tội lỗi. Vì vậy ngày nay chúng con xin phát lộ sám hối, không dám che dấu.
Ba chướng: Một là phiền não, hai là nghiệp chướng, ba là quả báo. Ba thứ chướng này làm nhân cho nhau, như do phiền não mới sinh ác nghiệp, do ác nghiệp mà phải khổ báo. Vì thế ngày nay chúng con xin hết lòng sám hối.
Thứ nhất sám hối các nghiệp chướng phiền não, vì những phiền não ấy đều do ý gây ra. Và khi ý nghiệp phát khởi, thì thân nghiệp, khẩu nghiệp theo đó phát động. ý nghiệp có tham lam, có giận dữ, có ngu muội. Bởi ngu muội mới sinh tà kiến mà gây lắm việc ác. Vì vậy kinh nói: “Ba nghiệp tham, sân, si làm cho chúng sinh đoạ lạc trong ba đường: địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, chịu khổ vô cùng. Nếu được làm người cũng phải chịu những ác báo phiền não: nghèo nàn, túng thiếu, côi cút, lại thêm tính nết hung hăng, càn bướng, ngu độn, không biết phải quấy”.
Ý nghiệp đã gây nhiều ác quả như thế, nên ngày nay chúng con dốc lòng đem hết thân mệnh nương về chư Phật, Bồ tát, các bậc thánh nhân, đã thấu tỏ chân lý, đủ mọi điều quở tránh. Gọi phiền não này là oán gia, vì phiền não làm dứt mất tuệ căn, tuệ mệnh của chúng sinh; cũng gọi phiền não này là cái thác chảy mạnh, vì lôi quấn chúng sinh vào bể khổ sinh tử; cũng gọi phiền não này là xiềng xích, vì ràng buộc chúng sinh trong ngục sinh tử không khi nào ra khỏi, cứ phải quanh quẩn mãi trong sáu nẻo bốn loài, gây nghiệp ác vô cùng, chịu quả khổ không ngớt. Thế mới biết những hoạn hoạ ấy đều do phiền não mà ra. Cho nên ngày nay vận tâm tăng thượng cầu xin sám hối.
Từ vô thỉ đến nay, chúng con hoặc chịu quả báo trong sáu đường, hễ có tâm thức, thường ôm mối ngu hoặc đầy dãy tâm can, hoặc nhân mầm tam độc tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tam lậu tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tam khổ tạo nên tất cả tội,hoặc duyên tam đảo tạo ra tất cả tội, hoặc tham tam hữu tạo nên tất cả tội. Những tội như thế vô lượng vô biên não loạn tất cả bốn loài chúng sinh trong sáu đường. Ngày nay hổ thẹn đều xin sám hối.
Lại nữa chúng con từ vô thỉ nhẫn lại, hoặc nhân bốn trụ tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn lưu tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn thủ tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn chấp tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn duyên tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn đại tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn ngón phược tạo nên tất cả tội, hoăc nhân bốn tham tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn sinh tạo nên tất cả tội.
Những tội như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường. Ngày nay hổ thẹn đều xin sám hối.
Lại nữa, chúng con từ vô thỉ nhẫn lại, hoặc nhân năm món trụtạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm món cáitạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm món xan tạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm món kiến tạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm tâm tạo nên tất cả tội. Những phiền não như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường, ngày nay tỏ bày cầu xin sám hối.
Lại nữa chúng con từ vô thỉ nhẫn lại, hoặc nhân sáu căn tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu thức tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu tưởng tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu thụ tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu hành tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu ái tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu nghi tạo nên tất cả tội. Những phiền não như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường, ngày nay hổ thẹn tỏ bày, cầu xin sám hối.
Lại nữa chúng con từ vô thỉ lại đây, hoặc nhân bảy món lậu tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bảy món sử tạo nên tất cả tội,hoặc nhân tám món đảo tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tám món cấu tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tám khổ tạo nên tất cả tội. Những phiền não như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường ngày nay tỏ bày, cầu xin sám hối.
Lại nữa chúng con từ vô thỉ nhẫn lại, hoặc nhân chín não tạo nên tất cả tội, hoặc nhân chín kết tạo nên tất cả tội, hoặc nhân chín duyên tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười phiền não tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười triền tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười một biến sử tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười hai nhập tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười sáu tri kiến tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười tám giới tạo nên tất cả tội, hoặc nhân hai mươi lăm ngã tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu mươi hai kiến tạo nên tất cả tội, hoặc nhân chín mươi tám sử, một trăm tám phiền não của kiến hoặc, tư hoặc đêm ngày bập bùng mở cửa hữu lậu gây nên tất cả tội, loạn não thánh hiền và bốn loài chúng sinh, đầy dãy ba cõi tràn khắp sáu đường không còn chỗ trốn lánh. Ngày nay hết lòng cầu khẩn hướng về mười phương chư Phật, tổn Pháp, Thánh chúng, hổ thẹn giãi bày đều xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối tất cả phiền não ba độc, chúng con nguyện đời đời kiếp kiếp được ba thứ trí tuệ, ba món sáng tỏ, diệt được ba khổ đầy đủ ba nguyện. Lại nguyện nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền não vì bốn món thức, chúng con..........................đời đời kiếp kiếp được mở rộng bốn tâm bình đẳng, lập bốn tín nghiệp diệt bốn đường ác, được bốn vô uý. Nguyện nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền não vì năm món cái...chúng con...đời đời kiếp kiếp, quả khỏi được năm đường dựng được năm căn, năm thứ tịnh nhỡn, thành tựu năm phần pháp thân. Lại nguyện, nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền não của sáu thụ, chúng con...................................đời đời kiếp kiếp được đầy đủ sáu món thần thông, sáu phép lục độ. Không bị sáu trần mê hoặc, thường làm được sáu diệu hạnh. Lại nguyện nhờ công đức sám hối tất cả phiền não vì bảy lậu, tám cấu, chín kết, mười triền, chúng con.................. đời đời kiếp kiếp được ngồi trên hoa thất tịnh được tắm nước bát giải, đủ trí cửu đoạn, thành tựu hạnh thập địa.
Lại nguyện, nhờ công đức sám hối tất cả phiền não vì mười một biến sử, mười hai nhập, mười tám giới, chúng con........................….đời đời kiếp kiếp được hiểu mười một món không, tâm thường nương những món không ấy, tự tại chuyển nói mười hai hành pháp luận,đầy đủ mười tám món bất cộng pháp vô lượng công đức đều viên mãn.
Phát nguyện xong, chí tâm chỉnh lễ chư phật:
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Đảnh lễ chư Phật rồi, kế lại sám hối.
Phép sám hối chính là sửa đổi sự lỗi lầm đã qua, diệt ác làm lành. Người đời ai không lỗi, như bậc hữu học lỡ mất chính niệm còn bị phiền não nổi lên, bực La Hán có lúc kết tập phát khởi cũng còn phạm phải những nghiệp thân, khẩu, ý, huống kẻ phàm phu sao khỏi tội lỗi. Những người có chí biết trước liền ăn năn đổi lỗi, còn kẻ ngu si giấu giếm, nên tội lỗi thêm tràn đầy, chất chứa lâu ngày không biết khi nào tỏ ngộ. Nếu biết hổ thẹn giãi bày sám hối, không những diệt được tội lỗi, còn thêm vô lượng công đức, gây dựng quả vị Niết Bàn vi diệu của Như Lai. Muốn thật hành phép sám hối, trước hết thân phải nghiêm trang chỉnh tề, chiêm ngưỡng tôn tượng, tâm phải khởi ý cung kính, theo phép quán tưởng, hết lòng cầu khẩn, để tâm suy nghĩ hai điều: Thứ nhất phải nghĩ thân mệnh khó giữ thường còn, một khi tan nát không biết bao giờ được lại. Nếu không gặp chư Phật cùng các bậc hiền thánh, lại gặp phải bạn ác, tạo thêm nhiều tội nghiệp, sẽ bị đoạ lạc chốn hiểm hang sâu. Thứ hai phải tự nghĩ ngày nay, ta tuy gặp chính pháp Như Lai, lại không biết vì phật pháp nối dõi giống Thánh, tẩy sạch ba nghiệp thân, khẩu, ý, để cư xử theo thiện pháp, lại riêng làm việc ác, cố ý che đậy, nói người khác không biết, kẻ kia không thấy, giấu kín trong lòng ngang nhiên không hổ thẹn. Như thế thật là một điều hết sức ngu hoặc trong thiên hạ.
Mười phương chư Phật, chư đại Bồ tát cùng các vị thiện thần, lúc nào lại không dùng thiên nhỡn thanh tịnh mà soi thấy hết những tội ác của chúng ta gây tạo.
Và lại các thần linh ở chốn u minh ghi chép tội phúc không sai một mảy may nào. Nói đến những người đã làm nên tội lỗi, sau khi chết rồi bị ngục tốt đầu trâu thâu bắt thần hồn dem nạp trước mặt diêm vương để tra xét điều phải trái. Bây giờ tất cả kẻ oán cừu đang làm chứng nói:” ngươi trước kia mổ ta, giết ta, nấu, hầm, rang, nướng ta...” hoặc nói:” trước kia ngươi cướp bóc lấy hết tiền bạc ta ly dán quyến thuộc ta, ngày nay ta mới có dịp ở trước ngươi làm chứng cớ rõ ràng, đâu còn giấu giếm chỉ đành cam chịu những tội lỗi trước”.
Trong kinh nói rõ: ở địa ngục không bao giờ xử oan. Người nào ngày thường gây những tội gì, tuy đã quên mất, nhưng đến khi chết những hình tướng ấy do các nghiệp ác độc tạo nên từ trước đều hiện ra, nói: “Xưa kia ngươi ở bên ta tạo những tội ác như thế nay làm sao giấu giếm được?”. Lúc đó tội nhân không còn chỗ nào che đậy, ngay lúc ấy diêm vương nghiến răng quở trách rồi cho vào địa ngục trải vô lượng kiếp, chẳng hòng thoát khỏi. Việc đó chẳng phải xa lạ mà cũng không quan hệ gì với người, chính tự mình tạo tự mình phải chịu, dù chí thân mưu cha con, một khi quả báo đối đầu, cũng không thay thế cho nhau được.
Vậy nay chúng ta cùng được làm thân người khoẻ mạnh, không bệnh tật, nên gắng sức tu hành, tranh đua cùng thọ mệnh, khi đại nạn xảy đến hối hận không kịp. Bởi thế chúng con dốc lòng, cầu xin sám hối.
Từ vô thỉ đến nay, chúng con bị vô minh che khuất, tâm trí, do phiền não tạo các nghiệp ác trong ba đời. Hoặc say đắm dục lạc sinh ra “phiền não ham muốn”, hoặc giận giữ bực tức sinh ra “phiền não hãm hại”, hoặc tâm trí tối tăm sinh ra “phiền não không hiểu rõ”, hoặc ngã nạn tự cao sinh ra “phiền não ngạo nghễ”, hoặc nghi ngờ chánh đạo sinh ra “phiền não do dự”, hoặc bác không nhân không quả sinh ra “phiền não tà khiến”, hoặc không biết thân cảnh do nhân duyên giảng hợp, sinh ra “phiền não chấp ngã”, hoặc mê lầm trong ba đời sinh ra “phiền não chấp thường chấp đoạn”, hoặc gần gũi tà pháp sinh ra “phiền não kiến thủ”, hoặc theo lầm tà sư sinh ra “phiền não giới thủ”, cho đến do tất ca bốn món chấp thành ra “phiền não chấp trước sai lầm...”. Ngày nay trí thành đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, bởi có tính bo bo lận tiếc sinh ra “phiền não keo bẩn” bởi không thâu nhiếp sáu căn sinh ra “phiền não buông lung”, bởi để tâm làm những việc xấu xa ác độc sinh ra “phiền não bất nhẫn”, bởi biếng nhác trễ nải sinh ra “phiền não không siêng năng” bởi hay ngờ vực lo nghĩ bông lông, sinh ra “phiền não giác quán” bởi súc cảnh mê hoặc, sinh ra “phiền não không hiểu biết”, bởi theo tám thói xấu ở đời, sinh ra, phiền não nhân ngã, bởi dối trá, khen trước mặt, chê sau lưng, sinh ra “phiền não tâm không ngay thẳng”, bởi thô cứng khó dạy sinh ra” phiền não không điều hoà”, bởi dễ giận khó vui, sinh ra “phiền não uất hận”, bởi hay ghen ghét đâm thọc sinh ra “phiền não hung dữ”; bởi hung bạo độc hại, sinh ra “phiền não thâm độc”, bởi trái với thánh đạo sinh ra “phiền não điên đảo”, bởi cứ theo chiều sinh tử, không diệt được mười hai nhân duyên sinh ra, “phiền não luân chuyển” cho đến do vô minh trụ địa, từ vô thỉ khởi ra hằng sa phiền não, khởi tứ trụ địa, gây thành khổ quả trong ba cõi, Khổ quả phiền não vô lượng vô biên, não loạn hiền thánh, bốn loài chúng sinh trong sáu nẻo. Ngày nay giãi bày trước mười phương chư Phật, tôn Pháp, Thánh chúng, đều xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức đã sám hối những phiền não tham, sân, si do ý nghiệp khởi ra, đời đời kiếp kiếp bẻ tràng kiêu mạn, khô nước ái dục, tắt lửa sân hận, phá tối ngu si, nhổ gốc ghi hoặc, xé lưới tà kiến, biết rõ ba cõi như ngục tù, tứ đại như rắn độc, ngũ ấm như kẻ thù, lục nhập rỗng không, dối trá thân thiện, siêng tu tám món thánh đạo, dứt nguồn vô minh, nhắm thẳng Niết bàn không hề dừng nghỉ, luôn luôn để tâm làm theo ba mươi bảy phẩm trợ đạo, cùng mười phép ba la mật thường được hiện tiền.
Sám hối phát nguyện rồi, hết lòng tin tưởng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.

Pháp Từ Bi Thủy Sám

(Quyển trung)

Tất cả chư Phật thương xót chúng sinh mới nói pháp đạo tràng Thuỷ Sám. Ngày nay chúng con xin kính lễ chư Phật.
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Đảnh lễ chư Phật rồi, thứ lại sám hối.
Đến nay thân tâm chúng con được yên tịnh, trong không bị phiền não dối gạt, ngoài không bị chướng nạn ngăn trở, chính là lúc sinh thiện diệt ác, lại phải thực hành bốn món quán hạnh, để làm phương tiện dứt tội.
Bốn món quán hạnh là:
1)      Quan sát nhân duyên,
2) Quan sát quả báo,
3) Quan sát thân mình,
4) Quan sát thân Như Lai
Thứ nhất quan sát nhân duyên: Biết mình có tội, do vô minh suy nghĩ xằng bậy, không sức chính quán, không biết tội lỗi xa lìa bạn tốt, xa lìa chư Phật, Bồ tát, theo dõi đường ma lối hiểm, như cá nuốt câu không biết tai hoạ, như tằm làm kén tự rằng buộc mình, như con thiêu thân đâm đầu vào lửa tự thiêu đốt mình, do nhân duyên ấy không thể giải thoát
Thứ hai quan sát quả báo: Vì những ác nghiệp nên phải luôn chuyển mãi trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) chịu quả khổ vô cùng, chìm đắm trong đêm dài, biển lớn bị lũ quỉ La sát phiền não ăn thịt, sự sinh tử sau này mênh mang không bờ bến. Dầu cho phúc báo được làm đến bực chuyển luân thánh vương, thống trị bốn châu thiên hạ, bay đi tự tại, đủ các thất bảo, sau khi chết cũng không khỏi đường ác, dầu được hưởng quả báo tứ không thiên, cao nhất trong ba cõi, khi phúc đã báo hết rồi còn phải trở lại làm trùng trong yếm trâu, huống những kẻ không phúc đức gì lại giải đãi không siêng năng sám hối, thế chẳng khác chi ôm đá gieo mình xuống vực sâu, khó mong ra khỏi.
Thứ ba quan sát thân ta: tuy có chính nhân giác tính, nhưng bị phiền não hắc ám che lấp, không có sức liễu nhân, thành ra bản tính vốn sáng suốt kia, không tỏ rõ được. Ngày nay cần phải phát tâm thù thắng phá tan màn vô minh, dẹp hết chướng ngại điên đảo, diệt trừ nguyên nhân hư nguỵ của sinh tử, làm sáng tỏ của trí tuệ, sáng suốt của Như Lai, đặng gây dựng quả Niết Bàn vô thượng.
Thứ tư quan sát thân Như Lai: Vô vi tịnh chiếu, xa bốn cấu bặt trăm lỗi, đầy đủ các đức trạm nhiên thường trú, dầu phương tiện vào diệt độ, nhưng lòng từ bi cứu vớt chúng sinh không hề tạm nghỉ.
Khởi tâm quan sát như thế, tức là bến lành để diệt tội, là hạnh cốt yếu để trừ nghiệp chướng. Vì vậy ngày nay chí thành cầu xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, chúng con nuôi thêm phiền não, ngày càng sâu dày, càng nảy nở, che đậy tuệ nhỡn không thấy được lẽ chân nguỵ, dứt trừ mọi việc lành không cho nối tiếp nhau, khởi phiền não làm trở ngại không được thấy Phật, không nghe chính Pháp, không gặp Thánh Tăng; khởi phiền não làm trở ngại không thấy được nghiệp lành nghiệp dữ trong đời quá khứ, hiện tại, vị lai và pháp xuất ly; khởi phiền não làm trở ngại không được địa vị tôn quí ở cõi trời, cõi người; khởi phiền não làm trở ngại không được sinh vào cõi sắc, cõi vô sắc để hưởng phúc báo yên vui thiền định; khởi phiền não làm trở ngại không được phép thần thông tự lại, bay, đi, ẩn, hiện đến khắp các cõi Phật trong mười phương để nghe pháp; khởi phiền não làm trở ngại không học được phép quán đếm hơi thở để tâm khỏi tán loạn, phép quán về bất tịnh để ngăn ngừa tâm ham muốn, phép quán về nhân duyên để dứt bỏ tâm si mê; khởi phiền não làm trở ngại không học được phép noãn, đảnh, nhẫn, đệ, nhứt, bảy phép phương tiện; khởi phiền não làm trở ngại, không học được những phép từ, bi, hỷ, xả, văn, tư, tu; khởi phiền não làm trở ngại sự hiểu biết về quán hạnh của ba món không, bình đẳng, trung đạo; khởi phiền não làm trở ngại không học những phẩm trợ đạo, niệm xứ, chính cần, căn, lực và ý túc; khởi phiền não làm trở ngại không học đạo bát chính chỉ rõ về phần tướng; khởi phiền não làm trở ngại sự học đạo thất giác chi không chỉ về hình tướng; khởi phiền não làm trở ngại không học đạo bát giải thoát cửu không định; khởi phiền não làm trở ngại sự học các phép thập trí, tam tam muội, khởi phiền não trở ngại những phép lục độ, tứ vô ngại, tứ đẳng, khởi phiền não làm trở ngại sự học phép tứ nhiếp để giáo hoá khắp chúng sinh; khởi phiền não làm trở ngại sự học bốn hoằng thệ của Đại thừa tâm: khởi phiền não làm trở ngại sự học những phép thập minh, thập hạnh, khởi phiền não làm trở ngại sự học phép thập hồi hướng, thập nguyện; khởi phiền não làm trở ngại sự học minh giải của các ngôi sơ địa, nhị địa, tam địa, tứ địa; khởi phiền não làm trở ngại sự học những điều tri kiến của các ngôi, ngũ địa, lục địa, thất địa; khởi phiền não làm trở ngại sự học phép song chiếu của các ngôi bát địa, cửu địa, thập địa; khởi phiền não làm trở ngại sự học  những hạnh tu trong trăm vạn a tăng kỳ kiếp.
Những chướng ngại sự tu hành ấy vô lượng vô biên, ngày nay chúng con hết lòng thành khẩn hướng lên mười phương chư phật, tôn Pháp, Thánh chúng, hết sức hổ thẹn cầu xin sám hối, nguyện xin dứt sạch.
Nguyện thờ công đức sám hối tất cả các phiền não làm trở ngại sự tu hành, chúng con được thụ sinh tự tại, khắp nơi khắp chốn muốn được ở không bị nghiệp cảm chất chứa xoay chuyển, lại còn dùng phép thần thông như ý, trong khoảnh khắc đã dao khắp mười phương vùa trang nghiêm thanh tịnh các cõi phật, vừa nhiếp hoá tất cả chúng sinh. Những cảnh giới thiền định rất cao thâm, cùng những sự thấy biết của chư Phật, chúng con nguyện hiểu thấu một cách vô ngại, tâm thường bao quát tất cả các pháp, tự tại diễn nói, không bị nhiễm trước, được tâm tự tại, pháp tự tại, phương tiện tự tại, khiến những phiền não ngu dốt kết tập lâu đời, đều được dứt hẳn, không còn tiếp nối, để chứng được thánh vô lậu, sáng chói như mặt trời.
Phát nguyện rồi xin đem cả thân mệnh kính lễ chư Phật.
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Đảnh lễ chư Phật rồi, kế đến sám hối.
Chúng con………………………..đã lược sám những phiền não chướng, giờ xin theo thứ lớp sám hối những nghiệp chướng. Nghiệp lực tu bồi các nẻo, bất cứ chỗ nào cũng bị đắm nhiễm, không chịu suy nghĩ để mong cầu giải thoát. Bởi vậy nên quả báo trong sáu đường không đồng nhau, hình thể mỗi loài một khác. Thế mới biết đó do nghiệp lực gây ra trong mười lực của Phật, nghiệp lực sâu thẳm hơn hết.
Kẻ phàm phu phần nhiều hay sinh lòng nghi hoặc. Vì thấy ở đời người làm lành lại gặp nhiều trắc trở, kẻ làm ác mà được mọi sự an hoà, mới cho rằng việc lành dữ không có phân minh, người chấp như thế bởi không đạt thấu lý sâu xa nghiệp báo. Kinh nói có ba thứ nghiệp báo:
Một là hiện báo, hai là sinh báo, ba là hậu báo. Hiện báo là tức là trong đời này làm việc thiện ác thì ngay thân mà chịu quả báo. Sinh báo tức là trong đời này làm việc thiện ác, qua đời sau mới chịu quả báo. Hậu báo tức là trong vô lượng kiếp về quá khứ đã làm việc thiện ác, đến đời này hoặc vô lượng kiếp về sau mới chịu quả báo.
Còn người bây giờ làm ác mà gặp may mắn bởi do những nghiệp lành sinh báo, hậu báo đã thuần thục trong kiếp quá khứ, nên mới hưởng quả tốt đẹp. Như thế không phải trong đời này làm ác mà được quả báo tốt. Những người bây giờ làm lành lại bị khổ sở, do những nghiệp ác sinh báo, hậu báo đã thuần thục trong kiếp quá khứ, nên những mầm thiện ngày nay sức yếu không thể ngăn dẹp những nghiệp ác ấy, nên phải chịu quả khổ.
Đâu phải trong đời này làm lành mà chịu ác báo. Lại thấy trong đời những kẻ làm lành, được người khen ngợi kính trọng, nên biết ngày sau ắt được hưởng quả vui sướng. Chúng ta về quá khứ đã có những nghiệp ác như thế, nên Chư Phật Bồ Tát dạy phải gần gũi bạn lành, cùng làm phép sám hối. Gặp được bậc thiện tri thức là điều lợi lớn cho sự tu hành đắc đạo. Vì thế ngày nay chúng con xin chí thành qui y Phật.
Lại từ vô thỉ đến nay, chúng con chất chứa nghiệp ác nhiều như cát sông hằng, gây tội lỗi đầy cả hai đại địa, hết bỏ thân này lại thụ thân khác, không hay không biết, hoặc phạm tội ngũ nghịch sâu dầy, trói buộc nặng nề gây nên tội vô gián hoặc gây nên tội xiển đề thành nghiệp bỏ mất căn lành, khinh chê lời phật dạy thành nghiệp báng bổ kinh điển đại thừa, phá diệt Tam Bảo thành nghiệp huỷ hoại chính pháp, không tin tội phúc thành nghiệp thập ác, hiểu lầm chân lý làm trái chính pháp thành nghiệp si mê, bất hiếu cha mẹ thành nghiệp ngang trái, khinh mạn sư trưởng thành nghiệp không kính lễ, thất tín bạn bè trở thành nghiệp bất nghĩa, phạm tội tứ trọng, bát trọng thành nghiệp làm trở ngại thánh đạo, huỷ phạm năm điều răn cấm thành nghiệp phá giới bát quan trai phạm ngũ thiên tất tụ thành nghiệp nhiều phạm giới, phạm giới ưu bà tắc thành nghiệp khinh trọng cấu trước khi thọ giới, sau khi thọ giới làm nhiễm ô phạm hạnh, mỗi tháng không ăn chay sáu ngày thành nghiệp giải đãi, mỗi năm không ăn chay luôn ba tháng thành nghiệp tu không thường, không giữ gìn ba nghìn uy nghi thành nghiệp không đúng giới pháp, không giữ gìn tám vạn luật nghi thành nghiệp vi tế tội, hoặc gây ra nghiệp không tu thân giới, tâm tuệ, hoặc gây nên nghiệp tám, ngày vượng xuân thu tạo các tội lỗi, hoặc gây nên nghiệp làm mười sáu món ác luật ghi hoặc gây nên nghiệp đối với chúng sinh không lòng thương xót, gây nên nghiệp không lân mẫn, không cứu giúp, ôm lòng đố kỵ thành ra nghiệp không cứu độ mọi loài, còn có chỗ oan thân thành ra nghiệp không bình đẳng, say đắm ngũ dục thành ra nghiệp không nhàm lìa, hoặc vì cơm áo, vườn rừng, ao hồ, thành ra nghiệp phóng đãng, dâm dật, hoặc vì tuổi trẻ phóng túng dục tình tạo ra các tội lỗi, hoặc tạo nghiệp lành hữu lậu để hồi hướng cầu sinh trong ba cõi thành nghiệp ngăn ngại pháp xuất thế
Những tội lỗi ấy vô lượng vô biên, ngày nay chúng con hướng về mười phương Chư Phật, Tôn Pháp, Thánh chúng xin giãi bày xám hối.
Nhờ phúc lành sám hối các tội lỗi vô minh, ác nghiệp dứt sạch, được sinh phúc lành, nguyện chúng con đời đời kiếp kiếp diệt được tội ngũ nghịch, trừ hoặc nghiệp xiển đề. Tất cả nghiệp ác vừa nặng vừa nhẹ, từ nay trở đi đến khi thành Phật, thề không dám phạm. Chúng con nguyện thường chăm lo tu tập những thiện pháp xuất thế thanh tịnh, chuyên trì giới luật tinh nghiêm, giữ gìn uy nghi như người qua biển mến tiếc phao nổi. Những pháp lục độ, tứ đẳng tâm (từ, bi, hỷ, xả), thường nêu trước cả muôn hạnh, những phẩm Giới, Định, Tuệ càng thêm sáng tỏ, mau thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mười lực, bốn vô uý, ba niệm đại bi ,diệu trí thường lạc, tám món tự tại của đức Như Lai. Chúng con...............................nguyện quy y chư Phật, xin rủ lòng từ bi hộ niệm.
Trước chúng con đã sám hối chung cả các nghiệp, nay lại xin theo thứ lớp sám hối riêng từng tội một. Những tội lỗi ấy hoặc chung (tội do ba nghiệp gây ra), hoặc riêng (tội do một trong sáu căn gây ra) hoặc to (tội do thân gây ra), hoặc nhỏ (tội do ý gây ra), hoặc nhẹ (tội do vô tâm gây ra) hoặc nặng( tội do sự cố ý gây ra), hoặc nói( thứ tội ai cũng biết), hoặc không( tội do một mình mình làm, một mình mình biết), có từng phẩm loại chúng con nguyện đều dứt hết. Sám hối riêng từng tội. Trước sám hối ba nghiệp của thân, sau sám hối bốn nghiệp của miệng, còn lại những nghiệp chướng khác, lần lượt xin sám hối tất cả.
Ba nghiệp của thân, thứ nhất là nghiệp giết hại, như kinh đã nói: “Dung thứ kẻ khác như dung thứ mình, chớ giết, chớ đánh”. Tuy loài cầm thú cũng biết bảo tồn thân mệnh sợ chết như mình. Nếu tìm xét kỹ thì các chúng sinh từ vô thỉ lại, hoặc đã là cha mẹ, anh em hoặc đã là bà con quyến thuộc, nhưng bởi nhân duyên nghiệp báo, nên phải luân hồi sáu nẻo, ra vào đường sinh tử, thay hình đổi dạng không còn nhận biết lẫn nhau. Nay chúng ta đang tâm giết hại ăn thịt, như thế rất tổn hại lòng Từ Bi. Vì thế Phật dạy: “Giả sử được ăn các món rau quả còn tưởng tượng như trong đời đói khát phải ăn thịt con, huống là ăn cá thịt”. Phật lại dạy: “Vì lợi giết chúng sinh, lấy tiền mua thịt cá, cả hai đều là ác nghiệp, sau chết đoạ vào địa ngục rên siết”. Vì thế nên biết giết hại loài vật và lấy thịt ăn, tội sâu như sông biển, nặng như gò núi. Song từ vô thỉ đến nay, chúng con vì không được gặp bạn lành nên mới tạo những nghiệp ấy. Kinh dạy: “Tội giết hại thường làm chúng sinh đoạ vào địa ngục, ngã quỉ để chịu khổ báo. Nếu đầu thai trong loài súc sinh phải chịu làm thân hùm, beo, chó sói, bồ cắt, hoặc làm thân rắn độc, rết độc, ôm lòng hiểm ác, hoặc làm thân hươu nai, thỏ beo, luôn luôn sợ hãi. Nếu được làm người, mắc phải hai thứ quả báo: Một là nhiều bệnh, hai là chết yểu.
Sự giết hại loài vật ăn thịt, đã gây biết bao ác báo như thế, ngày nay chúng con chí thành cầu xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, khi có tâm thức này, thường ôm lòng thâm độc, không dạ xót thương hoặc vì tham lam mà giết, hoặc vì giận dữ si mê khinh mạn mà giết, hoặc dùng phương tiện độc ác mà giết, hoặc thề giết, nguyền giết, dùng phù chú giết v.v...hoặc phá hồ tháo nước, thiêu đốt núi rừng, săn bắn chài lưới, hoặc nhân khi gió phóng lửa, hoặc thả chim săn, chó săn làm não hại tất cả mọi loài. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối. Hoặc dùng cạm bẫy hầm hố, câu liêm kích, cung nỏ bắn chết những loài chim bay, thú chạy hoặc dùng lưới rập, thả câu để đơm bắt những loài dưới nước làm cho tất cả những giống ở nước: cá, ba ba. trạch, dọp, ốc, tôm, hến... ở mặt đất, trên không chẳng còn chỗ nào chốn núp; hoặc nuôi gà, heo, dê, chó, ngỗng vịt để tự mình giết ăn, hoặc mượn người làm thịt, khiến tiếng kêu thương của chúng chưa dứt mà lông cánh đã rơi rụng, mai vẩy đã tan nát, đầu một nơi, thân một ngả, xương thịt tiêu tan, lột, xé, mổ, cắt, đốt, thui, nấu, nướng đau đớn biết dường nào. Than ôi! ỷ sức mạnh giết hại loài vô tội ăn thịt, chỉ sướng miệng một lúc, được chút vị ngon, bất quá vì ba tấc lưỡi mà phải mang lấy tội báo kiếp kiếp đời đời. Những tội ác như thế, ngày nay chúng con xin chí thành sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay hoặc khởi binh đánh nhau, giao tranh nơi biên trường, hai bên giáp mặt, giết hại lẫn nhau, hoặc tự mình giết, hoặc sai người giết, hoặc nghe ai giết sinh tâm vui mừng, hoặc tập làm nghề mổ heo bò, đi làm thịt mướn, xẻ nấu thân mệnh loài vật, gây nhiều việc bất nhẫn, hoặc giận giữ khoa mác múa dao, hoặc chém hoặc đâm, hoặc xô xuống hầm hố, hoặc nhấn chìm dưới nước, hoặc lấp hang phá ổ, hoặc lấy đất đá ngăn lấp, hoặc dùng xe ngựa lăn cán dày đạp tất cả chúng sinh. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin giãi bày sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay: Hoặc phá thai, đập trứng, dùng trùng độc, thuốc độc diệt hại chúng sinh, hoặc khai khẩn đất cát, trồng cấy vườn ruộng, nuôi tằm, ươm kén, giết hại càng nhiều; hoặc đập đuổi ruồi muỗi, nhằn cắn chí rận, hoặc đốt rác dơ bẩn, khai tháo ngòi rãnh giết hại loài vật,hoặc ăn trái cây, dùng thóc gạo, rau dưa, phải giết càn chúng sinh; hoặc đốt củi thắp đèn đuốc, thiêu chết các loài côn trùng; hoặc lấy tương dấm không khuấy động trên mặt; hoặc đổ nước sôi làm chết sâu kiến, cho đến khi đi, đứng, nằm, ngồi cũng thường giết hại chúng sinh nhỏ nhít bay trên không bám dưới đất. Bởi phàm phu tâm thức tối tăm không hay biết mới phạm phải các tội, ngày nay đều xin giãi bày sám hối. Lại từ vô thỉ đến nay, đối với chúng sinh, hoặc dùng roi, gậy,gông, xiềng, hoặc dùng kìm kẹp tra khảo, đánh vật thoi đạp, lấy dây trói buộc giam cùm, tuyệt hẳn cơm nước, dùng những cách độc ác làm khổ não chúng sinh, ngày nay chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn pháp, Thánh chúng, cầu xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội giết hại ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp được thân hình bền chắc như kim cương, sống lâu vô cùng, xa lìa oán ghét, không còn nghi đến những việc giết hại. Đối với chúng sinh coi như con một. Nếu thấy bị tai nạn nguy cấp thì trước tuỳ phương tiện giải cứu, không lẫn tiếc thân mệnh, rồi sau mới đem chính pháp nhiệm màu nói cho, khiến chúng sinh thấy hình thấy bóng đều được an vui, nghe tên nghe tiếng liền sợ hãi. Vì thế ngày nay, chúng con xin cúi đầu qui y theo Phật.
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Đảnh lễ chư Phật rồi, kế đến sám hối nghiệp trộm cướp.
Trong kinh nói: “Vật của người khác thì người đó giữ. Dầu một lá rau, cọng cỏ mà họ không cho cũng không được lấy, huống chi trộm cướp”. Nhưng vì chúng sinh chỉ thấy lợi trước mắt nên lấy một cách trái đạo, đến nỗi sau này phải chịu tai ương. Bởi vậy kinh nói: “Tội trộm cướp làm chúng sinh bị đoạ vào địa ngục, ngã quỉ, chịu khổ vô cùng”. Nếu đầu thai trong đường súc sinh, phải chịu làm thân trâu ngựa, la, lừa, lạc đàv.v...đem thân máu thịt của mình trả nợ kiếp trước cho người. Nếu được làm người, phải chịu làm thân tôi mọi kẻ khác, áo không đủ che thân, cơm ăn không đủ bữa, bần cùng khốn khổ, lẽ sống của con người hầu như không con gì nữa. Sự trộm cướp đã có khổ báo như thế, ngày nay chúng con trí thành cầu xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, chúng con hoặc trộm tiền tài, bảo vật kẻ khác, hoặc cầm dao cưỡng đoạt hoặc tự mình xông đến bức người lấy của, hoặc ỷ quyền nương vào thế lực, dùng kim to kẹp lớn ép chế oan người lương thiện, hoặc thâu tiền đút lót của bọn gian, đánh thẳng người ngay buộc cho là tà vậy, vì những nguyên nhân ấy khiến họ xa vào lưới pháp luật, hoặc ăn tiền của kẻ dưới khiến họ dung túng làm bậy, hoặc lấy của công làm lợi riêng, lấy của riêng vào việc công, làm tổn hại người kia đem lợi cho người này, làm tổn hại người này đem lợi cho người kia, lấy bớt của kẻ khác làm lợi cho mình, miệng hay nói bố thí mà tâm thì bỏn sẻn, ăn cắp thuế ruộng, thuế chợ, trốn thuế đò ải, bớt của công để dùng vào việc riêng, dấu sưu dịch để sai làm việc mình. Những tội như thế ngày nay đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, hoặc chỗ bạn bè qua lại sư Tăng đồng học hay cha mẹ anh em, bà con quyến thuộc cùng ở chung nhau, mà trăm món cần dùng lừa dối gạt gẫm nhau, hoặc đối xóm riềng gần gũi dời rào, xê tường, xâm lấn đất nhà người khác, đổi mốc thay nêu, cướp giựt tiền của, bao chiếm ruộng vườn, mượn tiếng việc công để làm lợi riêng, sang đạt hàng quán rẫy bái của người. Những tội như thế ngày nay đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, hoặc đánh phá thành ấp, đốt làng phá dậu (hàng rào) buôn bán lương dân, dụ dỗ tôi tớ của người, hoặc áp chế oan những kẻ vô tội, hoặc bị đâm chém máu rơi thịt nát, thân bị đày ải, gia sản tan nát, cốt nhục chia lìa, mỗi người một cõi, sống chết cách tuyệt. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, buôn bán hàng hoá, lập quán đổi trác đồ vật, dùng cân non, đấu nhỏ, giảm bớt thước tấc, xén lấn phân thù lường gạt từng li, đem của xấu đổi lấy của tốt, đem thứ ngắn đổi thứ dài, giả dối trăm chiều để mong cầu chút lợi. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, hoặc khoét vách đào tường, chặn đường cướp đoạt, hoặc trốn nợ, xén bớt tài lợi, hoặc phụ tình trái hẹn, ngoài mặt lừa dối, trong lòng mưu toan, hoặc cướp giựt trái đạo, đồ vật của quỉ thần,cầm thú, chúng sinh, hoặc mượn cớ coi quẻ coi tướng để gạt lấy tài sản của người, như thế cho đến đem lợi cầu lợi, cầu cách vô đạo, càu cách tham lam, không biết chán, không biết đủ. Những tội lỗi như thế vô lượng vô biên, không thể nói hết, ngày nay chúng con chí thành, hướng về mười phương Chư phật, Tôn Pháp, Thánh  chúng, đều xin sám hối.
Nguyện do công đức sám hối những tội trộm cướp ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp ngọc như ý thường xuất sinh bảy món trân bảo, y phục cực đẹp, đồ ăn đủ vị,đủ các thứ thuốc men, tuỳ ý muốn vật chi tức có liền vật ấy, lại nguyện cho tất cả chúng sinh không ai còn tưởng đến sự trộm cướp, ít ham muốn, biết vừa đủ, không đắm nhiễm, thường vui lòng bố thí, thực hành đạo cứu tế, bỏ đầu, mắt, tuỷ, não như đã bỏ đờm rãi, để mong thành tựu bố thí ba la mật.
Kế đến chúng con.............................. xin sám hối tội tham ái. Trong kinh nói: “Chỉ vì tham dục nên bị giam hãm trong ngục si mê, chìm đắm trong vòng sinh tử, không biết ngõ ra”. Chúng sinh vì say đắm ngũ dục, nên từ xưa tới nay bị lưu chuyển mãi trong đường sinh tử. Giá cứ lấy xương tất cả chúng sinh trong muôn ngàn kiếp chất đống lại thì bằng núi Tỳ phú la ở thành Vương xá, sữa mẹ cho bú nhiều như nước bốn biển, máu huyết trong mình chảy ra còn hơn thế nữa, nước mắt cha mẹ anh em bà con quyến thuộc thương khóc khi lâm chung cũng nhiều như nước bốn biển. Vì thế nên nói: Còn tham ái thì còn sinh tử, hết tham ái thì hết sinh tử diệt. Thế mới biết tham ái là gốc sinh tử. trong kinh nói: “tội dâm dục hay khiến chúng sinh bị đoạ vào địa ngục, ngã quỉ, chịu khổ vô cùng”; Nếu ở trong loài súc sinh phải làm chim bồ câu, chim sẻ, chim uyên ương. Nếu sinh trong loài người thì gặp vợ (hay chồng) phụ bạc, bà con toàn với những người trái ý. Sự dâm dục có quả báo xấu xa như thế, nên ngày nay chúng con trí thành cầu ai sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, chúng con hoặc quyến rũ thê thiếp chiếm đoạt vợ con của người, hoặc làm ô nhục ni cô, phá phạm hạnh người khác, hiếp bức một cách vô đạo, đem tâm bất chính, xem ngó lẳng lơ, nói cười bỡn cợt, hoặc điếm nhục thanh danh gia tộc của người, hoặc làm nhơ tiếng tốt của người, hoặc làm hạnh bất tịnh với năm hạng người bán nam bán nữ. Những tội như thế thật vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội dâm dục ấy, đời đời kiếp kiếp được tự nhiên hoá sinh, không do bào thai, được thanh khiết sáng sủa, tướng mạo quang minh, sáu căn tỏ rõ, thông minh lanh lợi, hiểu rõ ân ái là cùm xích bó buộc, xét kĩ sáu trần là trò huyễn hoá, mà quyết định xa lìa cảnh ngũ dục, cả đến trong giấc mộng cũng không nghĩ điều bất chính, những điều mê hoặc ở trong ở ngoài, không thể động tâm.
Sám hối phát nguyện rồi, chúng con xin đem hết thân mệnh kính lễ Tam Bảo.
Chúng con trước đã sám hối ba nghiệp ác của thân, nay xin theo thứ lớp sám hối bốn nghiệp của miệng.
Trong kinh nói: Những tội, nghiệp do miệng gây ra, thường làm chúng sinh bị đoạ vào địa ngục, ngã quỉ chịu khổ vô cùng. Nếu đầu thai vào loài súc sinh phải làm thân chim cú, chim mèo, tiếng kêu đáng ghét. Nếu được sinh vào loài người, thì hơi miệng hôi thối, nói không ai tin, còn trong bà con quyến thuộc thường xảy bất hoà, đánh lộn cãi lẫn. Nghiệp của miệng đã có những ác quả như thế, nên ngày nay chúng con chí thành qui y Tam Bảo cầu xin sám hối. Chúng con.................................từ vô thỉ đến nay, vì nghiệp ác khẩu nên phải ở trong bốn nẻo, sáu loài,tạo nhiều tội lỗi, nói năng thô tháo, lời lẽ hung bạo ngang tàng, không biết tôn ty, đối với kẻ thân người sơ, kẻ sang người hèn, hơi trái ý mình, đã nổi giận hờn la mắng, mắng nhiếc huỷ nhục nhiều điều hèn hạ xấu xa, ác độc, không chừa điều chi, khiến cho người khác ôm hạn suốt đời không quên, gây hoạ kết thù chẳng bao giờ dứt, lại còn oán thán trời đất, trách móc quỉ thần, chê bai các bậc hiền thánh, vu oan điếm nhục người lương thiên. Những tội nghiệp do ác khẩu gây ra như thế thật vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối. Lại từ vô thỉ đến nay, vì nghiệp nói dối, tạo ra bao nhiêu tội lỗi: Trong ý mong cầu danh dự, lợi dưỡng, giấu diếm tình thực, dối trá đủ điều, trong tâm mê muội, ngoài mặt dạn dầy, chuyện có nói không, chuyện không nói có, thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, biết nói không biết, không biết nói biết, làm nói không làm, không làm nói làm, khi miệt thánh hiền, lường đảo dối hoặc người đời, đến như cha con, vua tôi, họ hàng,bè bạn mà nói năng gì cũng không khi nào thành thực, khiến người khác lầm nghe mình đến nỗi phải tan nhà mất nước. Lại còn giả trò yêu thuật, thường tự khen mình, khoe mình đã chứng tới bực tứ thiền, tứ vô sắc định, an na bát na, mười sáu quán hạnh, chứng bậc Tu đà hoàn, đến bực A la hán, Bích Chi Phật, bậc Bất thoái Bồ Tát và thiên long quỉ thần, thần gió, thần đất đều đến bên mình, lại bầy trò lạ mê hoặc lòng người để mong cung kính cúng dâng, bốn món cần dùng. Những tội nghiệp do vọng ngữ gây ra như thế, vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, vì nghiệp nói thêu dệt (ỷ ngữ) tạo ra bao nhiêu tội lỗi: dùng âm từ hoa mỹ, văn chương bóng bẩy, xuyên tạc sự sai lầm, trang sức điều trái quấy, khéo đặt những bản ca hát hình dung vẻ yêu kiều, mô tả thói dâm ô, khiến cho hạng trung lưu, hạ lưu động tâm đãng tính, say đắm tử sắc không thể tự giác. Hoặc phóng túng tư thù, không kể lời nghị bàn công chính, dẫu người kia là bậc trung thần, hiếu tử hay là chí sĩ, hiền nhân vẫn cứ làm văn thêu dệt lên tội, để người đời sau tin cho là thật, khiến người kia phải ôm hận dưới cửu tuyền không biết đâu biện bạch.
Những tội nghiệp do ỷ ngữ gây ra như thế, vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, vì nghiệp nói hai lưỡi gây ra bao nhiêu tội lỗi: khen trước mặt, chê sau lưng, sảo trá trăm chiều,tới người kia nói chuyện người này, tới người này nói chuyện người kia, chỉ biết lợi mình, không nhìn hại đến kẻ khác, dèm siểm để ly gián vua tôi, vu oan huỷ nhục người lương thiện, để cho vua tôi nghi kị nhau, cha con bất hoà nhau, vợ chồng để bỏ nhau, họ hàng thân thích xa nhau, làm mất ơn thầy trò, dứt đường lui tới bạn bè, cả đến làm cho hai nước đang giao hảo phải huỷ bỏ minh ước, mất hoà khí, gây sự oán thù, đem binh đánh nhau, giết hại trăm họ. Nghiệp nói hai lưỡi gây ra tội lỗi vô lượng vô biên như thế, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn pháp, Thánh chúng, đều xin giãi bày cầu ai sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối bốn nghiệp ác khẩu, đời đời kiếp kiếp được đầy đủ tám thứ âm thanh, bốn món biện tài, thường nói những lời hoà hợp lợi ích, giọng nói thanh nhã ai cũng muốn nghe, lại được hiểu rõ ngôn ngữ chúng sinh. Nếu có nói chi đều được thích hợp căn cơ, khiến cho ai nghe cũng được tỏ ngộ, nhập thánh siêu phàm, mở phát tuệ nhỡn.
Sám hối và phát nguyện rồi xin đem hết thân mệnh kính lễ Tam Bảo.
Trước đã làm sám hối ba nghiệp ác của thân, bốn nghiệp ác của miệng, nay xin theo thứ lớp sám hối những tội chướng do sáu căn gây ra.
Chúng con......................... từ vô thỉ đến nay, mắt vì hình sắc ở ngoài làm mê hoặc, ham thích những màu đen, vàng, đỏ, tía, xanh, cùng những đồ chơi trang sức quí giá; hoặc thấy tướng mạo đàn ông, đàn bà cao, thấp, trắng, đen, cử chỉ yêu kiều diễm lệ, mà khởi ra tư tưởng phi pháp; hoặc tai ham nghe tiếng hay như cung, thương, đàn, sáo, ca hát, trò vè, hoặc nghe những dọng thanh tao, lời ăn nói tiếng khóc cười của đàn ông, đàn bà mà khởi ra  những tư tưởng phi pháp; hoặc mũi thích ngửi mùi thơm của gỗ trầm, gỗ chiên đàn, long não, xạ hương hay mùi thơm của cây uất kim, cây tô hợp mà khởi ra những tư tưởng phi pháp; hoặc lưỡi ham nếm những vị ngon lành, tươi tốt, ngọt béo nên phải lấy máu thịt chúng sinh, để nuôi thân tứ đại, vun quén thêm cội khổ, mà khởi ra những tư tưởng phi pháp; hoặc thân mình ham muốn sự loè loẹt, gấm, vóc, lụa, là, tất cả những thứ mượt dịu, y phục đẹp đẽ bằng thất trân, mà khởi ra những tư tưởng phi pháp; hoặc ý hay loạn tưởng nên gặp đâu cũng trái pháp. Bở sáu căn tạo ra tội nghiệp vô lượng vô biên như thế, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư phật, Tôn pháp, Thánh  chúng, đều xin sám hối.
Nhờ công đức sám hối tội lỗi do nhỡn căn gây ra, chúng con nguyện mắt này thấy xuất phát thân thanh tịnh của mười phương chư Phật, Bồ Tát, không bằng sự sai biệt.
Nhờ công đức sám hối tội lỗi do nhĩ căn gây ra, chúng con nguyện tai này thường được nghe chính pháp của mười phương Chư Phật, hiền thánh đã nói và thực hành đúng theo giáo pháp ấy.
Nhờ công đức sám hối tội lỗi do tỵ căn gây ra chúng con nguyện mũi này thường ngửi hương thơm nhập pháp tính ở cõi Hương Tích, xa lìa mùi hôi thối bất tịnh của sinh tử.
Nhờ công đức sám hối do thiệt căn gây ra chúng con nguyện lưỡi này thường ăn món ăn thiền, duyệt pháp thực, không tham mùi máu thịt của chúng sinh.
Nhờ công đức sám hối tội lỗi do thân căn gây ra, chúng con nguyện thân này mặc được “áo Như Lai” khoác “giáp nhẫn nhục”, nằm “ giường vô uý”, ngồi “toà pháp không”.
Nhờ công đức sám hối tội lỗi do ý căn gây ra, chúng con nguyện ý này thành tựu được mười lực thông suốt được năm minh, xét do ý chân không bình đẳng của hai đế, theo trí tuệ phương tiện vào được dòng nước pháp tính, niệm niệm sáng suốt, phát hiện phép vô sinh nhẫn của Như Lai.
Phát nguyện rồi, xin đem cả thân bệnh kính lễ thường trụ Tam Bảo
Hết quyển trung

Pháp Từ Bi Thủy Sám

(Quyển Hạ)

Tất cả chư Phật vì thương xót chúng sinh, mới nói phép đạo tràng Thuỷ Sám. Ngày nay chúng con xin đem cả thân mệnh, hướng về hết thảy chư Phật
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Đảnh lễ chư phật rồi thứ lại sám hối.
Trên kia đã sám hối ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng. Bây giờ chúng con xin sám hối tất cả nghiệp chướng đối với Phật, Pháp, Tăng.
Trong kinh Phật dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe, chúng tăng khó gặp, tín tâm khó sinh, sáu căn khó đủ, bạn tốt khó gặp”. Ngày nay chúng ta nhờ kiếp trước đã gây nhiều căn lành, nên mới được làm thân người, sáu căn đầy đủ, lại gặp bạn lành, được nghe chính pháp. Nếu trong lúc này không hết lòng tinh tiến tu hành, ắt sau này sẽ bị chìm đắm trong muôn ngàn khổ đau không biết ngày nào ra khỏi bởi thế hôm nay, chí thành càu xin sám hối.
Chúng con...................... từ vô thỉ đến nay thường bị vô minh che tâm tính, phiền não chướng ý thức, thấy hình tượng Phật không hết lòng cung kính, khinh miệt chúng tăng, tàn hại bạn tốt, phá tháp huỷ chùa, thiêu đốt kinh tượng làm hại kinh Phật; hoặc mình ở nhà đẹp để tượng Phật, Bồ Tát ở chỗ thấp hèn, bẩn thỉu, khói hun, nắng táp, gió thổi mưa chang, bụi đất dính đầy, chim chuột đục khoét; hoặc thờ chung trong phòng ngủ không từng kính lễ, hoặc ở trần trước tượng phật, không sửa y phục trang nghiêm, chỉnh tề; hoặc che đậy đèn đuốc, đóng kín cửa chùa, che lấp ánh quang minh chỗ Phật. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, đối với pháp Phật, lấy tay bẩn cầm các quyển kinh, hoặc đang khi đọc tụng, xem nói lời tục tĩu, phi pháp; hoặc để kinh trên đầu giường ngồi đúng không cung kính; hoặc để trong  rương tráp, sâu mọt ăn nát; hoặc quấn tròn làm cho sổ rớt, mất  nát, thứ tự lộn lẫn, bộ loại; hoặc lôi kéo vướng đứt làm rách giấy vướng chữ, tự mình không tu tập, không chịu lưu truyền. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin chí thành sám hối.
Lại nằm dài nghe kinh, nằm ngửa tụng đọc, hoặc nói cười lớn tiếng, làm rộn người khác nghe pháp; hoặc giải sai lời phật dạy, nói khác Thánh ý, không phải chính pháp nói là chính pháp, chính là chính pháp, nói không phải chính pháp; chẳng phạm nói phạm, nói phạm chẳng phạm, tội nhẹ nói nặng, tội nặng nói nhẹ, hoặc sao chép kinh sách đoạn trứơc để đoạn sau, đoạn sau đem để đoạn trước, hoặc đoạn trước đoạn sau đem để ở giữa hoặc đoạn giữa đem để ra trước sau; hoặc thêu dệt lời văn trong kinh Phật, để làm sách riêng của mình; hoặc vì danh dự lợi dưỡng, cung kính mà nói Pháp; không lòng vị pháp, chỉ vì muốn tìm lỗi của pháp sư mà bàn luận nghĩa lý; không vì tăng tiến sự hiểu biết để cầu pháp xuất thế, mà chỉ đàn hạch một cách vô lý, hoặc khinh mạn lời phật, tôn trọng tà giáo, chê bai Đại Thừa, khen ngợi Thanh Văn. Những tội như thế vô lượng vô biên, ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, đối với chúng Tăng gây ra các nghiệp chướng, như giết bậc a la hán, phá sự hoà hợp của chúng tăng, hại những người phát tâm Vô thượng Bồ đề, dứt tuyệt giống Phật, làm cho Thánh đạo không lưu hành được hoặc lột xẻ người tu hành, tra khảo bậc Sa Môn, đánh đập đầy đoạ, dùng lời thô bỉ mắng nhiếc,hoặc phá giới hạnh thanh tịnh làm mất hết uy nghi; hoặc khuyên người khác bỏ đạo bát chính; hoặc giữ và thực hành theo năm phép tà; Hoặc giả dạng nhà sư trộm của thường trụ tiêu sài việc riêng. Những tội như thế, ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Hoặc để mình trần, hay mặc y phục mỏng manh đường đột đến trước kinh phật; hoặc mang giầy bẩn thỉu đi vào điện Phật, dẫm nên thác phật; hoặc mang guốc vào chùa, hoăc đàm nhổ nước miếng trong nhà thiền, làm dơ nhớp chỗ phật và chúng Tăng ở; hoặc đánh xe cưỡi ngựa xông pha trong chùa chiền tịnh xá. Phàm đối với Tam Bảo mà khởi ra những tội lỗi như thế, thật vô lượng, vô biên ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Thánh chúng cầu xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp thường gặp được Tam Bảo, để tôn ngưỡng cung kính, không bao giờ chán nản, lại có gấm lụa tốt đẹp, anh lạc quí giá, trăm nghìn âm nhạc, các món danh hương, các thứ hoa quả tốt tươi có đủ những vật sở hữu trên đời để cúng dàng. Nếu có vị nào thành Phật chúng con nguyện đến trước khuyến thỉnh mở của cam lồ cứu độ chúng sinh. Nếu có vị Phật nào nhập niết Bàn, chúng con nguyện được cúng dàng một lần sau chót. Còn như trong hàng chúng tăng, chúng con nguyện tu sáu phép hoà kính, được sức tự tại, trùng hưng Tam Bảo trên hoằng dương Đạo Phật, dưới hoá độ chúng sinh.
Những tội hoặc nặng hoặc nhẹ, đối với tam bảo đã sám hối rồi, còn lại những tội lỗi khác chúng con xin theo thứ lớp sám hối hết thảy. Nhưng trong kinh nói: “Có hai mạng người được mạnh mẽ: một là tự mình không gây tội, hai là đã gây tội mà biết ăn năn sám hối”. lại có hai phương pháp trong sạch, có thể làm cho chúng sinh diệt trừ được các món chướng ngại, một là biết khổ luyện, tự mình không làm ác, hai là biết thẹn, nên không xúi người khác làm ác. Có hổ thẹn như thế mới gọi là người, nếu không biết hổ thẹn thì không khác cầm thú. Bởi vậy ngày nay chúng con chí thành qui y phật, xin đúng theo phép mà sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, vì mê tín tà kiếm nên giết hại chúng sinh để cúng tấu quỉ thần, lị mị vọng lượng, cầu được sống lâu nhưng không bao giờ được hoặc nói dói thấy ma quỉ, rồi giả xưng là thần để gạt người. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, hoặc hành dộng láo sược, tự cao tự đại, hoặc ỷ dòng quí tộc khinh dẻ mọi người, cậy mình sang trọng khinh kẻ hèn hạ, hoặc ỷ sức mạnh ăn hiếp kẻ yếu, hoặc uống rượu rồi gây sự loạn đả không kể người thân sơ, say sưa xuất ngày không biết tôn ty, những tội ngư thế ngày nay chúng con xin sám hối.
Lại như tham ăn uống không tiếc độ, ăn gỏi thịt gỏi cá, hoặc ăn năm thứ cây nồng mùi hôi bay nên xông uế các kinh tượng, xua đuổi những kẻ tu hành giữ giới thanh tịnh; buông lung tâm ý, xa lìa người lành gần gũi bạn ác. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối. Lại có tính cống cao, bầy điều giả dối, bắt người khác theo mình, càng bướng cố chấp cho mình là hay, ương ngạnh chống báng không biết nhân tình, cho mình là phải, người khác là quấy và hay hi vọng ở sự may rủi. Những tội như thế ngày nay chúng con xin sám hối.
Còn lâm đến chỗ tiền tài lại không nhường nhịn, không liêm sỉ, mua bán rượu thịt, lừa dối kẻ sống hoặc cho vay nặng lời, tính từng ngày từng giờ góp chứa một cách cay nghiệt, tham cầu không biết chán; hưởng thụ của dâng cúng không biết hổ thẹn; hoặc không biết giới đức mà lạm nhận của tín thí. Những tội như thế ngày nay chúng con đều xin sám hối.
Và đánh đập tôi tớ, sai khiến trẻ con làm việc nặng, không kể đến sự đói khát lạnh nóng của chúng; hoặc phá dỡ cầu cống ngăn trở sự đi lại, những tội như thế ngày nay chúng con đều sám hối.
Lại để mạc ý mình phóng túng, lung lăng tán loạn, chỉ để thì giờ đánh xu bồ, đánh cờ tướng, hoặc vây đoàn hợp lũ, uống ăn rượu thịt, chén tạc chén thù làm rối cho nhau; nói chuyện vu vơ, hay bàn luận chuyện thiên hạ, hết năm này qua năm khác để ngày giờ trôi qua không lợi ích gì; mỗi đêm ba thời không tụng kinh ngồi thiền, lười biếng, giải đãi cứ nằm dài, suốt ngày không để tâm quán sáu món niệm xứ thấy người khác có việc hơn mình lại sinh ghen ghét ôm lòng hiểm độc, khởi đủ phiền não để cho gió lốc vật dục thổi vào củi lửa tội lỗi, cháy luôn không ngớt, thiêu mất những điều lành nhỏ của ba nghiệp. Khi những pháp lành đã hết thì hoá ra rất xiểm đề, đoạ vào địa ngục lớn, không có kì hạn ra được. Bởi thế ngày nay, chúng con cúi đầu hướng về mười phương tam bảo xin sám hối hết thảy.
Tất cả tội lỗi từ trước tới nay, hoặc nhẹ hoặc nặng hoặc thô hoặc tế,hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, hoặc thấy người khác làm vui mừng, hoặc dùng thế lực bắt buộc người khác làm, cả đến những tội khen người làm ác, ngày nay chúng con chí thành đều xin sám hối.
Nguyện nhờ công đức sám hối các tội ác ấy, chúng con đời đời kiếp kiếp được từ hoà, trung hiếu, khiêm nhường, nhẫn nhục, biết liêm sỉ, biết chào đón trước, sửa mình chính đáng, trong sạch nhân nghĩa, nhường nhịn, xa lìa bạn ác, thường gặp duyên lành, thâu nhiếp được sáu căn, giữ gìn được ba nghiệp, nhẫn lại được khổ nhọc, tâm không thoái lui, cứ lập chí tu hành đắc đạo, không phụ bạc chúng sinh.
Phát nguyện rồi đem hết thân mệnh kính lễ chư Phật
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Trước đã sám hối những phiền não chướng, nghiệp chướng, ngay theo thứ lớp giãi bày những quả báo chướng còn lại, xin sám hối hết thảy.
Trong kinh nói: “Khi nghiệp báo đã đến, chẳng phải trong không trung, trong biển, trong hang núi, không có chỗ nào thoát khỏi được quả báo, chỉ có sức sám hối mới được diệt trừ”. Vì sao biết được? Vì như ông Thích Đề Hoàn Nhân khi thấy năm tướng suy hiện ra, trong lòng khiếp sợ chí thành qui y Tam Bảo, thì năm tướng xấu xa ấy liền tiêu diệt, lại còn thêm tuổi thọ. Những chuyện như thế trong kinh rất nhiều, không phải là một. Thế mới biết sự sám hối hay diệt trừ được tai hoạ.
Song kẻ phàm phu nếu không gặp bạn tốt dẫn đường, thời không có việc nào mà không làm, đến nỗi khi sắp chết, cảnh địa ngục gớm ghê hiện ra trước mắt, chính lúc ấy lại hối hận sợ hãi. Ôi! Ngày trước không tu điều lành để đến ngày cùng ăn năn sao kịp. Phước báo hay tai ương tự mình gieo trồng từ trước, nay cú thẳng lối mà vào địa ngục, một mình mình đi đến, để lăn vào vạc dầu sôi, thân tâm tan nát, tinh thần thống khổ. Tới lúc đó dầu muốn lạy hay sám hối một câu, cũng không dễ gì được nữa.
Vì thế tất cả mọi người chớ ỷ mình tuổi trẻ sức mạnh có tiền tài thế lực mà lười biếng giải đãi, tự ý buông lung. Một khi khổ chết đã đến thì không luận già, trẻ, nghèo, giàu, sang, hèn đều tiêu ma hết. Quỉ vô thường đến thình lình không cho ai biết trước. Mệnh người vô thường như giọt sương mai, một hơi thở ra tuy có đó, nhưng hơi hít vào không chắc gì còn được. Thế vì cớ chi mà không sám hối? Nếu sứ giả ngũ thiên hay quỉ La sát thoạt nhiên đi đến, dầu tuổi trẻ sức mạnh đến đâu cũng không thể tránh. Lúc ấy dẫu có nhà đẹp, lầu cao vẫn không ích gì đến người, xe tốt ngựa hay không đem theo được, vợ con quyến thuộc cũng không còn là người thân, những đồ thất trân quí giá cũng chỉ để cho người khác hưởng. Lấy đó mà nói thì quả báo ở đời đều giả dối, không chắc thật. Còn như ở cõi trời tuy vui thật nhưng rốt cuộc cũng sẽ tan nát. Khi sự sống hết thì vẫn phải đoạ lạc trong tam đồ. Vì thế Phật bảo ông Tu Đạt Đa: “Thầy ngươi là Uất Đầu Lam Phất lợi căn sáng suốt, đã hàng phục được phiền não, đến cõi trời phi phi tưởng rồi, mà khi mệnh chung còn phải đoạ vào đường súc sinh, làm con phi li huống chi người khác”. Thế mới biết hễ chưa lên tới Quả Thánh, thì còn bị luôn chuyển qua các đường ác. Nếu không cẩn thận, một mai thì lình thân chịu chỗ đó, thật đáng hối hận. Xem như ngày nay bi tội phải đến cửa công, đó là khổ nhỏ mà tâm tình đã sợ hãi, quyến thuộc đã khủng khiếp cầu cứu trăm bề. Đối với nỗi khổ trong địa ngục còn gấp trăm vạn ngàn lần hơn, không thể so sánh được.
Chúng con cùng nhau trải vô số kiếp, tội lỗi chồng chất như núi Tu Di, nghe như vậy làm sao cứ an nhiên không sợ hãi, không kinh khủng, để về sau mắc phải những nỗi khổ ấy, đáng đau đớn biết bao! Vì thế ngày nay, chúng con chí thành cầu xin sám hối.
Lại từ vô thỉ đến nay, chúng con…………………….có nhiều báo chướng nhưng nặng nhất chỉ có địa ngục a tỳ. Như trong kinh đã nói rõ, nay xin nói sơ về hình tướng của địa ngục a tỳ.
Chung quanh ngục có bảy lớp thành sắt, có bẩy lần lưới sắt giăng kín ở trên, phía dưới có bẩy tầng dao sắc, rậm như rừng và vô số ngọn lửa dữ luôn luôn thiêu đốt. Bề dài bề rộng của ngục này tính có tám muôn bốn ngàn do tuần tội nhân đầy trong ấy, nhưng vì nhân duyên của tội nghiệp nên không làm trở ngại, lửa phía trên hắt xuống, lửa ở dướt bốc lên, lan khắp bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Tội khổ trong ngục ấy như cá bi chiên trong chảo, dầu mỡ đều chảy ra. ở bốn cửa thành có bốn con chó đồng, thân hình dài rộng đến bốn nghìn do tuần, nanh dài, móng nhọn, mắt sáng như điện chớp. Lại có vô số giống chim mỏ sắt vỗ cánh bay lên mổ khoét thịt người có tội. Quỉ sứ đầu trâu hình như La Sát, có chín đuôi như đinh ba bằng sắt, lại có chín đầu, trên đầu có mười tám sừng, mỗi sừng có sáu mươi bốn mắt, từ mỗi con mắt tiết ra sức nóng như thiêu đốt tội nhân. Mỗi khi nóng giận chúng gào thét tiếng vang như sấm. Lại có vô số bánh xe dao, từ trên không trung bay xuống, xoáy vào đỉnh đầu tội nhân, rồi xoáy suốt xuống chân mà ra ngoài. Tội nhân đau đớn thấu xương tuỷ, nhức nhối tận tim gan, cứ như thế trải qua không biết bao nhiêu năm. Cầu sống không được, cầu chết không được. Những tội báo như thế ngày nay chúng con hổ thẹn cúi đầu cầu xin sám hối.
Kế đến chúng con xin sám hối những tội báo: Đầu, thân rơi rã trong địa ngục đao sơn, kiếm thụ bị thiêu nướng trong địa ngục vạc dầu, lò than: sám hối những tội lỗi bị thiêu đốt trong địa ngục, giường sắt, cột đồng; sám hối những tội báo bị đè nghiến mổ xẻ trong địa ngục xe dao, xe lửa, sám hối những tội báo trong địa ngục kéo lưỡi để trâu cày; sám hối những tội báo làm cho ngũ tạng cháy tiêu trong địa ngục, nuốt hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi, sám hối những tội báo sương thịt nát tan trong địa ngục, cột sắt, sám hối trong tội báo da, thịt, sương, tuỷ rơi lìa từng mảnh trong địa ngục cuốn dây sắt nóng, sám hối những tội lỗi bị bứt dứt ngạt thở trong địa ngục sông tro phẩn, sám hối những tội da dẻ lạnh, cóng nứt, da trong địa ngục nước mặn đóng giá băng, sám hối những tội báo tàn hại lẫn nhau trong địa ngục chó sói, chim sắt, chó săn, sám hối những tội báo đâm chém cấu xé nhau trong địa ngục đao binh móng vuốt, sám hối những tội báo bị rang nướng trong địa ngục hầm lửa, sám hối những tội báo bị hình hài tan nát trong địa ngục hai tảng đá ép lại, sám hối những tội báo bị dóc lột trong địa ngục bôn bề núi đá xô ép lại, sám hối những tội lỗi bị chém sẻ trong địa ngục, núi thịt u ám, sám hối những tội lỗi bị chặt đứt trong địa ngục cưa xẻ đóng đinh; sám hối những tội lỗi bị mổ cắt trong địa ngục gậy sắt treo ngược, sám hối những tội báo phiền oan trong địa ngục đốt nóng kêu gào, sám hối những tội báo chịu cảnh đêm dài mù mịt không bóng mặt trời mặt trăng và sao trong khoảng lớn nhỏ núi Thiết Vi, sám hối những tội lỗi trong địa ngục a ba ba, địa ngục a bà bà, địa ngục a tra tra, địa ngục A la la. Trong tất cả các địa ngục lạnh nóng như thế có phụ thêm tám muôn bốn ngàn địa ngục cách tử.
Những tội khổ trong đó bị chiên nấu đau đớn, bị lột da dóc thịt, chẻ xương đập tuỷ, rút ruột, bức phổi, nhiều nỗi khổ khác không thể nghe không thể nói. Nam mô Phật! Những người bây giờ đang bị đoạ vào  các chốn ấy hoặc là cha mẹ hay họ hàng của chúng con từ vô thỉ kiếp chúng con cùng họ, sau khi chết sẽ bị đoạ trong các địa ngục như thế.
Ngày nay chúng con rửa sạch lòng trần, cúi đầu hướng về mười phương Chư Phật, các bậc Đại Bồ Tát cầu xin sám hối, khiến cho tất cả tội báo kia đều tiêu diệt.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong địa ngục, chúng con phá được bức thành sắt chốn A tỳ làm thành cõi Tịnh Độ, không còn cái tên “ác đạo”, bao nhiêu thống khổ sạơ sệt trong các địa ngục đều chuyển thành những duyên vui sướng; núi dao rừng kiếm biến ra rừng báu; lò lửa vạc dầu hoá thành hoa sen; lính ngục đầu trâu chừa bỏ sự bạo ngược, khởi lòng Từ Bi không còn niệm ác. Và chúng sinh trong đường địa ngục thoát khỏi quả khổ, không gây thêm nhân ác khác, thụ hưởng sự yên vui như ở cõi Tam Thiền, đồng thời phát tâm cầu đạo vô thượng.
Sám hối và phát nguyện xong, xin hết lòng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Phật,
Nam mô Bản Sư Thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam mô giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Ca Sa Tràng Phật
Nam mô Sư Tử Hống Phật
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát.
Đảnh lễ chư Phật rồi, thứ lại sám hối.
Trước đã sám hối những tội báo trong địa ngục, nay xin sám hối những tội ác trong ba đường ác. Trong kinh Phật nói: “Con người vì nhiều ham muốn, nhiều tham cầu lợi dưỡng nên khổ não cũng nhiều”. Người biết đủ tuy nằm dưới đất mà vẫn lấy làm yên vui, người không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý. Song người đời thình lình có tai nạn nguy cấp, thì thường bỏ hết tài sản không kể nhiều ít. Thế mà không biết thân này khi lâm vào hố thẳm tam đồ, hễ một hơi thở không trở lại thì phải bị đoạ lạc. Thoảng như có người trí thức khuyên làm việc công đức để dự trữ pháp lành cho đời sau, thì lại cứ cố chấp keo bẩn không chịu làm theo lẽ phải. Những người như thế thật ngu hoặc biết bao! Vì sao? Trong kinh Phật nói:” Lúc sinh không đem lại một đồng nào, lúc chết cũng không cầm được một đồng nào đem đi”. Người đời phải khổ than góp chứa được tiền của, chỉ đèo thêm sự lo âu phiền muộn không ích gì cho mình, mà người khác hưởng hết. Không chút duyên lành, không một mảy công đức để nhờ cậy đến khi chết phải bị đoạ vào đường ác. Vì vậy ngày nay chúng con chí thành đem thân mệnh đem về ngôi Tam Bảo, cầu xin sám hối.
Kế đến chúng con xin sám hối những tội báo ngu tối trong loài súc sinh; sám hối những tội báo mang nặng kéo cày đền nợ cũ trong đường súc sinh; sám hối những tội báo không chân hai chân, bốn chân hay nhiều chân trong loài súc sinh; sám hối những tội báo trong lông, cánh, mai, vẩy, trong thân bị các giống trùng nhỏ cắn rỉa, ở các loài súc sinh có vô số tội báo như thế, ngày nay đều xin chí thành sám hối.
Chúng con lại xin sám hối những tội báo luôn luôn chịu sự đói khát, trải qua trăm ngàn vạn năm không nghe đến tên cơm nước trong loài ngã quỉ; sám hối những tội báo ăn uống máu mủ phẩn dơ trong loài ngã quỉ; sám hối những tội báo mỗi khi động thân thì tất cả chi tiết đều cháy trong loài ngã quỉ, sám hối những tội báo bụng lớn cổ nhỏ trong loài ngã quỉ. Trong loài ngã quỉ, có vô số tội báo như thế, ngày nay cúi đầu xin sám hối.
Chúng con lại xin sám hối những tội báo hay nịnh hót kiêu mạn trong loài tu la, quỉ thần; sám hối những tội báo gánh cát mang đá lấp sông trấn biển trong loài quỉ thần; sám hối những tội báo ăn uống máu thịt, chịu đủ mọi sự xấu xa trong loài quỉ thần La Sát, Cưu bàn trà. Trong loài quỉ thần có vô lượng vô biên tội báo như thế, ngày nay chúng con hướng về mười phương Chư Phật, đại địa Bồ Tát, cầu xin sám hối, khiến cho những tội báo ấy đều tiêu diệt.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường súc sinh, chúng con đời đời kiếp kiếp diệt hết tất cả ngu si, biết được nghiệp duyên của mình, trí tuệ sáng suốt, không làm thân trong các đường ác.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường ngã quỉ, chúng con đời đời kiếp kiếp lìa khổ xan lận, đói khát, thường được ăn những pháp vị cam lồ giải thoát.
Nguyện nhờ công đức sám hối những tội báo trong đường tu la quỉ thần, chúng con đời đời kiếp kiếp tính tình chất trực xa hẳn nhân tà mệnh, trừ các quả báo xấu xa, và làm được nhiều phúc lợi cho cả nhân thiên.
Chúng con..............................nguyện từ nay trở đi cho đến đạo tràng, không còn chịu những tội báo trong bốn đường ác, chỉ trừ lòng đại bi cứu độ chúng sinh, lấy sức thê nguyện ở chung trong ấy, không khi nào chán nản.
Chúng con...............................đã sám hối những tội báo trong ba đường ác, nay theo thứ lớp cầu xin sám hối những tội báo chốn nhân thiên.
Chúng con cùng nhau thọ bẩm thân Mệnh ở cõi Diêm phù này, tuy nói một trăm năm chớ có mấy ai sống trọn. Trong thời gian đó số người trẻ tuổi chết non không thể nào lường, những khổ não còn nung nấu bức bách thân hình, lo rầu sợ hãi không ngớt phút nào. Sở dĩ như thế, bởi căn lành rất ít nghiệp ác quá nhiều, đến nỗi trong đời hiện tại làm việc gì cũng không được vừa ý. Nên biết đó là dự báo của những nghiệp ác ở đời quá khứ còn lại. Bởi thế nên ngày nay, chúng con xin sám hối vô lượng dư báo ấy trong cõi nhân thiên từ vô thỉ cho đến thời hiện tại và vị lai; sám hối những tội báo tai ương túc trái, tàn tật trăm bệnh, sáu căn không đủ ở cõi người; sám hối những tội báo sinh vào nơi hoang dã xa cách mọi người, luôn luôn bị tà kiến, tám nạn, ba ác; sám hối những tội báo bị nhiều bệnh hoạn, gầy còm, chết yểu, chết oan, ở cõi người; sám hối những tội báo bà con quyến thuộc không đoàn tụ, ở cõi người; sám hối những tội báo bị khổ vì bạn bè tan nát ân ái chia lìa, ở cõi người, sám hối những tội báo oán cừu gặp gỡ, ưu sầu khiếp sợ, ở cõi người; sám hối những tội báo bị nạn lửa, trôm cướp đao binh nguy hiểm, kinh khủng khiếp nhược, ở cõi người; sám hối những tội báo bị nạn nước lửa, trộm cướp đao binh nguy hiểm, kinh khủng khiếp nhược, ở cõi người; sám hối những tội báo bị cô đọc khốn khổ, lưu lạc, bôn ba quên mất xứ sở, ở cõi người: Sám hối những tội lỗi bị tù ngục giam cầm, bị nhốt đứng trong ngục tối, bị đánh đập tra khảo ở cõi người; sám hối những tội báo bị miệng lưỡi công tư thêu dệt, vu hoạ ở cõi người; sám hối những tội báo bị bệnh tật liên miên liệt giường liêt chiếu không đứng dậy được ở cõi người; sám hối những tội báo bị các chứng ôn dịch về mùa Đông mùa Hạ, hay bị độc lệ thương hàn ở cõi người; sám hối những tội lỗi bị trúng gió độc, bị thũng, trướng, bị kết, ở cõi người; sám hối những tội lỗi bị các ác thần tìm dịp tiện tác hoạ ở cõi người; sám hối những tội báo bị các thứ ác điểu bay đến kêu lên trăm điều quái gở, gặp quỉ phi thi làm các yêu dị, ở cõi người; sám hối những tội báo bị các loài cầm thú dữ sài lang, hổ báo làm hại, ở cõi người, sám hối những tội báo tự lao mình xuống hố sâu hầm lửa, nhảy xuống sông hay gieo mình từ trên cao xuống, ở cõi người; sám hối những tội báo không có uy đức tiếng tăm,ở cõi người; sám hối những tội báo thiếu thốn, tiêu dùng ăn mặc không được vừa lòng, ở cõi người; sám hối những tội báo ra vào, đi lại hay làm việc gì cũng khó khăn hoặc bị người khác ngăn trở, ở cõi người. Những tai hoạ bất trắc, những bệnh truyền nhiễm, những ách nạn suy não trong đời hiện tại, vị lai, trong cõi nhân thiên, nhiều không thể kể xiết như thế, ngày nay chúng con chí thành hướng về mười phương chư phật, Tôn Pháp, Thánh chúng cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu diệt.
Trước đã sám hối tất cả phiền não chướng và nghiệp chướng của sáu căn, ba nghiệp, tất cả quả báo chướng trong sáu nẻo bốn loài, nay chúng con xin theo thứ lớp phát nguyện hồi hướng.
Chúng con......................................nguyện đem công đức sám hối ba món chướng kia, hồi hướng cho tất cả chúng sinh cũng đều cùng nhau sám hối; nguyện cùng tất cả chúng sinh trong đời hiện tại thân tâm được yên vui, ba tai tám nạn các việc chẳng lành đều tiêu trừ hết thảy, sự ăn mặc được dư dật đầy đủ, chính tín Tam Bảo; xả báo thân này, vãng sinh về cõi Cực Lạc, gần gũi đức Phật Di Đà, được thụ kí để qua đời sau được gặp phật Di Lặc, nghe hiểu chính Pháp, theo đó tu hành. Nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào, thường gặp các vị quốc vương, trùng hưng Tam Bảo, không bị sinh vào nhà ngoại đạo tà kiến. Chúng con lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ ở nơi nào, cũng do hoa sen hoá sinh, thuộc giòng giống cao quí, được yên ổn, vui sướng, món ăn, thức mặc tự nhiên có sẵn. Chúng con lại nguyên đời đời kiếp kiếp bất cứ ở chỗ nào, cũng có sẵn lòng nhân từ trung hiếu, đem tâm bình đẳng cứu giúp chúng sinh, không khởi niệm nghịch hại. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào, cũng thường được chư Phật hộ niệm, thường hàng phục được ma oán và các thứ ngoại đạo, được ở chung một chỗ với các bậc bồ tát, một lòng theo đạo Bồ Đề không khi nào đứt đoạn. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp bất cứ sinh ở chỗ nào cũng nêu tỏ Phật Pháp, tu theo giáo lý Đại Thừa, phân thân vô số để cứu độ chúng sinh, thẳng tiến đến đạo tràng (thành phật) không khi nào thoái chuyển.
Chư Phật Bồ Tát đã phát lời thề nguyện tu hành phúc trí, và hồi hướng, chúng con cũng xin phát nguyện tu tập phúc chí và hồi hướng như vậy.
Cõi hư không có thể cùng tận, cõi chúng sinh có thể cùng tận, nghiệp báo của chúng sinh có thể hết, phiền não của chúng sinh có thể diệt, nhưng sự tu hành hồi hướng của chúng con không bao giờ cùng tận.
Phát nguyện và hồi hướng xong, xin hết lòng kính lễ xong, xin hết lòng kính lễ Thường Trụ Tam Bảo.

Hết quyển hạ
Tội do tâm sinh do tâm diệt
Tâm đã diệt tội cũng không còn
Tội hết tâm không hai vẳng lặng
Như thế mới là chân sám hối
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát.

Phần Hồi Hướng

Tâm kinh bát nhã ba la mật đa

Khi ngài Quán Tự tại Bồ Tát, thực hành sâu xa pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.
Này ông Xá Lỵ Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc; Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.
Này ông Xá Lỵ Tử! Tướng không của mọi pháp, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt, cho nên trong Chân Không, không có sắc, không có Thụ, Tưởng, Hành, Thức; không có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, ý; không có Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; không có nhỡn. Giới cho đến không có ý thức giới; không có Vô minh cũng không có cái hết Vô minh; cho đến già, chết, cũng không có cái hết già, chết; không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc, vì không có chỗ chứng đắc.
Bồ Tát Y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, nên tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu kính niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả Vô Thượng Chính, Đẳng Chính Giác.
Cho nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh trú, là vô thượng trú. Là vô đẳng trú, trừ được hết thảy khổ, chân trực không hư.
Vì vậy nói ra bài chú Bát Nhã Ba La Mật Đa. Liền nói bài chú ấy rằng:” Yết Đế Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha.
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”.(3 lượt)

 

Văn tụng kinh sám hối hồi hướng

Đệ tử chúng con…………………..vì sức nghiệp ma, tâm thần rối loạn, căn tính mê mờ, bỗng nhiên lại nghĩ, thay đổi lung tung, giáo dở chất chồng, xem văn mờ ý, nhầm chữ sai câu. Trái với chính âm trong đục,nệ vào tà kiến giãi bày, hoặc vì việc đoạt mất trí tâm, chẳng để vào kinh, đương khi tụng niệm dậy bỏ dở câu cách quãng. Ngồi lâu trễ nải, nhân việc giận hờn, chốn nghiêm tịnh để vướng bụi nhơ, nơi kính cẩn hoặc làm cẩu thả. Thân, khẩu mặc dùng nhếch nhác, xiêm, y lễ mạo lôi thôi, cung chẳng như nghi, ngồi không đúng chỗ. Mở quấn rối ren, rớt rơi dơ nát hết thảy chẳng chuyên chẳng thành, thật là dáng thẹn đáng sợ.
Kính xin chư Phật Bồ Tát, trong cõi pháp giới hư không, hết thảy thần thánh hiện thần, thiên long, hộ, pháp, từ bi thương xót, sám rửa lỗi lầm, khiến cho công đức tụng kinh đều được chu viên thành tựu.
Đệ tử chúng con nguyện tâm hồi hướng, còn e hoặc khi dịch thuật lỗi nhầm, hoặc lúc giải chua thiếu sót, truyền thụ sai thù, âm thích lẫn lộn. Những lỗi so sánh đổi thay, những lầm cắt, in, viết, chép, dù thầy dù thợ, đều xin sám hối. Nhờ sức thần của chư Phật, khiến cho tội lỗi tiêu tan. Thường quay xe pháp, cứu vớt hàm linh. nguyện đem công đức trì chú tụng kinh, hồi hướng về hộ pháp, long thiên thánh chúng, thần núi, sông linh thiêng trong tam giới, vị chủ tể thủ hộ chốn già lam, cầu mong được hưởng phúc thiện bình an, trang nghiêm đạo quả vô thượng Bồ Đề, nguyện cho khắp cả pháp giới chúng sinh, cùng được vào bể Như Lai pháp tính...
(đảo mõ rồi tụng tiếp)

Kinh Lăng Nghiêm

(Chương Niệm Phật của Bồ Tát Thế Chí)
Đức Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, có năm mươi hai vị Bồ Tát đồng hàng với Ngài, liền từ toà ngồi đứng dậy, lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: con nhớ về hằng Hà sa kiếp xưa kia, có đức Phật ra đời, hiệu là Vô Lượng Quang, trong một kiếp mười hai đức Như Lai nối nhau ra đời. Đức Phật sau cùng hiệu Siêu Nhật Nguyệt Quang, đức Phật kia dạy con Pháp niệm phật Tam Muội.
Ví như con người: Một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. hai người như thế, dù có gặp nhau, cũng như không gặp, hoặc có thấy nhau cũng như không thấy. Hai người nhớ nhau, thời hai người nhớ in sâu, cứ như thế mãi, từ kiếp này qua kiếp khác, như bóng in hình, chẳng xa trái nhau. Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh, như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh mẹ nhớ ích gì? Con dù nhớ mẹ, như khi mẹ nhớ con, mẹ con trải qua nhiều kiếp, chẳng xa trái nhau.
Nếu tâm chúng sinh, nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau, quyết định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng phải nhờ phép phương tiện, mà tự mở ngộ tâm mình. Ví như người nhiễm mùi hương, mình có hơi hương, như thế gọi là Hương Quang Trang nghiêm. Nhân địa còn xưa, nhờ tâm niệm Phật, được vào pháp nhẫn Vô sinh. Nay ở cõi này, tiếp người niệm Phật về nơi cõi tịnh.
Đức Phật hỏi Pháp Viên Thông, con không hề lựa chọn, mà chỉ thu nhiếp sáu căn, nối liền tịnh niệm, được vào nơi chí định, đó là bậc nhất:
Thân Phật Di Đà vàng rực rỡ!
Tướng đẹp sáng ngời không gì sánh
Hào quang toả khắp năm Tu Di
Mắt biếc trong hơn bốn biển lớn
Quang trung hoá phật nhiều vô số
Hoá chúng Bồ tát cùng vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm đều nên ngôi Chính Giác
Nam mô Tây Phương Cực Lạc

Thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.(3 lượt)
Nam Mô A Di đà Phật (1 tràng hay ba tràng tuỳ ý)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (10 lượt)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (10 lượt)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (10 lượt)
(Toàn thể đều đứng dậy lễ, chủ sám đọc)
Nam mô Tận hư Không, biến Pháp giới, thập phương tam thế, nhất thiết thường trụ Tam Bảo.(3 lễ)
Nam Mô Sa Bà Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.(1 lễ)
Nam mô Phạm Võng Giáo Chủ Lưu Xá Na Phật.(1 lễ)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Giáo Chủ A Di Đà Phật.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Quán thế Âm Bồ Tát, biến pháp giới chư đại Bồ Tát(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Thế Chí Bồ Tát, biến pháp giới Chư Đại Bồ Tát. (1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, biến pháp giới chư đại Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, biến pháp giới chư Đại Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, thanh tịnh Đại Hải chúng, biến Pháp giới Chư chư Hiền Thánh Tăng.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát.(1 lễ)
Nhất tâm đỉnh lễ, Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát.(1 lễ)
Con nay khắp vì bốn ân, ba cõi pháp giới chúng sinh, nguyện xin ba chướng tiêu trừ, chí thành phát nguyện(1 lễ)
(Toàn thể đều quì chắp tay, chủ sám đọc)
Nguyện đem công đức trì chú, sám hối, tụng kinh, hồi hướng, chân linh...
Nguyện chư hương linh...................
Nhất chân tỏ ngộ
Lục dục tam không
Cõi nhân gian sinh tử xa lìa
Nơi cực lạc hoá sinh tự tại
Ao thất bảo thảnh thơi tắm mát
Đài cửu liên nhẹ gót tiêu diêu
Quán âm, thế chí, kết đồng hàng
Bồ Tát Thánh Tăng làm bạn lữ.
Thần thức hằng vui nơi cõi tịnh
Nghiệp duyên trần không vướng mảy may
Trên đài sen chín phẩm nở hoa
Chư Phật phóng hào quang thụ ký.
Nam Mô Tây Phương cực lạc thế giới, đại từ đại bi, tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.(3 lượt)
Nam Mô Liên Trì Hải hội, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.(1 lượt)
(Mọi người đều đọc phát nguyện)

Phát nguyện và hồi hướng

Chúng sinh bao nhiêu xin độ hết.
Phiền não bao nhiêu xin dứt hết.
Pháp môn bao nhiêu xin học hết.
Phật đạo cao siêu nguyện viên thành.
Công đức tụng kinh rất tuyệt vời!
Bao nhiêu thắng phục xin hồi hướng
Nguyện khắp chúng sinh trong bể khổ
Chóng được sinh về nước Cực Lạc
Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não
Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời
Nguyện bao tội chướng được tiêu trừ
Đời đời thường làm Bồ Tát đạo.
Nguyện sanh Tây phương cõi Phật đà
Chín phẩm đài sen là cha mẹ
Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sinh
Bất thoái Bồ Tát làm bạn hữu
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả.
Chúng con và chúng sinh
Đều trọn thành Phật đạo.
-o0o-

Tự qui y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo lớn, phát tâm vô thượng.
Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển.

Tự qui Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.

No comments:

Post a Comment